Tôi mới coi phim Little Buddha của Bertolucci xong. Thật ra tôi cứ nhớ lộn phim Kundun coi lúc hồi mới qua Thụy Sĩ là của Bertolucci nhưng thật ra phim này mới là của Bertolucci. Phim này có thể nói là xuống tay so với phim Vị hoàng đế cuối cùng, hai nhân vật ông bố bà mẹ xây dựng quá đơn giản, tự nhiên có mấy ông sư ở đâu ra qua nhà nói con ông bà là chuyển thân của thầy tụi tôi, vậy mà mặt vẫn trơ trơ ra, phản ứng kì cục. Tuyến truyện kia của Keanu Reeves đóng vai Tất Đạt Đa thì cũng chầm chậm, coi thấy giống kiểu cố tình làm cho giống mấy sách dạy giáo lý, nhưng quay đẹp hơn nhiều so với mấy phim cuộc đời Đức Phật này kia của Ấn Độ làm.
Thế nhưng xét các điểm trừ đó là xét ở khía cạnh điện ảnh, còn nếu xem từ khía cạnh một câu chuyện Phật giáo thì đúng là nó chầm chậm, bình tĩnh, không cần lên gân, nhẹ nhàng thoải mái. Rõ ràng là cố tình nhái kiểu kể chuyện của phim Phật. Và nói lại lần thứ hai: phim quay vẫn rất đẹp kiểu Bertolucci.
Tóm lại là dù xuống tay nhưng vẫn hay, và nhắc lại lần thứ ba là quay đẹp.
Có nhiều đoạn hay, nhất là đoạn thầy lạt ma Norbu ngồi thiền xong viên tịch, xong bóng thầy vẫn còn đâu đây, đọc Bát nhã tâm kinh bằng tiếng Anh và camera lia những thước phim rất đẹp. Các bạn có thể coi trên youtube có trích đoạn đó (thôi coi luôn ở đây đi, tôi cho vào đây để sau này tôi coi lại luôn cho tiện). Đoạn hay nhất là đoạn: vì không có gì để thành tựu, Bồ tát nương vào trí tuệ (bát nhã) tối thượng (ba la mật đa), tâm không còn sợ hãi, tâm không còn sợ hãi thì xa rời mộng tưởng điên đảo, đạt tới Niết bàn.
Bài hát cuối phim vẫn là nhạc của Ryuichi Sakamoto. Lần này là Bát nhã tâm kinh bằng tiếng Phạn phối lại theo kiểu thanh nhạc phương Tây (rất là Baroque luôn).
Kính mời các cụ.
Để tôi đi cop lyrics về cho anh chị đọc śāriputra: rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ (Xá lợi tử, sắc tức là không, không tức là sắc) rūpān na pṛthak śūnyatā śunyatāyā na pṛthag rūpaṃ (Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc) yad rūpaṃ sā śūnyatā; ya śūnyatā tad rūpaṃ (Cái gì sắc cũng đều là không, cái gì không cũng đều là sắc) tadyathā: gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā (Vậy hãy đọc chú: gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā)
Không biết sao nghe bài này tôi cứ nghĩ đến một bài khác, chắc nhạc Sakamoto có mấy chỗ giống. Nghĩ hoài vẫn không nhớ được bài khác kia tên là gì, chỉ nhớ giai điệu. Nghĩ thêm một lúc nữa, với sự trợ giúp của Soundhound thì Soundhound bảo là có thể bài này là bài Pavane chăng. A đúng rồi, Pavane, nhưng mà Soundhound bảo là Pavane của Fauré. Không phải, cũng từa tựa, tôi nghe chục nốt đầu là tôi đã biết rồi, pavane này cũng trong trí nhớ của tôi nhưng không phải pavane tôi đang cần tìm. Nhớ thêm một lúc nữa thì tôi nhớ ra đó là Pavane của Ravel. Tên đầy đủ là Điệu pavane cho một nàng công chúa đã qua đời, ôi giời ơi.
Mời quý anh quý chị nghe pavane do Seiji Ozawa chỉ huy, trên youtube có bản chuyển động nữa nhưng mà tiếng bé quá.
Tôi nói thật chứ vai Phật của Keanu Reeves trong phim này thì cũng tạm được thôi. Diễn viên hay nhất trong phim này là người đóng thầy lạt ma Norbu: ông Anh Nhược Thành (英若诚). Ông này từng đóng vai ông trưởng trại tù của Phổ Nghi trong phim Vị hoàng đế cuối cùng, sau bị cách mạng văn hóa đem ra đấu tố. Ông Anh là người Mãn Châu, bà nội lại còn thuộc tộc Ái Tân Giác La, vậy mà lên làm tới thứ trưởng bộ Văn hóa của TQ. Là cựu thứ trưởng mà không hiểu sao ông đóng được phim này, có nhắc tới sự kiện TQ xâm lược Tây Tạng.
Hôm nay ngồi trong lab tự nhiên radio trên Spotify chơi bài gì mình nghe quen quá, một hồi thì nhớ lại là bài Ombra mai fù hồi cuối tuần ở nhà nghe. Bài hát nằm trong một cái opera Serse không ai biết của Händel làm ở London. Bản thân cái bài hát, tuy không nhiều người biết, nhưng còn nổi hơn cái opera.
Bài hát là cảnh mở đầu của tuồng. Vua Xerxes ngồi trong vườn dưới tán cây tiêu huyền, hát lên ngân nga ca ngợi cây tiêu huyền.
Lời đầu là nhà vua nói về những chiếc lá mềm mại xinh đẹp của cây tiêu huyền yêu quý, cầu cho số mệnh cây được vẹn toàn, cầu cho sấm sét, chớp lòa, bão tố, gió mưa không xâm hại tới cây. Lời này hình như trong tuồng mới có, không bao giờ thấy hát hết.
Lời thứ hai là lời hát:
Ombra mai fu di vegetabile, cara ed amabile, soave più. Mãi không bao giờ bóng mát của một loài cây nào thân mến và đáng yêu hay ngọt ngào bằng (cây tiêu huyền của ta).
Có một câu thôi mà nhà vua ngồi hát đi hát lại. Thật là yêu cây yêu lá quá đi.
Bài này ngày xưa Händel viết cho giọng nam thiến. Về sau không còn ai hát giọng nam thiến nữa nên chuyển thành giọng phản nam cao. Bình thường mình thích Jarousky hát mà bài này nhìn ổng biểu cảm thấy ghê quá. Coi bản của Andreas Scholl thấy ổng bận complet, chải tóc đeo kính, đứng dạng chân như Ronaldo sút phạt, hát giọng countertenor cao ơi là cao, thấy thật là ngầu. Cái nốt đầu tiên chữ Ooooommmmm, ngân ra y như tiếng chuông. Giống như nhìn nên tán lá mát ơi là mát trên cao, thấy bầu trời lọt qua kẽ lá, ngân vọng xuống.
Đi mãi trên tuyết tôi tìm Một dấu chân em để lại Khi tay em nắm tay tôi Băng qua đồng xanh cỏ dại
Trong phim gió có đoạn nói về chuyến đi qua Đức thăm hãng Junkers của ông Jiro và ông bạn bán than. Đoạn này có một cảnh nói về việc Jiro khi đi dạo trong đêm mùa đông với ông bạn thì nghe tiếng nhạc phát ra từ một ngôi nhà bên đường. Bản nhạc đó là một đoạn của liên khúc Winterreise của Schubert. Mình nghĩ bài Winterreise tượng trưng cho cả một phân đoạn phim này. Winterreise là "hành trình mùa đông". Có thể gọi đoạn này là đoạn Hành trình mùa đông của Jiro. Ngay sau đoạn này là cảnh Jiro lại mơ thấy Caproni (cậu thích sống trong thế giới có kim tự tháp hay không có kim tự tháp?), và cảnh lập tức chuyển sang mùa xuân, chấm dứt hành trình mùa đông.
Mình không biết đoạn Winterreise trong phim hát là đoạn nào, vì mình không rành nhạc Schubert và tiếng Đức của mình thì trừ mấy câu vớ vẩn linh tinh tụi trong lab dạy thì mình chẳng biết gì thêm nhiều. Nhưng đại loại là bài này sặc mùi lãng mạn chủ nghĩa thế kỉ 19 của Schubert, kể về một anh có hẹn với người yêu trong mùa đông xong bị cô này gạt, xong anh buồn quá đi lang thang trong mùa đông để tìm người yêu. Có vậy thôi. Một khổ tượng trưng cho liên khúc này mình đã dịch ở đầu bài kìa, quay lại đọc đi.
Hành trình mùa đông của ông Jiro cũng chính là hành trình đi tìm tình yêu của ổng, tức là cái máy bay. Và ổng đã gặp tình yêu của ổng trong giấc mơ, chính trong trời tuyết. Tình yêu của ổng, lúc này chưa mang hình dạng chiếc Zero, đang lao từ trên trời xuống và bốc cháy. Còn mặt Jiro thì đù ra như kiểu không biết chuyện gì đang xảy ra.
Lúc này Jiro chưa gặp lại Naoko, và mặt ổng vẫn còn non và rất đù. Đoạn này liên hệ mật thiết với đoạn Caproni kim tự tháp sau đó, nói về cuộc đời sáng tạo và lời khuyên "mười năm đời sáng tạo của cậu, hãy đổ hết sức lực ra mà làm nhé". Tình yêu của Jiro lúc này chưa thành hình, nó mang hình dáng tượng trưng là cái máy bay giấy, xuất hiện khi Jiro với Caproni đứng trên cánh máy bay của Caproni. Máy bay giấy, nghe quen không, đó chính là cái mà vài cảnh sau đó, Jiro dùng để tán Naoko. Rõ ràng thêm một bằng chứng cho thấy Miyazaki ngấm ngầm muốn nói Naoko chính là cái máy bay của Jiro.
Tình yêu của ổng chết từ lúc ổng còn chưa gặp, từ lúc nó còn chưa có hình dạng cụ thể và ổng còn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Điềm báo quá. Sau này khi nó dần dần thành hình, cụ thể hóa thành hình dạng Naoko và chiếc Zero, thì lại càng nhiều điềm báo cho thấy cả hai tình yêu đều sắp lên đĩa. Naoko thì đóng vai nữ chính truyện Núi thần phiên bản Nhật còn cái Zero thì bay giữa trời hoa anh đào nở tung, như kiểu samurai viết thơ từ thế dưới tán anh đào đang rơi. Về sau đúng là khi mấy chiếc Zero chuẩn bị đi kamikaze, thiếu nhi ra chào tạm biệt còn vẫy hoa anh đào với tặng cành anh đào cho các chiến sĩ đem lên máy bay. Bi thảm quá.
Còn cái phim này thì mệt ghê, càng coi càng phát hiện ra tùm lum thứ.
___________________
Hãy nghe Ru con mùa đông bản cũ của Ái Vân cho đỡ mệt:
Đêm rồi mộng ảo chợt về nhà Bên song cửa Đang điểm trang Nhìn nhau không nói Chỉ ngàn lệ tuôn tràn Liệu mấy năm ròng đoạn trường ấy Đêm trăng tỏ Đồi thông non
Đoạn trên là phần đuôi của bài từ theo điệu Giang thành tử của Tô Thức. Bài có tựa nhỏ là Đêm 20 tháng Giêng ghi lại giấc mộng.
Bài này mình nghĩ là một trong những bài thơ tình cổ buồn nhất của Trung Quốc. Tô Thức viết về giấc mộng gặp lại người vợ chết trẻ của mình. Trong giấc mơ, trở về quê cũ, ông thấy mình đứng bên song cửa xưa. Bên kia song là vợ vẫn đang trang điểm như ngày nào. Bốn mắt nhìn nhau không nói nên lời chỉ có lệ chảy tràn xuống áo (bị nhiễm thập ngũ tòng quân chinh rồi nên có cụm này dùng hoài).
Bài từ còn lời 1, nhưng mình thích lời 2 hơn vì nó thảm hơn. Lời 1 mang tính chất kể lể âm dương đôi ngả.
Tranh Mai Trung Thứ lần trước xem bán đấu giá nhưng tiền kinh quá mua không nổi.
夜來幽夢忽還鄉
小軒窗
正梳妝
相顧無言
惟有淚千行
料得年年腸斷處
明月夜
短松崗
Dạ lai u mộng hốt hoàn hương
Tiểu hiên song
Chính sơ trang
Tương cố vô ngôn
Duy hữu lệ thiên hàng.
Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ
Minh nguyệt dạ
Đoản tùng cương
(bản thu cuối cùng của du Pré trước khi mất dần khả năng kéo cello rồi qua đời chính là cái bản nhạc này, bài nhạc nghe như u mộng của César Franck.)
Trailer gốc của bản Total War Tam quốc dùng 1 bài nhạc phủ cổ thời Hán làm nhạc nền: "Mười lăm tuổi đi tòng quân, Tám mươi tuổi được về quê". Hẳn bài này sẽ là nhạc chủ đề chính. Ở shogun 2, bài hát chính thức của game rất mang tính âm và đi ngược với tinh thần chung là rất dương. Bài Cánh chim thời gian của shogun 2 hòa trộn haiku lẫn Đường thi và thi ca Tây cổ điển. Lời bài này thì ý là của cô gái nói với 1 người tình (hay người cha/mẹ nói với người con) là lính ra trận trong một sáng mù sương, rằng bao nhiêu lá rụng khỏi cây cũng là bấy nhiêu ngày sẽ trôi qua, rằng người ở lại nằm dưới cội hoa hay ánh trăng nhưng lại tỉnh mộng sớm quá, thôi hãy về đây, thôi đừng khóc, sinh tử li biệt cũng đã thành phận rồi. Người chơi đùng một phát nhận ra ngay bài này đang kể tội ai.
Bài nhạc phủ dùng trong trailer Tam quốc vang lên rõ nhất lời hát đoạn cao trào Lã Bố đánh với Trương Phi và Quan Vân Trường: Thập ngũ tòng quân chinh, Bát thập thuỷ đắc quy. Dĩ nhiên đây không phải lời của 3 người trên hát, càng không phải của 3 ông ngồi ngựa đằng sau là Đổng Trác, Lưu Bị hay Tào Tháo. Đây là lời 1 người lính quèn (may mà) sống tới được 80 tuổi để về quê rồi thấy quê nhà hoang vu, thỏ sợ chạy vào chuồng chó, trĩ hoảng hơi người đập cánh bay. Người về quê ra bếp đốt lửa thổi cơm, ra vườn hái rau nấu canh, rồi ra cửa đông mà biết ngóng ai chỉ thấy lệ chảy tràn xuống áo.
Tinh thần phản chiến trong game chiến tranh được ẩn giấu như vậy.
Người em yêu giã từ em ra trận
Đến mảnh đất người ta đang đánh nhau
Này tim em đớn đau vô cùng tận
Dường chỉ em xót lại trên tinh cầu
Phút chia ly, anh hôn em từ biệt
Từ nụ hôn, hồn em ứ đầy môi
Mải ngóng tin, mà anh cứ biền biệt
Hoàng hôn kia đã tắt nắng bên trời
Đỉnh tháp cao, đây một mình em đợi
Anh chưa về, lòng cứ mãi chờ thôi.
Đôi chim cu vẫn còn gù trên mái
Tiếng kêu buồn và da diết khôn nguôi
Dưới tơ liễu, nước bên cầu chảy mãi
Chỉ có em ngồi khóc suốt bên trời
Này tim em như bông hoa nở rộ
Sáng óng lên dưới ánh bạc trăng trôi
Này thân em một mình trong tháp cổ
Anh chưa về, lòng cứ mãi chờ thôi.
Có dáng ai đang trèo lên đỉnh dốc
Phải anh không, người em mãi mong chờ
Chẳng phải anh, mà chỉ là tưởng tượng
Này tờ bồi, này ánh đèn lẻ loi
Ơi gió đêm, đến bên anh nói khẽ
Với em đây, anh hóa chiêm bao rồi
Anh là hoan lạc, anh là nhung nhớ
Bình minh kia đang rạng rỡ bên trời
Và em vẫn một mình trong tháp nhỏ
Anh chưa về, lòng cứ mãi chờ thôi.
Tranh 満月の紅葉にみみずく (Chim cú với lá đỏ dưới trăng tròn) của Hiroshige.
Làm sứ đi thăm tin tức xuân Lay thay cánh nhẹ mười phân Nội hoa táp táp vây đòi hỏi Doanh liễu khoan khoan kháo lữa lần Thục đế để thành trêu tức Phong vương đắp lũy khóc rân Chúa xuân dìu dặt dư ba tháng Mắng cầm ve mới đỗ quân
Bản này của Trần Trọng Dương phiên.
Bài này đúng là khá khó hiểu. Từ tựa đề đến các câu đầu rõ ràng là nói về đàn bướm. Đàn bướm làm sứ mùa xuân, lay thay (aka chớp chớp hoặc lay lay, chỉ bướm đập cánh) đôi cánh nhỏ. Hoa trong nội, liễu trong doanh nghiêng ngả theo đàn bướm.
Xong tới tích Thục đế đưa vào thì hơi siêu thực luôn. Chuyện Thục đế mất nước thì gắn với con đỗ quyên tức là chim quốc (ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên), nhưng không biết dính thế nào với con bướm.
Phong vương có chữ phong bộ trùng 蜂 là con ong. Phong vương là con ong chúa, thấy bướm tới thì cho đắp lũy, và kêu rân rân (cho giống con ong). Không lẽ Thục đế ở trên chỉ để đối với con ong chúa?
Chúa xuân (đi chơi) dìu dặt vài tháng, bỗng mắng cầm ve, nên cho quân đỗ lại. Mắng ở đây tức là âm cổ của văn 聞 là nghe. Từ điển của anh Dương chú và diễn giải rõ biến âm m–v này (tương tự mùi–vị, múa–vũ, mùa–vụ vân vân. CHTV ít đề cập vụ này). Đỗ quân mới đầu đọc loáng thoáng tưởng đỗ quyên vì ở trên có Thục đế, nhưng thật ra không phải, đọc kĩ lại thì nghĩ là "cho dừng quân lại".
______________________________
Dạo này mình vẫn tiếp tục nghe Violin concerto của Tchaikovsky. Trước có lần mình bảo bản của Perlman hay nhất và cho rằng bản của Shouji Sayaka không bằng. Giờ thì rút lại lời nói trước, sau khi nghe thêm mấy chục lần. Mình thấy bản của Shouji Sayaka bây giờ mới là hay nhất :P (dù mình hoàn toàn mù mịt về kỹ thuật).
Và mình vẫn tiếp tục nghe liên tục nhạc game Shogun 2 của Jeff van Dyck. Bài hành khúc Bất động minh vương quả là cực kì tương phản với cái tên.
______________________________
Ảnh trên: Tranh Tennyo (tức là Apsara) của Kiyohara Yukinobu.
Ảnh dưới: Tranh Tsubaki to uguisu (Hoa trà và chim chích) của Hiroshige.
Năm nay tui không chơi PES (tui chơi FIFA) nhưng mà PES2014 có cho cái bài Nessun dorma vô làm nhạc nền. Bài này không phải lần đầu tiên được gắn với đá banh, vì theo trên mạng người ta nói hồi World Cup Italia '90, đài BBC bên Anh quốc đã từng dùng làm nhạc nền trước mỗi trận đấu rồi.
Nessun dorma nghĩa là Không ai được ngủ (Nessun là dạng nói tắt không có nguyên âm cuối của từ nessuno (không ai) trong tiếng Ý, dorma là thể mệnh lệnh ngôi ba số ít của dormire (ngủ)). Nếu mà bài này phát mùa World Cup ở VN, chắc thiệt là hợp, nhưng có vấn đề là không nhiều người biết tiếng Ý, mà chắc cũng chẳng bao nhiêu người hiểu được cái thâm ý sâu xa đó hehe. Thật ra, đây là một aria của Puccini nằm trong tuồng opera Turandot. Đây là bài do chàng hoàng tử Calaf hát đoạn đầu cảnh cuối của vở. Tuồng này bối cảnh ở Peking, thời Mông Cổ, kể về công chúa Turandot trái tính trái nết, tàn nhẫn lạnh lùng này kia, nhưng được cái xinh, nên có nhiều người tới cầu hôn. Ai tới cầu hôn sẽ phải trả lời 3 câu đố, nếu trả lời được thì sẽ được cưới, không thì sẽ bị chặt đầu. Chàng hoàng tử Calaf này do yêu cô công chúa (mới vừa dòm thấy yêu luôn, đúng là tuồng cải lương) nên quyết định cầu hôn luôn và trả lời đúng hết 3 câu đố. Nhưng không chúa lật kèo và không chịu cưới. Calaf mới thỏa hiệp bằng cách cho công chúa 1 đêm để đoán được tên của mình (tên của Calaf) là gì. Nếu công chúa đoán được thì Calaf sẽ chịu chết, còn không thì công chúa phải cưới Calaf.
Công chúa vì vậy mới bắt tất cả mọi người trong cung cùng thức với mình (Không ai được ngủ) để cùng tìm tên của Calaf. Nếu tới bình minh không tìm ra được tên Calaf, tất cả người hầu sẽ bị xử tử.
Tui sẽ dịch bài hát ở dưới. Tui dịch (có kèm bình luận) từ cả nguyên gốc tiếng Ý và bản dịch tiếng Anh (dĩ nhiên là tui không biết tiếng Ý, nhưng ngồi tra từ điển và ngữ pháp trên google không phải là chuyện quá khó).
Nessun dorma! Nessun dorma!
Không ai được ngủ! Không ai được ngủ!
Tu pure, o Principessa, nella tua fredda stanza, guardi le stelle che tremano d'amore, e di speranza!
Cả nàng cũng thế, Công Chúa điện hạ, trong phòng riêng lạnh lẽo của nàng, ngắm nhìn tinh tú trên trời run lên vì tình yêu, và cả vì hy vọng!
Ma il mio mistero è chiuso in me; il nome mio nessun saprà! No, No! Sulla tua bocca lo dirò quando la luce splenderà!
Nhưng còn bí mật của ta thì được ta cất giấu; tên ta sẽ không ai được biết! Không, không! (Chỉ tới) khi ánh ngày chiếu rạng, trên môi nàng, ta sẽ nói ra (tên ta).
Ed il mio bacio scioglierà il silenzio che ti fa mia!
Và nụ hôn của ta sẽ làm tan biến cái tịch tĩnh đó, khiến nàng trở thành của ta!
Chorus: Il nome suo nessun saprà, E noi dovrem, ahimè, morir, morir!
Dàn đồng ca những người hầu phía sau: Tên của chàng sẽ không ai biết, Và chúng ta sẽ phải, than ôi, sẽ phải chết thôi!
Dilegua, o notte! Tramontate, stelle! Tramontate, stelle! All'alba vincerò! Vincerò! Vincerò!
Đây là câu cuối, hoành tráng nhứt: Tan biến đi, hỡi đêm tối! Lặn đi, lặn đi, này sao trời kia! Tới bình minh, ta sẽ chiến thắng! Ta sẽ chiến thắng! Ta sẽ chiến thắng!
Bỏ qua nội dung nhảm nhí của vở tuồng cũng như bi kịch hôn nhân diễn ra sau đó (cưới người muốn giết mình về xong làm gì? - mặc dù khúc cuối công chúa Turandot có vẻ giả bộ yêu hoàng tử), thì chúng ta cùng thấy được tài năng viết aria rất hay của Puccini và sự khôn lanh của Konami khi cho bài này vô làm nhạc nền PES2014. Chơi game đá banh mà cứ ta sẽ chiến thắng, ta sẽ chiến thắng, chẳng phải hào hứng lắm ru?
Mời mọi người cùng nghe Pavarotti hát (bản trong PES2014 chắc chắn không phải giọng Pavarotti, nghe là biết luôn):
Giày đỏ - Akai kutsu Sáng tác: lời thơ Ujō Noguchi, nhạc Nagayo Motōri. Trình bày: Yuki Saori và Yasuda Sachiko 赤い靴 はいてた 女の子 Akai kutsu haiteta onna no ko Cô bé mang giày đỏ 異人さんに つれられて 行っちゃった Ijin-san ni tsurerarete ittyatta được một người ngoại quốc đưa đi 横浜の 埠頭から 船に乗って Yokohama no hatoba kara funeninotte Trên con tàu từ cảng Yokohama 異人さんに つれられて 行っちゃった Ijin-san ni tsurerarete ittyatta cô bé được một người ngoại quốc đưa đi 今では 青い目に なっちゃって Imade wa aoi me ni nattyatte Giờ đây mắt cô chắc đã xanh biếc 異人さんの お国に いるんだろう Ijin-san no okuni ni irundarou (khi) sống trên đất nước của người ngoại quốc 赤い靴 見るたび 考える Akai kutsu mirutabi kangaeru Mỗi lần (mỗi độ) trông thấy giày đỏ, tôi lại nghĩ về em 異人さんに 逢(あ)うたび 考える Ijin-san ni autabi kangaeru Mỗi độ gặp người ngoại quốc là tôi lại nghĩ về cô bé mang giày đỏ. ___________________________ Có hai truyện ngắn Đô rê mon nói về nỗi hoài niệm gây ấn tượng đối với tôi là truyện "Cô bé mang giày đỏ" và truyện "Cô gái giống hoa bách hợp". Truyện hoa bách hợp thì là câu chuyện về bố của Nôbita, nói về việc ký ức là một lời nói xạo hoa mỹ, truyện này không liên quan ở đây, ngứa miệng nói ra chơi thôi, hehe. Truyện "Cô bé mang giày đỏ" là ký ức của Nôbita về cô bạn tuổi thơ mang đôi giày đỏ, rồi một ngày cô bé đột ngột cùng gia đình đi sang Mỹ định cư, Nôbita không còn gặp lại nữa. Tình hình có vẻ giống trong lời bài hát. Bản của Yuki Saori và Yasuda Sachiko hát ở trên là một bản rất giàu cảm xúc. Mỗi một khổ thơ đều có hai nhân vật: cô bé đi giày đỏ và người ngoại quốc được gọi bằng Ijin-san. Ijin (dị-nhân = người lạ, người khác; dĩ nhiên ở đây không nói tới mấy vụ X-men em của ngày hôm qua) là từ cổ trong tiếng Nhật từ khoảng cuối thời Mạc phủ tới thời Minh Trị dùng để chỉ người ngoại quốc. Trong bản của Yuki Saori và Yasuda Sachiko này, mỗi khổ thơ, tôi nghe được hai dòng cảm xúc đi song song nhau. Dòng thứ nhất ở câu đầu, khi nói về cô bé mang giày đỏ - là một cảm xúc nuối tiếc và nhớ thương. Dòng thứ hai ở câu sau, đặc biệt nhấn mạnh ở ba chữ I-jin-san đầu mỗi câu, dường mang ý trách móc cái ông I-jin-san tại sao lại mang cô bé giày đỏ đi mất. Bài hát này được sáng tác năm 1922, trước khi thế chiến 2 nổ ra.
Bài hát tôi nghe từ phim Breaking Bad mùa thứ 3, cảnh ở nhà của Gale Boetticher. Đó là một cảnh quay rất xuất sắc, chỉ trong hơn 1 phút, quay vòng quanh nhà của Gale mà người xem có thể hiểu thêm bao nhiêu điều về nhân vật nhà hóa học uyên bác mà tội nghiệp này.
Bài hát này hát bằng tiếng Milan, là một phương ngữ của tiếng Ý. Tiếng Ý có rất nhiều phương ngữ, nhiều phương ngữ không đơn thuần chỉ là tiếng địa phương mà nó còn gần như là một ngôn ngữ Romance khác. Nhiều khi 2 người nói 2 phương ngữ khác nhau không hiểu được nhau, kiểu như tiếng Ý và tiếng Pháp vậy.
Crapa Pelada nghĩa là "Ông Hói" trong tiếng Milan. Tortellini là một loại pasta có nhân, quấn thành hình tròn.
Lời: dịch lại (thứ cấp) từ bản dịch tiếng Anh của Daniele Usardi
Thưa các ông, giờ tôi xin kể Một câu chuyện khiến tôi não nề thất vọng Bảy tháng nay, tôi ngày nào cũng thấy tóc mình rụng Nay tôi hói trụi, chán chường, buồn bã Tôi chẳng biết phải làm sao.
Hãy lắng nghe lời anh ấy nói này Ôi anh chàng sầu khổ tội nghiệp Thôi đừng kêu ca nữa làm chi Tới đây hát cùng chúng tôi bài này.
Ông Hói (Crapa Pelada) làm ra một đống tortellini mà không cho mấy thằng em một mảy may, oh-oh-oh-oh. Tới lượt mấy thằng em đi làm trứng omelet không thèm chừa Đầu Hói tí nào. Oh-oh-oh-oh.
(lặp lại)
Ông Hói (Crapa Pelada) làm ra một đống tortellini mà không cho thằng em một mảy may, oh-oh-oh-oh. Crapa pelà, Crapa pelà, Crapa pelà, Crapa pelà, Crapa pelà. Badabaddà badabbadà badabba babbarara pirulirulirulirulì Crapa pelà, Crapa pelà, Crapa pelà, Crapa pelà, Crapa pelà. Paaaaaaa pararappappa pappa paraparapà.
Và bài hát này làm anh vơi đi
Muộn sầu trĩu nặng tim anh, muộn sầu khiến anh thở dài
Có khi nào sau này tôi sẽ mọc lại tóc chăng?
Cứ thử đi thử lại mọi cách xem!
Tôi đã thử mọi thuốc thang người ta kháo nhau!
Nào là phải uống quinine này, nhưng tóc tôi vẫn chẳng mọc.
Thôi đi nào bạn, đừng u sầu nữa!
Lại còn bôi dầu bulbomicillina, không thì bôi petrolina, tôi thử hết rồi, nhưng vẫn hói.
Vì sao vậy? Tôi biết đâu.
Ai mà biết được vì sao?
Vì sao? Vì sao? Tôi không biết luôn.
Parapappa parapappa tarattatà parapà parapappa
parrappappà parappa pararara pam.
Anh hát đấy à?
Crapa pelada, Crapa pelada,Crapà Crapà Crapà Crapà. Ooooooooooooooooooooooooooooooh Bidibadi bidibadi bidiba bidiba bidibà bidibà bidibà bidibà parappappà parappa pappa pappa pappappà Ông Hói làm ra một đống tortellini mà không cho thằng em một mảy may, oh-oh-oh-oh. Ông Hói này, Đội tóc giả vào đi Anh sẽ hết hói ngay!
Tôi tự nhiên tìm được bài quốc ca chính thức của Đế quốc Mãn Thanh là bài "Củng Kim Âu", được Tuyên Thống đế Phổ Nghi phê chuẩn, nhưng vài ngày sau là khởi nghĩa Vũ Xương cùng với Cách mạng Tân Hợi nổ ra, giải tán Đế quốc Mãn Thanh.
Tôi gọi Đế quốc Mãn Thanh ở đây là chỉ cả nước Trung Hoa khi bị người Mãn Châu cai trị. Đế quốc Mãn Thanh phân biệt với Đế quốc Mãn Châu sau này được Đế quốc Nhật Bản bảo hộ, lãnh thổ gồm phần đất phía Đông Bắc giáp Triều Tiên, Liên Xô và Mông Cổ.
____________________
Tôi tìm bài "Đăng đàn cung" quốc ca của triều Nguyễn và cả Đế quốc Việt Nam sau này (cũng do Đế quốc Nhật Bản bảo kê, cho vô khối thịnh vượng chung Đại Đông Á luôn), nhưng tìm nát mạng cũng không thấy bản nào có lời của ông Nguyễn Phúc Ưng Thiều soạn để đón Hoàng đế Bảo Đại.
____________________
Nhân tiện tôi đăng lên luôn bản Kimi ga yo (Quân chi đại - Triều đại của Người) quốc ca nước Nhật. Đây là video quốc ca hay và đẹp nhất tôi từng được xem.
Tôi tìm thấy clip giới thiệu về bài Tây Hồ hoài cổ của Nguyễn Công Trứ do ca nương Nguyễn Kiều Anh hát. Nhân tiện chép về để sau này dễ tìm.
Tôi thích bốn câu: Mà cỏ hoa man mác dấu thương đài Để khách rượu làng thơ ngơ ngẩn Hương tiêu Nam quốc mỹ nhân tận Oán nhập Đông phong phương thảo đa. Dấu thương đài là dấu rêu xanh. Thương (滄) là xanh, Đài (苔) là rêu. Còn hai câu chữ Hán ở dưới, theo Bách độ Bách khoa (Baidu Baike) của TQ (http://baike.baidu.com/view/621509.htm?fromTaglist) thì là trong bài thơ Kinh Dạng đế hành cung, của Lưu Thương đời Đường,nghĩa là:
Hương tàn mỹ nhân Nam quốc hết Giận vào gió Đông nhiều cỏ thơm.
Nhân tiện chép nguyên bài thơ Đường kia ra (bản chép là chữ giản thể theo trang Baidu của TQ), vì tôi thấy cũng không quá khó hiểu.
Thử địa tằng kinh thúy liễn qua, Phù vân lưu thủy cánh như hà? Hương tiêu Nam quốc mỹ nhân tận Oán nhập Đông phong phương thảo đa. Tàn liễu cung tiền không lộ diệp Tịch dương xuyên thượng hạo yên ba Hành nhân diêu khởi Quảng Lăng tứ Cổ độ nguyệt minh vấn trạo ca.
Dịch: Tựa đề: Qua hành cung của Dạng đế Đất này từng thấy thúy liễn (xe vua, green chariot) qua Mây trôi nước chảy rốt cuộc như thế nào? Hương tàn mỹ nhân Nam quốc hết Giận vào gió Đông cỏ thơm nhiều. Liễu tàn trước cung không một lá ướt sương Tịch dương trên sông mênh mông khói sóng. Người đi thức dậy nhớ Quảng Lăng Đò cũ trăng sáng nghe bài hát chèo thuyền. Cuối cùng, xin kết thúc bằng 4 câu của Nguyễn Công Trứ trong bài ca trù: Bóng kỳ đài giăng mặt nước như in, Tàn thảo thụ lum xum toà cổ sát. Chiếc cô vụ, mảnh lạc hà bát ngát Hỏi năm nao vũ quán điếu đài.
Cổ sát là cái chùa cũ. Sát là từ Hán mượn từ tiếng Phạn, theo từ điển Thiều Chửu là cái cột trước cửa cái chùa để đánh dấu "đây là nhà chùa". Cô vụ (hay cô phụ): con cò lẻ. Lạc hà: ráng chiều. Để ý tiếng Việt của Nguyễn Công Trứ rất hay: "chiếc cò lẻ" và "mảnh ráng chiều". Vũ quán: quán múa, điếu đài: đài câu.
Akatonbo nghĩa là con chuồn chuồn màu đỏ (phiên âm Hán Việt cho màu mè là xích tinh linh). Tiếng Việt Nam sẽ gọi là con chuồn chuồn ớt, giống như con chó màu đen là con chó mực, con ngựa màu đen là con ngựa ô, cháo màu trắng là cháo hoa vậy.
Đây là tên một bài dân ca Nhật mà bạn Thủy giới thiệu.
cập nhật: Phiên bản thiếu nhi tui đăng hồi xưa đã bị xóa nên tui đăng lại phiên bản thanh niên cute dễ thương này. Bonus thêm phiên bản tiếng Anh ở dưới.
夕やけ小やけの 赤とんぼ
負われて見たのは いつの日か
山の畑の 桑の実を
小篭に摘んだは まぼろしか
十五で姐やは 嫁に行き
お里のたよりも 絶えはてた
夕やけ小やけの 赤とんぼ
とまっているよ 竿の先
Và do vốn Hán tự của mình vẫn chưa đủ để đọc hết mớ đó nên mình đọc luôn bản dịch của ai đó trên mạng.
Chú chuồn chuồn đỏ trong ráng chiều mà hôm nào đó tôi đã thấy khi được cõng trên lưng Trên cánh đồng năm xưa tiếng trẻ hái dâu Hái đầy một giỏ mộng mơ Tôi nhớ chị tôi tuổi 15 đi lấy chồng Mãi ngóng trông tin tức quê nhà Chú chuồn chuồn đỏ trong ráng chiều Đậu mãi trên ngọn sào năm xưa...
Lời ca thật mộc mạc và nghe dễ chịu. Và đặc biệt là nghe gần gũi với dân ca nước mình.
Ở đây có bản tiếng Việt của nhạc sỹ Nguyễn Vĩnh Tiến: http://soundcloud.com/nguyenvinhtien/canhchuonchuondo-nguyenvinhtien
Nói tới liên tưởng giữa sách và nhạc, đột nhiên tôi bỗng muốn viết rất nhiều. Những liên hệ này thường không thường xuyên lắm, và thật ra, cũng tùy trường hợp, nó tùy thuộc nhiều vào cảm hứng và cảm xúc của tôi hơn là lí trí. Vì muốn viết nhiều nên hẳn bài này tôi sẽ không chỉ nói về 1 quyển sách và 1 bài nhạc.
1. Cuốn "Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới" của ông Cây Mùa Xuân, Nhã Nam, NXB Hội Nhà Văn, 2009.
Bạn nào đọc cuốn này rồi thì sẽ biết bài Danny Boy được nhắc tới ở đoạn cuối, là bài hát mà nhân vật ở Chốn tận cùng thế giới nhớ ra và dùng cây accordion để chơi (nhân vật ở Xứ sở diệu kỳ tàn bạo thì lại ngồi trong xe hơi và nghe nhạc Bob Dylan). Trong truyện, nhân vật nghe bản Danny Boy của Bing Crosby hát. Còn tôi thì lại thích bản của Celtic Woman (đọc là keo-tíc) hát ở lâu đài Slane, Ireland năm 2006.
Sau nhờ wiki tôi mới biết nội dung của bài Danny Boy là lời người cha từ biệt con trai của mình, đó là một bản nhạc buồn của dân Ireland, sắc dân có cái ngôn ngữ kỳ cục sống trên quần đảo Anh và lưu lạc khắp Bắc Mỹ. Người con trai trong bài nhạc hoặc có lẽ lên đường ra trận, hoặc có lẽ lên thuyền dong buồm đi lưu lạc chưa biết ngày về.
Ôi Danny con trai, tiếng kèn túi, tiếng kèn túi đang vẫy gọi Từ thung lũng qua thung lũng, và tràn xuống sườn đồi Mùa hè đi qua, hoa cũng đang tàn úa Chính con phải lên đường, còn cha chỉ biết chờ đợi thôi. Nhưng hãy về khi mùa hè ngập trên cánh đồng Hay khi thung lũng lặng im ngập trong tuyết trắng Cha sẽ đợi ở đây, dưới trời nắng hoặc dưới tán cây Ôi Danny con trai, Danny con, cha yêu con vô ngần. Và lỡ khi con về, hoa đã héo úa hết Và lỡ cha đã nằm xuống, như điều tất yếu xảy ra Hãy đến và tìm nơi cha yên nghỉ Và quỳ xuống và nói một tiếng "Ave". Và cha sẽ nghe, dù tiếng con nói có nhẹ Và nơi cha nằm sẽ ấm và êm dịu hơn Và con sẽ quỳ xuống và nói con yêu cha biết mấy Và cha sẽ yên nghỉ, chờ tới khi chúng ta lại gặp nhau.
Tôi nghe bài này suốt năm 11, năm 12 và cũng thỉnh thoảng nghe lại khi xa nhà. Bài "Danny Boy" và bài "Bring him home" trong nhạc kịch "Những người khốn khổ" của Schönberg và Boublil là 2 bài khiến tôi nhớ bố tôi.
2. "Gối cỏ" hay "Gối đầu lên cỏ" của Soseki, Phương Nam Corp., NXB Hội Nhà Văn, 2012.
Cuốn này tôi vẫn đang đọc. Thực ra có một đoạn ở phần đầu Sōseki viết về tiếng chim chiền chiện trong núi khiến tôi nhớ tới bản "Chiền chiện bay lên" của Vaughan Williams.
Khi nghe từ "chiền chiện", tôi nhớ ngay tới một đoạn văn nhỏ được học hồi tiểu học.
Theo với tiếng chim bay lên, từ không trung vọng xuống một tiếng hót trong sáng diệu kì, giọng ríu ran đổ hồi, âm điệu hài hòa đến tinh tế.Gịng hót vừa đượm vẻ hồn nhiên, vừa thơ thới thanh thản (…) Chim gieo niềm yêu đời vô tư cho những người lam lũ trên mặt đất. Lúc ấy trên cánh đồng,vẫn người nào việc ấy. Người làm cỏ vẫn làm cỏ, người xới xáo vẫn xới xáo, người cày cuốc vẫn cày cuốc (…) Nhưng tiếng chim hồn hậu đang nhập lặng lẽ vào tâm hồn họ. (...) Chiền chiện đã bay lên và cất tiếng hót.
(Ngô Văn Phú)
Vaughan Williams viết bản nhạc trong lúc nhìn đoàn thuyền quân Anh vượt biển Manche (hay English Channel) ra trận trong thế chiến thứ nhất. Đó thực sự là một nhãn ảnh buồn.
Tôi thích bản "Chiền chiện bay lên" của Janine Jansen kéo violin. Thực ra, tôi không biết nhiều bản phối của bài này.
3. Yotsuba&! 4, truyện "Yotsuba & Ve cuối mùa", TVM Comics, NXB Thông tấn, 2008.
Tập này là tập Yotsuba phát hiện ra con Tsukutsuku boshi là con ve chứ không phải nàng tiên mùa hè. Đó là một truyện dễ thương.
Tsukutsuku boshi (ツクツクボーシ) là tên tiếng Nhật của loại ve kêu vào cuối mùa hè. Tôi nghĩ nó kêu giống như tên của nó, tsư-kư-tsư-kư-bô-shi. Khi nghĩ tới cuối hè, tôi lại nghĩ tới cuối tháng Tám, nhưng hôm nay tôi không nghĩ tới cái đó nữa mà sực nhớ tới bản nhạc của Yann Tiersen trong phim Amélie, bản Comptine d'un autre été: L'après midi (Giai điệu của một mùa hè khác: buổi chiều).
4. Tôi định viết thêm bài nữa, vì có hứng, đó là bài Back in time của Pitbull, nhưng tôi chưa kịp nghĩ cuốn sách nào làm tôi liên tưởng tới bài dubstep rất phong cách này.
Kim tịch hà tịch hề? Khiên chu trung lưu.
Kim nhật hà nhật hề? Đắc dữ vương tử đồng chu!
Mông tu bị hảo hề, bất hiềm cấu sỉ.
Tâm kỉ phiền nhi bất tuyệt hề, đắc tri vương tử.
Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi, tâm thuyết quân hề quân bất tri!
Chiều hôm nay là chiều gì vậy!
Em chèo thuyền nhỏ bơi giữa dòng
Ngày hôm nay là ngày gì vậy!
Em được cùng thuyền với vương tử chàng!
Vương tử thích em chăng?
Em không nghĩ gì khác.
Em ngây ngô khờ dại
Chẳng ngờ lại gặp được chàng!
Trên núi có cây, trên cây có cành!
Mà lòng em mến chàng, chàng lại chẳng hay.
(Việt Nhân Ca – Dịch lời: Ngọc Diện Hồ, nguồn: http://blog.daobachlien.com/2006/11/viet-nhan-ca/)
"Cháu như mặt trời, như một ngọn gió êm và như một buổi sáng tươi mát. Một bông hoa trắng vừa nở rộ trong tim cháu, phủ trọn toàn bộ cơ thể và tâm hồn cháu hương ngát mùa xuân."
Paustovsky đã để cho Grieg nói những lời như thế với cô bé Dagni 18 tuổi trong trí tưởng tượng của mình, khi ông viết nên bản nhạc dành cho riêng cô trong truyện ngắn "Lẵng quả thông".
_____________________
Nghe nhạc Grieg tôi cảm thấy núi, thấy rừng, thấy cây cỏ, thiên nhiên, thấy mặt trời, và đặc biệt, tôi thấy được cái không khí lạnh ngắt, tươi mát của trời đất nơi ông ở, nhà soạn nhạc người viết nên những tác phẩm nhằm "xây nên những ngôi nhà cho dân tôi ở". Như lần tôi nghe "Morning mood" (Tâm trạng buổi sáng).
Mỗi lần nghe Grieg là một lần bất ngờ. Bất ngờ lần này là "Khúc ca nàng Solveig" trong tổ khúc Peer Gynt.
Có lẽ đông qua, rồi xuân cũng sẽ qua, Và cả hè cũng trôi, không chừng một năm trọn Nhưng anh rồi cũng sẽ về, điều đó em biết chắc Một khi em đã hứa, em vẫn sẽ chờ đợi mà Cầu thượng đế cho anh sức mạnh, dù anh có đi tận phương nào Cầu thượng đế cho anh vui sướng, khi anh đến đứng dưới chân người Em vẫn sẽ chờ đợi anh đến đây lần nữa Và anh yêu, nếu anh đang đợi em trên cao kia, chúng ta rồi sẽ gặp lại nhau.
____________________
Ngày trước cô Lê Dung cũng đã từng hát bản dịch lời Việt của ca khúc này.
_____________________
"Cháu là hạnh phúc. Cháu là ánh lấp lánh của bình minh". Paustovsky
Nói thật, sau khi xem The tree of life (Cây đời) của Terrence Malick, được Cành Cọ Vàng ở Cannes 2011, tui không hiểu mấy. Còn mệt nữa. Nhưng từ đó mới nghiệm kĩ thêm được cái lẽ, khi xem phim, thưởng tranh hay đọc sách, đừng tự hỏi mình rằng mình có hiểu không, mình có thực sự hiểu hay không. Cái xu hướng hiện giờ của giới văn nghệ sĩ là viết (vẽ, quay,...) sao cho khán giả khó hiểu nhất có thế, với thủ pháp đa nghĩa hóa, mù mờ hóa, biểu tượng hóa, siêu thực hóa và nhiều thứ xyz hóa khác mà các bạn trẻ trên mạng (hiểu rộng biết nhiều) dùng một thuật ngữ rất chung chung hóa là "tỏ ra nguy hiểm".
Chính từ việc tồn tại nhiều tác phẩm nghệ thuật bây giờ khó hiểu như vậy, phải chăng nên đặt ra một cách tiếp cận nghệ thuật khác: tự hỏi rằng mình có học được gì không, có trải nghiệm được cảm giác hay tri thức nào không. Đối với tôi, khi xem Cây đời, thì câu trả lời là có. Mặc dầu cái việc nhận ra rằng mình đang xem hồi kí của ông đạo diễn khiến tui phần nào không khoái cho lắm, nhưng mà nhạc và phần hình ảnh thực sự làm tui mê tít.
Nghe những nốt nhạc mở đầu từ giao hưởng Má Vlast (Tổ quốc tôi) của Smetana khiến tui sửng sốt. Sáng nay vừa nói chuyện với Cường Quốc về Smetana và Dvorak, về Má Vlast thì chiều nay, thiệt là bất ngờ, lại được nghe trong Cây đời. Vậy thôi, bất ngờ làm nên sự mê tít đầu tiên.
Tiếp theo, bản làm tui mê nhứt chính là bản Lacrimosa trong Requiem for My friend (Bản cầu hồn cho bạn của tôi) của Zbigniew Preisner. Requiem là thể loại nhạc chơi trong thánh lễ cầu hồn trong Công giáo. Lacrimosa trong tiếng Latin bắt nguồn từ Lacrima là giọt nước mắt, Lacrimosa là việc khóc, danh từ giống cái, Lacrimosa là một chương trong thể loại Requiem, từ Mozart, Belioz, Verdi tới nhiều nhà soạn nhạc khác đều có Lacrimosa trong Requiem của mình. Lacrimosa của Preisner theo đúng truyền thống, hát những ca từ Latin theo đúng bài ca trong lễ cầu hồn, nhưng chữ Lacrimosa được lặp đi lặp lại, cho tới tận cao trào. Thực sự nếu đứng trong một lễ cầu hồn, nghe đi nghe lại câu "Khóc đí! Khóc đi!" dộng vào tai như vậy, hẳn tui sẽ khóc thật, nhưng ngồi trong rạp chiếu phim, lúc đó lại chẳng hiểu Lacrimosa là gì, thậm chí còn không biết cái từ mà cái bà đang hát đọc như thế nào, thì tui không thể khóc được, nhưng mà âm nhạc và cái từ lặp đi lặp lại đó, cùng với hình ảnh rộng làm tui rất choáng ngợp. Chỉ một điều tui hơi băn khoăn, tại sao Lacrimosa lại là nhạc nền cho đoạn phim nói về sự hình thành vũ trụ? Nhạc nền cho cảnh thiên thạch rơi xuống trái đất, tiêu diệt khủng long thì còn dễ hiểu, chứ nhạc nền trên hình ảnh các tinh vân, những lò luyện sao, nơi tạo ra các nguyên tố nặng cho vũ trụ thì quả là khó nhằn. Chúng ta nhìn vào, như lời sách Job trích ở đầu phim, nhìn vào thời khắc Người tạo ra Trái đất, "khi những ngôi sao mai hòa ca, và tất cả con của Chúa Trời cùng hét lên trong niềm vui sướng", chúng ta khóc gì ở đây? Khóc trong niềm vui sướng? Hay khóc trong nỗi luyến tiếc, tự nghiệm lại câu hỏi mà Chúa trời đã hỏi ông Job, "Ngươi đã ở đâu lúc ta tạo ra Trái đất?".
Bản Lacrimosa và hình ảnh trong The Tree of Life (tuy nhiên hình nền đằng sau không theo thứ tự trong phim, người up đoạn phim này lên youtube đã chỉnh lại một tí để tránh bị dính bản quyền này nọ). Xem tham khảo.
Chuyện tui thấy khó hiểu nhất trong những cảnh phim khó hiểu, đầy tính trừu tượng của Malick đó là cảnh 2 con khủng long bên bờ suối. Nói ra vậy nghe chừng có vẻ thơ mộng đối với bạn nào chưa xem phim, nhưng mà thiệt ra cảnh này hổng có gì hết, một con khủng long đang nằm, một con khác bỗng dưng đâu ra chạy lại, đạp lên đầu con này, ngó ngó, chừng 30 giây, rồi bỏ chạy đi. Tui thiết nghĩ hồi kí của ông đạo diễn nầy phải chăng dính dáng gì tới khủng long hay trong một phút nhất thời, quay qua nói với thằng Nguyên ngồi bên cạnh, chắc lát nữa người ta vô xin lỗi vì chiếu lộn phim Công viên kỷ Jura. Hay là phải chăng ông đạo diễn, cựu triết gia đang chơi trò siêu thực? Tui hổng biết được. Đoạn này vậy mà cũng tới một phút mấy.
Nội dung phim thì thôi, tui không nói lại, vì mấy bạn nào tò mò thì tốt nhất nên coi phim, mặc dù không hiểu, nhưng cũng sẽ ít nhất biết được phim này kể cái chuyện gì, đại loại là chuyện một gia đình, có thằng con, ở với ba với má, xung đột, này kia, sau này ông con già, nhớ lại hồi nhỏ. Tui kể vậy thôi, báo trước là tui đã tầm thường hóa nội dung bộ phim đi rồi đó, mấy bạn tò mò hơn nữa thì nên lên Tuổi Trẻ đọc bài review của Phan Xinê hay lên www.phanxineblog.com đọc.
Siêu thực trong phim lên tới đỉnh điểm ở đoạn cuối, khi ông kép chánh, sau khi nhớ lại no nê, được ông đạo diễn cho bước ra bãi biển trắng phau, gặp lại chính mình hồi nhỏ, gặp lại ba, lại má, lại hai đứa em, rồi nhiều thước phim tâm linh khác diễn ra. Tui chợt thoáng nghĩ đến cảnh kết thúc, ông này bước ra giữa thành phố đầy nhà chọc trời, gặp lại con khủng long đã (vô cớ?) xuất hiện ở đoạn đầu, rồi hết phim; nhưng thiệt may, hổng có cái cảnh nhảm nhí đó.
Phim kết thúc (theo như tui nhớ, vì lúc đó mệt rồi, siêu thực nhiều quá cũng mệt) bằng cảnh một cánh đồng hoa hướng dương vàng rực, rồi nhè nhẹ chuyển qua cảnh một ngôi nhà gỗ, nằm trên cánh đồng hoa poppy như trong tranh Monet ấy. Rồi từ từ đen thui.
Trong phim, khi Jack, đứa con, được sinh ra, có một cảnh quay rất đẹp: người cha (Brad Pitt) đã cuối xuống chụm hai tay đỡ lấy bàn chân con mình, hệt như đang vun một cái cây. Rồi người cha đã trồng một cái cây trước sân nhà, người mẹ đã nói, "Con sẽ trưởng thành nhanh hơn cái cây này cao lớn".
Cuộc đời một chàng trai, sinh ra trong tình thương, lớn lên trong tình thương, nhưng rồi dần đánh mất sự ngây thơ vì sự khắc nghiệt của người cha, thương yêu con nhưng muốn con thành một người đàn ông mạnh mẽ: "hứa với cha là con đừng giống cha", chàng trai hỏi mẹ, "Làm sao con có lại được sự ngây thơ như hai đứa em", dồn nén mình trong phức cảm Oedipus, trong sự thù ghét người cha ở tuổi dậy thì, chứng kiến nỗi đau khổ của mẹ trước nỗi đau mất đi người em thứ hai, mắc kẹt trong những lời mặc cả với một đấng tối cao vô hình, Người đã ở đâu, chúng con là gì với Người, Người có đang nhìn con không, sao Người lại để một thằng bé chết, rồi từ từ nhận ra mình trở nên giống cha quá.
Vì chưng mọi lý thuyết đều là màu xám, quỷ sứ đã nói vậy, hãy nhìn vào Cây đời bằng con mắt thuần khiết, cảm nhận bằng hình ảnh và âm nhạc, dõi theo câu chuyện, để thấy rằng, chỉ có một điều mãi mãi xanh tươi.
Có vẻ như mùa xem phim của tôi đến sớm hơn dự kiến, bắt đầu từ lúc tôi vẫn còn đang chuẩn bị thi đại học. Khi không đi học thêm, tôi ở nhà hầu như chỉ làm một trong ba việc: đọc sách, xem phim và học bài.
Đọc sách là chuyện tôi làm thường nhật. Xem phim ở đây có nghĩa là ngôi dán mắt vào tivi hoặc laptop xem một bộ phim, không tính xem hoạt hình hay ba cái phim hài trên Disney.
Tôi đi xem Hanna tuần vừa rồi với 2 đứa bạn cũ, Đình Nguyên và Hà, gần một năm rồi không gặp.
_____________________
Hanna là một phim thú vị. Tôi đi xem Hanna là vì có Cate Blanchett và Eric Bana, cũng để xem cái bạn Saoirse Ronan (nhân tiện, tôi không biết đọc tên bạn này thế nào cả, wiki phiên âm là [ˈsˠiːɾˠʃə] mà tôi thì không rành phiên âm IPA tiếng Irish, thấy nó còn bảo đọc là seer-shə) diễn ra sao, sau khi xem Atonement không mấy ấn tượng và The Lovely bones thì mới xem có 10 phút. Sau khi thấy fb anh Hoài ghi bạn này lạnh lùng như Natalie Portman hồi xưa thì tôi lại càng thôi thúc phải đi xem.
Hanna có âm nhạc hay, tôi ấn tượng nhất với phim này ở mảng âm nhạc. Chemical Brothers làm phần nhạc khiến tôi thực sự có cảm giác giải trí khi xem phim. Đoạn Hanna đào thoát khỏi căn cứ CIA, âm nhạc kết hợp với những góc quay nhanh, ánh sáng chớp tắt tạo nên một không khí nhanh, hồi hộp, nhưng cũng tạo cho tôi thấy một sự tự tin và một cảm giác chắc mẻm là thế nào em này cũng thoát được thành công. Đó là bản Escape Wavefold trong soundtrack.
Một bài khác cũng khiến tôi ấn tượng, đó là bản Container Park, với phần giai điệu đều đều, xuyên suốt cả bộ phim. Chắc chắn với tôi, bản nhạc làm nên ấn tượng cả một bộ phim Hanna sẽ là giai điệu của Container Park, mỗi lần nghe lại, tôi sẽ nhận ra, "Đây đích thị là nhạc Hanna!". Quên, nói đến nhạc ấn tượng, tôi cũng phải kể luôn bản nhạc theme music cuối phim nữa.
Còn bản nhạc tôi nhớ mãi, không thể nào quên được đó là The Devil is in The Details, giai điệu rất ư là catchy gắn liền với tên sát thủ Isaacs (Tom Hollander). Isaacs là vai diễn có thể nói gây thích thú nhất cho khán giả, tên sát thủ "lưỡng tính" này lúc thì mặc quần đùi bó sát tông xuyệc tông với áo thun trắng, lúc thì chơi nguyên bộ đồ thể thao trùm kín người vàng khè, miệng cứ cười cười, đi lại ngông nghênh, lúc nào cùng huýt sáo giai điệu The Devil is in The Details trong vũ trường nhảy thoát y của hắn. Tôi nghe đi nghe lại bài này với cùng một niềm vui, thuần khiết, huýt sáo nữa. Giai điệu vui tươi, đọc những comment trên youtube cũng thấy rất vui:
Điều tôi khoái nhất hôm nay đó là cuối cùng sau gần một tiếng google tôi cũng tìm ra được tên bản nhạc cổ điển mà Knepfler bật cho Hanna nghe ở Ngôi nhà của Wilhelm Grimm, bản này không có trong đĩa Original Soundtrack. Giai điệu nghe rất quen thuộc, tôi nhận ra ngay lập tức là nhạc trong phim Mickey hay Donald gì đó của Disney, tưởng google một phát sẽ ra ngay nhưng bước vào thực hành mới thấy khó khăn. Tôi phải ngồi vắt óc ra nhớ xem đó chính xác là bộ phim gì, youtube để nghe thử, rồi tra cứu nhạc trong đó là bài gì, cuối cùng cũng tìm ra đó là bản In the Hall of the Mountain King trong tổ khúc giao hưởng Peer Gynt của Grieg, bộ phim lồng nhạc bản này vào là Donald's Halloween Scare chiếu trong House of Villans. Coi như cũng là một chiến công google.
Đó là về phần nhạc. Về phần nội dung (chú ý, ai muốn xem phim thì đừng đọc phần này, spoiler bắt đầu), phải nói tôi xem phim này một phần nữa cũng để xem nó khác Léon, the Professional (bộ phim lần đầu tiên tạo nên tên tuổi Natalie Portman)ra sao (chắc chắn nhiều người khác đã từng xem Léon rồi cũng sẽ có suy nghĩ như tôi). Cả hai bộ phim đều kể hai câu chuyện về hai cô bé sát thủ, ở hoàn cảnh khác nhau, tính nết khác nhau, mục đích khác nhau. Léon của Luc Besson là một bộ phim về tình yêu, còn Hanna của Joe Wright, ngược lại, là một bộ phim về sự thiếu vắng tình yêu. Cô bé Mathilda trong Léon muốn trở thành sát thủ để trả thù cho đứa em trai (cả gia đình cô bé bị một băng xã hội đen giết, nhưng em chỉ thương mỗi đứa em trai thôi). Còn Hanna từ trước khi sinh ra đã được định sẵn số mệnh của mình sẽ là một chiến binh hạng nhất (thay đổi DNA, giảm xúc cảm, sự sợ hãi, tăng sức mạnh cơ bắp, ...). Nếu như Mathilda mới 13 tuổi mà hành sự y hệt người trưởng thành, lại còn có cả tình cảm với Léon thì Hanna 16 tuổi nhưng ngây ngô hoàn toàn không biết gì về cuộc đời ngoài những kiến thức cha dạy từ cuốn bách khoa, lại lạnh lùng như một cái máy, đến khi phát hiện ra Erik (Eric Bana) người nuôi nấng, bảo bọc, huấn luyện mình suốt 16 năm trời không phải cha ruột mình, lại che dấu mình một bí mật khủng khiếp, trong khi tôi chờ đợi một sự thông cảm, một cái ôm chẳng hạn, thì bộ phim lại cứ lạnh lùng trôi đi.
Nói chơi một chút, tôi cũng phát hiện ra một điều, trong khi Eric Bana huấn luyện Saoirse Ronan làm sát thủ, dạy đủ các ngón nghề, đồ chơi, nhưng thiếu một món sát thủ nào cũng xài, đó là bắn súng nhắm (sniper ấy), khác xa với khi Natalie Portman khi được Jean Reno đào tạo được dạy bắn súng nhắm kỹ càng. Trong phim, cũng chẳng bao giờ Hanna đụng tới cây súng nhắm, chủ yếu dùng tay không, ít khi đụng tới cả súng lục và dao. Có lẽ đây chỉ là một ý nhấn mạnh về bản năng sát thủ bẩm sinh trong DNA của Hanna mà thôi.
Tôi vẫn đang suy nghĩ về sự liên quan giữa truyện cổ của anh em Grimm đối với câu chuyện về Hanna. Anh em nhà Grimm làm gì trong bộ phim này? Hanna không phải hoàn toàn vô cảm, khi nghe kể chuyện về Laika, em cũng muốn cha mình thay đổi cái kết, đừng đọc cho em nghe cái kết là Laika bị mặc định là sẽ hy sinh trên quỹ đạo. Trách Hanna được chăng khi em cũng chỉ là một sát thủ ngây thơ, một chiến binh bẩm sinh, sinh ra đã bị mặc định là phải như thế. Ai từng đọc truyện cổ do hai anh em học giả Grimm sưu tầm chắc hẳn sẽ thấy phong vị khác hẳn với truyện cổ sáng tác của Andersen. Truyện cổ Grimm không hoàn toàn nhân văn như Cô bé bán diêm hay Chú lính chì dũng cảm của Andersen, nó u ám, bí hiểm, tuy đã được hai anh em Grimm "hiền hóa" để thích hợp hơn với trẻ em, nhưng nó vẫn toát lên cái vẻ gì đó tăm tối. Sao lại có chuyện cha mẹ mang con vào rừng bỏ mặc cho thú dữ ăn thịt như trong Hansel và Gretel, rồi cảnh Hansel và Gretel giết mụ phù thủy bằng cách nhốt mụ vào lò, chẳng phải độc ác quá sao. Hay là đọc Rumpelstilskin xong, truyện tên người lùn giúp cô gái quay được sợi rơm vàng để rồi trở thành hoàng hậu với điều kiện phải cho hắn đứa con đầu lòng, sau khi cô sinh đứa con đầu lòng, hắn tới đòi, cô lấy hết tài sản ra để đưa thay đứa con nhưng hắn không chịu, cuối cùng hai người thỏa thuận là trong 3 ngày, cô phải tìm ra tên của hắn thì hắn sẽ bỏ qua lời hứa năm xưa, thật vậy, đọc trong truyện đó, tôi không biết phải thương ai bây giờ, tên người lùn bị chơi xỏ hay là người mẹ thất hứa vì thương con...
Ôi, dám từ phim Hanna, tôi lại đâm ra khoái truyện cổ Grimm nữa rồi, thể nào cũng sẽ ngồi đọc lại.
Nói chung, Hanna được nhiều nhà phê bình, báo chí này nọ ở phương Tây ví như một món quà tặng cho anh em nhà Grimm, vì chưng Hanna thực sự là một câu chuyện cổ tích u ám thời hiện đại.
Tôi chợt nghĩ, tại sao đã làm chiến binh, làm sát thủ, sao không can thiệp sinh học để tạo ra một sát thủ con trai luôn, mắc mớ gì phải ra một cô gái, nam giới thì chắc chắn sức mạnh cơ bắp sẽ tốt hơn rồi. Rồi tôi tự trả lời mình, có thế mới làm được phim, chuyện một đứa con trai được nuôi dạy để rồi trở thành sát thủ, ai mà thèm xem. Cũng có khi nếu làm một bộ phim như vậy, phim đó sẽ không chỉ thiếu vắng tình yêu và cảm xúc mà phải nói là hoàn toàn vô cảm, tên sát thủ đó sẽ y như một cỗ máy giết người vậy. Achilles thể hiện trong Troy và cả Illad là một chiến thần, nhưng cũng là một con người, cũng chết, cũng yêu Brissey, một con robot dọn rác như WALL-E dù sao khi khoa học phát triển đến một mức nào đó cũng có thể yêu EVE; nhưng một cái máy giết người thì hoàn toàn khác.
Hanna là một phim không nhiều ý nghĩa, nhưng gợi nhiều suy nghĩ, và trên hết là một phim giải trí, với âm nhạc tuyệt vời. Tôi hy vọng sẽ được nghe lại nhạc của Hanna vào Oscar năm sau.