Trong phim Gió, lần cuối cùng ông Jiro gặp Naoko là trước khi ra sân bay để cho bay thử mẫu prototype bay được đầu tiên của chiếc Zero. Trong phim, lúc đó là mùa xuân. Miyazaki cho vẽ rất nhiều hoa anh đào, nhưng lồng ghép rất khéo, mãi mình mới nhận ra được.
Lúc Naoko trốn từ trên núi trở về thì là cuối mùa đông. Lúc làm đám cưới thì đã có anh đào đầu mùa bay lả tả trong gió. Lúc Jiro về nhà gặp vợ lần cuối, tức là cảnh Naoko nói: "Nó nhất định sẽ bay mà. Anh Jiro, thương anh nhiều", là anh đào đã nở rộ cả cây. Lúc chiếc Zero đầu tiên bay lên trời, anh đào đã ở tràn hai bên bờ sông.
Naoko gắn liền với cái máy bay của Jiro. Ông Jiro yêu vợ ổng hơn hay yêu cái máy bay của ổng hơn? Hay là não ổng tự liên hệ hai đối tượng này lại rồi yêu hai cái cùng lúc. Lúc hai người gặp nhau khi đã lớn, ông Jiro chơi máy bay giấy với Naoko, có khi lúc này não ổng đã tự tạo liên kết liên hệ giữa người ổng yêu với cái máy bay.
Ở đoạn cuối, Miyazaki đưa ra một biểu tượng mới: hoa anh đào, để gắn liền cả hai đối tượng: Naoko và máy bay lại. Hoa anh đào tượng trưng cho cái đẹp chóng tàn, cho nỗi u buồn man mác về cái đẹp vô thường, về niềm vui và hạnh phúc vô thường. Nói cách khác thì hoa anh đào ý nói rằng Naoko sắp chết rồi, và cái Zero cũng sắp chết. Ở cảnh trước khi về nhà, ông Jiro nói chuyện với ông bạn chuyên than thở của mình. Ông bạn bán than nói về cái máy bay ném bom của ổng thiết kế ("Tụi mình đâu phải dân bán vũ khí, tụi mình chỉ muốn làm ra máy bay đẹp thôi"). Miyazaki cho vẽ cảnh một phi đội máy bay ném bom đi rải bom ở Trung Quốc bị không lực Trung Hoa Dân Quốc (coi kĩ sẽ thấy có hình bạch nhật thanh thiên trên máy bay tiêm kích) bắn vào bình xăng và nổ tan tành. Cảnh đầu tiên chiếc Zero bay ban đầu ngỡ trái ngược với cảnh nguyên phi đội bị ăn hành trước đó, nhưng lại được trộn lẫn với cảnh Naoko ra đi, và như đã nói, được gắn kết chặt chẽ với hoa anh đào. Sau niềm vui là ngay lập tức tới cảnh ông Jiro đi ra một nghĩa địa máy bay. Trong phim, Naoko không có mộ, chỉ có hàng hàng xác những chiếc Zero mang cờ thái dương nằm chết trong lửa đạn.
Đúng là Naoko chính là cái máy bay của Jiro. Chiện thật buồn. Hay đúng hơn Naoko chính là cái máy bay của Miyazaki.
__________________
Sách Mitsubishi A6M Zero của Osprey viết về vụ thử prototype đầu tiên của chiếc Zero như sau. Ghi ra đây để thấy phim của Miyazaki tuy bịa về ông Jiro và vợ ổng nhưng theo sát thực tế lịch sử về cái máy bay Zero tình yêu đích thực của Miyazaki đến mức nào.
"Mẫu prototype bay được đầu tiên đã được gỡ ra và vận chuyển đến sân bay Kakamigahara bằng xe bò (y hệt trong phim). Sau khi được lắp ghép lại, chiếc máy bay được xét duyệt và kiểm tra sơ bộ lần cuối. Chuyến bay đầu tiên của prototype Zero diễn ra vào ngày 1/4 năm 1940 (chính là giữa mùa xuân sang có hoa anh đào). Thời tiết vào ngày bay thử đầu tiên rất thuận lợi, có gió nhẹ. Sân bay Kakamigahara, nằm ở thành phố Gifu, do Không lực Đế quốc Nhật Bản quản lí, nên chuyến bay thử phải chờ đến khi quân đội tập luyện xong mới được diễn ra. Lúc này, chiếc máy bay được kéo ra và chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến bay thử.
"Phi công chính cho chuyến bay thử là Shima Katsumo [...] Vào lúc 17h30, chiếc A6M1 cất cánh. Phi công thực hiện một loạt các bài kiểm tra tốc độ thấp. Shima Katsumo và Aratani Harumi tường trình lại rằng máy bay A6M1 có cách điều khiển tương tự chiếc A5M, nhưng cả hai phi công đều cảm nhận được rung động rất lớn khi cho máy bay tăng độ cao, và khi động cơ ở trạng thái nghỉ. [...]"
Sau chuyến bay thử đầu, chiếc A6M1 Zero đã được chỉnh sửa lại nhiều lần, cho bay thử suốt một tháng ròng. Rồi mẫu prototype số 2 được đưa ra. Khi bay thử mẫu A6M2, một phi công đã thiệt mạng. Lúc cho bay mẫu thứ 2, ông Jiro thật ngoài đời không có mặt, mà lúc đó đang ở Mitsubishi tại Nagoya. Tiếp tục sau nhiều chỉnh sửa tới prototype 12, cuối tháng 7 năm 1940, thì Không lực Đế quốc mới chấp nhận chiếc A6M, và đặt tên là máy bay Zero.
Tên chiếc Zero là A6M Type 00, rồi gắn kèm số model, như A6M2a chẳng hạn. Ý nghĩa mỗi chữ và số như sau:
- A: dùng để gọi máy bay tiêm kích (chiến đấu cơ) đặt trên mẫu hạm (tiếng Nhật ghi chữ Hán là hạm thượng chiến đấu cơ).
- 6: thế hệ máy bay thứ 6 của Không lực Đế quốc.
- M: Mitsubishi
- Type 00: tiếng Nhật ghi là "linh thức". Linh = 0, thức = type. Đặt theo năm của lịch cũ là năm 2600 (tức năm 1940).
___________________
Tựa đề là thơ Nguyễn Trãi.
Trang
Mây và sóng
Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu tầm phào. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu tầm phào. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018
Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013
Cơ mà đằng trước, cơ mà đằng sau
Dạo 7, 8 năm gần đây tôi thấy người ta phát triển cái lối nói dùng chữ cơ mà thay cho chữ nhưng mà. Cái lối này xuất hiện đủ chỗ từ truyện ngắn của thầy Nhật Chiêu cho tới lên trên báo mạng, rồi lan ra cả mấy cái status facebook. Tôi luôn cảm thấy cái cách dùng này có chi không đúng đắn, nên không bao giờ dùng cả. Ở đây tôi sẽ thử phân tích chút xem sao.
Chữ cơ mà vốn được dùng tương tự chữ kia mà. Khi đó nó nằm ở cuối câu. Người ta có thể bảo rằng cụm này mang hàm ý nhấn mạnh điều vừa được nói tới.
Tôi ngồi nghiệm một lúc thì thấy ngoài cách lý giải lớt phớt hời hợt trên, chính xác mà nói, cụm này mang hàm ý trả lời cho câu hỏi tự đặt ra "Vì sao tôi nói cái ý vừa nói?"
Khái quát lên sẽ như vầy:
Khi chế biến nó lại tương đương nghĩa với nhưng mà, người ta vứt chữ cơ mà lên đầu câu hoặc nhét vào giữa hai vế, và xài y chang nhưng mà. Tôi lấy vài ví dụ:
Tôi không biết gốc gác của sự phát triển lối nói này. Có thể nó là một phương ngữ của một vùng nào đó, đột ngột phát triển thành một lối nói thông dụng được các bạn trẻ (và vài bạn già) dùng. Có thể bất chợt nó nảy ra từ một cộng đồng, một cá nhân nào đó, rồi nhiều người khác nhắm mắt nói theo. Tôi không và không muốn phản đối tiến trình phát triển của ngôn ngữ. Nhưng tôi thấy chúng ta nên có một cái nhìn phê phán hơn, để ý hơn trong lời nói của mình. Chúng ta có thể tôn vinh những thứ sáng tạo, nhưng đừng a dua và làm theo những cách nói sai của một vài cộng đồng nào đó.
Chữ cơ mà vốn được dùng tương tự chữ kia mà. Khi đó nó nằm ở cuối câu. Người ta có thể bảo rằng cụm này mang hàm ý nhấn mạnh điều vừa được nói tới.
Ví dụ: - Con không ăn bánh mì nữa đâu. Con vừa ăn cơm rồi cơ (kia) mà.
Tôi ngồi nghiệm một lúc thì thấy ngoài cách lý giải lớt phớt hời hợt trên, chính xác mà nói, cụm này mang hàm ý trả lời cho câu hỏi tự đặt ra "Vì sao tôi nói cái ý vừa nói?"
Lấy cái ví dụ trên, lời phát biểu trên có thể hiểu là mang hàm ý như sau: Con không ăn bánh mì nữa đâu, vì sao con nói như vậy, đó là vì con vừa ăn cơm rồi.
Lấy thêm ví dụ số hai: - Trời hôm nay đẹp nhỉ! Tối qua còn mới mưa cơ mà.
Câu này mang hàm ý: Trời hôm nay đẹp nhỉ! Vì sao tôi phải thốt lên như vậy, vì tối qua còn mới mưa, thế mà hôm nay đã đẹp thế này rồi.
Lấy ví dụ số ba nữa cho tăng độ tin cậy: - Ê, bỏ cái ví đó xuống! Của tao cơ mà!
Lại như cách phân tích cũ, câu này hàm ý: Ê, bỏ cái ví đó xuống. Vì sao tao phải hét lên như vậy, vì cái ví đó của tao [không phải của mày].
Khái quát lên sẽ như vầy:
[Phát biểu A]. [Phát biểu B] cơ mà.
= Tôi nói A. Vì sao tôi lại nói A, vì B.Đấy, cách dùng cơ mà tôi vốn biết là như thế.
Khi chế biến nó lại tương đương nghĩa với nhưng mà, người ta vứt chữ cơ mà lên đầu câu hoặc nhét vào giữa hai vế, và xài y chang nhưng mà. Tôi lấy vài ví dụ:
Vd4: Một đêm luyện hết đống season 8 của How I Met Your Mother hôm rày bỏ giữa chừng. Quá đã. Cơ mà vợ Ted sao xấu thế :( ---- status facebook của Le Minh Dao.
Vd5: Hôm nay đi chơi thật đã. Mệt cơ mà vui.Đại để là như thế. Tuy nhiên, xét kĩ một chút thì có thể thấy được cách dùng cơ mà này có sắc thái khác với nhưng mà. Nó thể hiện phần nào sự ngập ngừng của người nói. Chỉ thế thôi, tôi chưa thấy được chỗ nào khác nữa.
Tôi không biết gốc gác của sự phát triển lối nói này. Có thể nó là một phương ngữ của một vùng nào đó, đột ngột phát triển thành một lối nói thông dụng được các bạn trẻ (và vài bạn già) dùng. Có thể bất chợt nó nảy ra từ một cộng đồng, một cá nhân nào đó, rồi nhiều người khác nhắm mắt nói theo. Tôi không và không muốn phản đối tiến trình phát triển của ngôn ngữ. Nhưng tôi thấy chúng ta nên có một cái nhìn phê phán hơn, để ý hơn trong lời nói của mình. Chúng ta có thể tôn vinh những thứ sáng tạo, nhưng đừng a dua và làm theo những cách nói sai của một vài cộng đồng nào đó.
Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012
Kim nhật hà nhật hề? Hôm nay ngày gì vậy?
Kim tịch hà tịch hề? Khiên chu trung lưu.
Kim nhật hà nhật hề? Đắc dữ vương tử đồng chu!
Mông tu bị hảo hề, bất hiềm cấu sỉ.
Tâm kỉ phiền nhi bất tuyệt hề, đắc tri vương tử.
Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi, tâm thuyết quân hề quân bất tri!
Chiều hôm nay là chiều gì vậy!
Em chèo thuyền nhỏ bơi giữa dòng
Ngày hôm nay là ngày gì vậy!
Em được cùng thuyền với vương tử chàng!
Vương tử thích em chăng?
Em không nghĩ gì khác.
Em ngây ngô khờ dại
Chẳng ngờ lại gặp được chàng!
Trên núi có cây, trên cây có cành!
Mà lòng em mến chàng, chàng lại chẳng hay.
(Việt Nhân Ca – Dịch lời: Ngọc Diện Hồ, nguồn: http://blog.daobachlien.com/2006/11/viet-nhan-ca/)
Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011
Mới hay kìa nước nọ hư không
Trên mạng, đọc được một bài viết về thơ Nguyễn Trãi của thầy Nhật Chiêu. Chép lại để lưu trữ.
______________________
Nhật Chiêu (Tạp chí Văn hóa Phật giáo)
Khi tiễn một nhà sư về núi, Nguyễn Trãi có nói: “Gặp dịp rồi tôi cũng vào cửa thiền” (Lãm kỳ ngã diệc thượng thừa thiền). Gặp dịp? tâm Ức Trai đã vào thiền từ lâu. Tâm đó đã vào thiền từ lâu với mây trắng, với bóng trăng, với hương quê, với bông bụt…
Cái tâm đó nhẹ như mây trắng. Nhẹ đến nỗi không biết mây và người ai là có tâm (Nhân dữ bạch vân thùy hữu tâm?). Và trong con mắt của Ức Trai, cuộc đời trôi nổi tựa như mây (Nhân trung phù thế tống phù vân).
Thơ Nguyễn Trãi (cả Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập) là thơ thiền. Tâm ấy với mây trắng là một, là nhất sắc - hay nói theo tiếng Việt của Nguyễn Trãi: Hai ấy cùng xem một thức cùng.
Trong Quốc âm thi tập có bài thơ bát cú “Thuỷ thiên nhất sắc”, nó có thể thu nhỏ lại thành một tứ tuyệt rất nhẹ, rất lặng lẽ như sau:
Trời nghi ngút, nước mênh mông,
Hai ấy cùng xem một thức cùng.
Lẻ có chim bay cùng cá nhảy,
Mới hay kìa nước nọ hư không.
Bài thơ hiện lên giữa cõi tục như một cảnh giới nghi ngút và mênh mông. Ở đấy, không có gì có thể ràng buộc. Ở đấy không có gì có thể hèn mọn.
Trời như bay lên, bốc lên, nâng cao không ngừng. Như gọi mọi vật đi lên. Và đi lên một cách nhẹ nhàng, nghi ngút. Đi như khói và đi như hương.
Ta đi trong trời nghi ngút và bầu trời nghi ngút ấy đi trong ta. Bầu trời nghi ngút ấy tỏa lên sau lưng Nguyễn Trãi, cứ tỏa lên không ngừng sau bóng dáng bao la của ông.
Và nước. Nước như dàn trải, như mở rộng không gian mãi mãi, như tuôn dòng thời gian mãi mãi. Như gọi mọi vật tan vào nhau, hòa vào nhau trong thế giới tề vật của Trang Chu.
Như vậy, cái nghi ngút và mênh mông đang gọi ta. Gọi một sự trở về. Hãy sẵn sàng cho một cuộc tiêu dao trong nghi ngút và trong mênh mông.
Nhưng cái nghi ngút của trời và cái mênh mông của nước có khác nhau chăng?
Trời và nước: hai ấy, hai đằng ấy, hai hiện tượng… hai cái dường như đối lập.
Nhưng trong cái nhìn bất nhị, chúng là một thức, một vẻ, một sắc. Chỉ là một. Hay nói như Tô Đông Pha: thuỷ như thiên (Vọng hồ lâu túy thư).
Mà Ức Trai thì yêu Đông Pha cư sĩ. Đến nỗi có lần bảo rằng: “Pha lão tằng vân ngã diệc vân” (Ông Đông Pha từng nói thế, ta cũng nói thế).
Ức Trai và Đông Pha đều bị triều đình ghét bỏ. Cả hai đều quá mênh mông trong cái vườn bé tí gọi là thượng uyển, cái ao tù gọi là quan trường.
Mênh mông của trời và nước pha lẫn trong một màu xanh, đã đành là đi vào trong thơ xưa nay như là “nhất sắc”.
Vương Bột: Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
Trương Nhược Hư: Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần.
Nhưng ở Nguyễn Trãi, cái nhất sắc này được đẩy xa hơn, sâu hơn, vào trong tâm thiền. Nơi đó dường như tâm người, tâm chim và tâm cá hoà nhau trong nhất sắc, trong một thức trong một hư không. Có thể gọi đó là “tâm mây trắng” (bạch vân tâm) như lời thơ Vương Duy:
Dữ quân thanh nhãn khách,
Cộng hữu bạch vân tâm.
(Với bạn xanh màu mắt, Cùng chung mây trắng tâm).
Ai là bạn của Ức Trai? Ấy là chim, ấy là cá. Hay nói đúng hơn, ông thấy mình hóa thân vào chim, hóa thân vào cá. Như Trang chu thấy mình hóa thân vào bướm trong một giấc mộng nào.
Lẻ có chim bay cùng cá nhảy
Chỉ có những cánh chim bay giữa trời xanh nghi ngút kia. Chỉ có những con cá nhảy giữa nước biếc mênh mông kia…
Và ta muốn rằng cả ta nữa. Ta cũng bay nhảy trong cái nghi ngút mênh mông ấy. Cái nghi ngút ấy nâng ta lên và cái mênh mông ấy cuộn ta vào bao lớp sóng của tiêu dao.
Đưa ta vào “đạo tự nhiên”. Trong một bài thơ khác, Ức Trai nói: “Diều bay cá nhảy đạo tự nhiên”.
Ta là tự nhiên. Bay nhảy tự nhiên.
Chỉ như thế, như chim và như cá, ta mới tách khỏi trung tâm là ta, mới tách khỏi không gian nhỏ hẹp được tạo ra chung quanh cái trung tâm đó. Khi ấy thì:
Mới hay kìa nước nọ hư không.
Mới hay rằng nước là ta, hư không là ta. Ta sống trong nước và là nước. Ta sống trong hư không và là hư không.
Sống trong tự nhiên, vô tâm vô niệm. Như chim và cá. Như mây trắng. Thế nên Ức Trai mới tự hỏi:
Nhân dữ bạch vân thùy hữu tâm?
Ta và mây trắng ai có tâm đây? Dường như không có tâm, không có trung tâm là tự ngã. Sống trong tự nhiên là vô ngã, để mà tiêu dao với nước, với hư không.
+++
Nhìn lên không. Mây trắng đang bay. Đọc thơ của người, thấy mây như có hình bóng Ức Trai. Và hư không như vang vọng câu hỏi: Mây trắng và ta ai có tâm?
Mỗi lần đọc thơ Ức Trai, như muốn làm mây trắng để mà:
Mới hay kìa nước nọ hư không.
Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011
Trì cỏ tươi, nhưng lòng tiểu nhân
Đụn lúa mạch (Cuối hè) - Claude Monet
Đọc thơ Nguyễn Trãi, Quốc Âm Thi Tập, tôi thích nhiều bài. Đọc Quốc Âm Thi Tập, đọc cái thứ tiếng Việt của 500 năm trước, tôi vỡ ra nhiều điều và thấy rất thú vị.
Tỉ như bài "Cuối xuân" này, tôi đã treo trên blog cả tuần nay:
Tính từ gặp tiết lương thần,
Thiếu một hai mà no chín tuần.
Kiếp thiếu niên đi thương đến tuổi,
Ốc dương hoà lại ngõ dừng chân.
Vườn hoa khóc, tiếc mặt Phi tử,
Trì cỏ tươi, nhưng lòng tiểu nhân.
Cầm đuốc chơi đêm này khách nói,
Tiếng chuông chưa đóng ắt còn xuân.
Đọc sơ qua, đúng là dưới góc độ một người Việt Nam thế kỷ 21, chữ Hán chưa học, chữ Nôm không và cũng có lẽ sẽ không biết, những từ, những cụm "Ốc dương hòa" hay "đi thương",... khó mà hiểu được, nhưng là một người Việt có một gốc rễ văn hóa vững chắc, hẳn cũng phải cảm được chút gì đó từ bài thơ.
Lăn lóc trên mạng một hồi, tôi cũng tìm được vài cái chú giải.
-"tiết lương thần": lúc bắt đầu của mùa xuân.
-"tuần": tuần là mười ngày.
-"kiếp thiếu niên": có thể hiểu là thời tuổi trẻ, thế nhưng nếu để ý về mặt hài thanh của chữ Nôm, phiên từ tiếng Hán ra tiếng Việt là "cướp", hiểu như thế hợp lý hơn, nên cụm "đi thương" biên như trên kia là vô nghĩa, phải tách ra thành "Cướp (kiếp) thiếu niên đi, thương đến tuổi".
-"ốc": nhiều chỗ đều ghi "ốc" không có nghĩa, nhưng Trần Lê Văn biên trên Tạp chí Hán Nôm số 2/1989 thì "ốc" là từ Việt cổ, nghĩa là "gọi", như "Có gã thư sinh / Danh ốc Lưu Bình" nghĩa là "Tên gọi Lưu Bình".
-"ngõ" : ngõ hầu, nghĩa là "nhằm để".
Tóm lại, hai câu thực này mang nghĩa là: Ngày tháng cướp mất tuổi thiếu niên của ta đi, giờ đây tiếc thương tuổi tác của mình, bèn gọi cái khí xuân dương hòa ấm áp lại để (ngõ hầu) dừng chân mà hưởng thụ.
-"Phi tử": Dương Quý Phi, người có vẻ đẹp "tu hoa" (khiến cho hoa phải thẹn). Câu đầu tiên "Thanh bình điệu" của Lý Bạch là "Vân tưởng y thường hoa tưởng dung" - "Nhìn mây tưởng y phục, nhìn hoa nhớ khuôn mặt", ca ngợi vẻ đẹp của Dương Ngọc Hoàn.
-"trì cỏ": cỏ ao, tra ra thì thấy sách Luận ngữ thiên 12 "Nhan Uyên" biên "Cái đức của người quân-tử cũng như gió, cái đức của kẻ tiểu-nhân cũng như cỏ. Gió thổi trên cỏ thì cỏ phải lướt xuống mà theo."
Hai câu cuối là hai câu dễ hiểu, đọc cũng thấy gần gũi và hiện đại. Tôi thích nhất hai câu thực và hai câu kết này, cùng với câu luận thứ hai "Trì cỏ tươi nhưng lòng tiểu nhân".
Hay là những câu từ bài "Mạn thuật kỳ 13 (Nhà ta)"
Quê cũ nhà ta thiếu của nào,
Rau trong nội, cá trong ao.
Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch,
Kề nước cầm đưa tiếng Cửu Cao.
Khách đến vườn còn hoa lạc,
Thơ nên cửa thấy nguyệt vào.
Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ,
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào.
-"cách song" : ngoài song cửa.
-"Cô Dịch": chỉ thần nhân trên núi Cô Dịch, trong Nam Hoa Kinh - Trang Tử - Nội thiên : Tiêu dao du
Kiên Ngô hỏi Liên Thúc:
-Tôi nghe lời nói của Tiếp Dư, lớn mà không đúng, đi mà không về... Tôi kinh khiếp lời nói của ông ta: cũng như sông Hà, sông Hán mông mênh vô cùng! Rất là diệu vợi! Không gần với thường tình người ta.
Liên Thúc hỏi:
-Ông ta nói về cái gì?
-Ông ta nói: "Trên núi Rưởu Cô Dịch, có thần nhân ở đó, Da thịt như băng tuyết, thơ ngây như gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, hút gió uống sương, cưỡi khí mây, ngự rồng bay, mà chơi ở ngoài bốn bể. Ðịnh thần lại, khiến cho mọi vật không đau ốm mà lúa lại được mùa..."
-"Cửu Cao" : Chín đầm nước sâu. Thi kinh 詩經 Tiểu nhã 小雅 thiên Hạc minh 鶴鳴: "Hạc minh vu cửu cao, Thanh văn vu thiên" 鶴鳴于九皋,聲聞于天 (Chim hạc kêu ở xa ngoài chín đầm, tiếng nghe khắp đồng nội). Cả câu này ý nói suối chảy như tiếng đàn, tiếng hạc. (chú thích của thivien.net)
-"áng mận đào" : hiểu đại khái là chốn quan trường, theo tích Địch Nhân Kiệt (tích này cũng bình thường thôi, hiểu vậy được rồi).
Đọc bài thơ này, dễ hiểu hơn "Cuối xuân" nhiều, lại mang một cái không khí yên bình, nhẹ nhàng, tôi như được xả stress lắm lắm. Những bài thơ của Nguyễn Trãi làm bằng quốc âm 500 năm về trước, bài nào cũng tràn ngập trí tuệ, so ra đáng đọc hơn nhiều thứ khác vô bổ hiện nay gấp bội.
__________________________
Nhân tiện, ngoài lề, tôi cứ luôn thắc mắc về sự giống nhau khá kì lạ của từ "câu lạc bộ" so với club về mặt chữ cái. Xét từng từ "câu", "lạc", "bộ" thì thấy nó chả mang nghĩa gì của một cái "tổ chức được lập ra nhằm tập hợp những người cùng sở thích sinh hoạt văn hóa, giải trí" gì cả. Tôi thắc mắc về mặt từ nguyên của từ này lắm, nhưng cứ quên tra mãi.
Hôm nay mới nhớ ra để tra. Từ club ban đầu được phiên qua tiếng Nhật, là kurabu, sau đó qua tiếng Hán, rồi sang tiếng Việt là "câu lạc bộ", một hành trình vui tươi đấy chứ nhỉ.
-"ngõ" : ngõ hầu, nghĩa là "nhằm để".
Tóm lại, hai câu thực này mang nghĩa là: Ngày tháng cướp mất tuổi thiếu niên của ta đi, giờ đây tiếc thương tuổi tác của mình, bèn gọi cái khí xuân dương hòa ấm áp lại để (ngõ hầu) dừng chân mà hưởng thụ.
-"Phi tử": Dương Quý Phi, người có vẻ đẹp "tu hoa" (khiến cho hoa phải thẹn). Câu đầu tiên "Thanh bình điệu" của Lý Bạch là "Vân tưởng y thường hoa tưởng dung" - "Nhìn mây tưởng y phục, nhìn hoa nhớ khuôn mặt", ca ngợi vẻ đẹp của Dương Ngọc Hoàn.
-"trì cỏ": cỏ ao, tra ra thì thấy sách Luận ngữ thiên 12 "Nhan Uyên" biên "Cái đức của người quân-tử cũng như gió, cái đức của kẻ tiểu-nhân cũng như cỏ. Gió thổi trên cỏ thì cỏ phải lướt xuống mà theo."
Hai câu cuối là hai câu dễ hiểu, đọc cũng thấy gần gũi và hiện đại. Tôi thích nhất hai câu thực và hai câu kết này, cùng với câu luận thứ hai "Trì cỏ tươi nhưng lòng tiểu nhân".
Đụn cỏ khô ở Giverny - Claude Monet
Hay là những câu từ bài "Mạn thuật kỳ 13 (Nhà ta)"
Quê cũ nhà ta thiếu của nào,
Rau trong nội, cá trong ao.
Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch,
Kề nước cầm đưa tiếng Cửu Cao.
Khách đến vườn còn hoa lạc,
Thơ nên cửa thấy nguyệt vào.
Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ,
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào.
-"cách song" : ngoài song cửa.
-"Cô Dịch": chỉ thần nhân trên núi Cô Dịch, trong Nam Hoa Kinh - Trang Tử - Nội thiên : Tiêu dao du
Kiên Ngô hỏi Liên Thúc:
-Tôi nghe lời nói của Tiếp Dư, lớn mà không đúng, đi mà không về... Tôi kinh khiếp lời nói của ông ta: cũng như sông Hà, sông Hán mông mênh vô cùng! Rất là diệu vợi! Không gần với thường tình người ta.
Liên Thúc hỏi:
-Ông ta nói về cái gì?
-Ông ta nói: "Trên núi Rưởu Cô Dịch, có thần nhân ở đó, Da thịt như băng tuyết, thơ ngây như gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, hút gió uống sương, cưỡi khí mây, ngự rồng bay, mà chơi ở ngoài bốn bể. Ðịnh thần lại, khiến cho mọi vật không đau ốm mà lúa lại được mùa..."
-"Cửu Cao" : Chín đầm nước sâu. Thi kinh 詩經 Tiểu nhã 小雅 thiên Hạc minh 鶴鳴: "Hạc minh vu cửu cao, Thanh văn vu thiên" 鶴鳴于九皋,聲聞于天 (Chim hạc kêu ở xa ngoài chín đầm, tiếng nghe khắp đồng nội). Cả câu này ý nói suối chảy như tiếng đàn, tiếng hạc. (chú thích của thivien.net)
-"áng mận đào" : hiểu đại khái là chốn quan trường, theo tích Địch Nhân Kiệt (tích này cũng bình thường thôi, hiểu vậy được rồi).
Đọc bài thơ này, dễ hiểu hơn "Cuối xuân" nhiều, lại mang một cái không khí yên bình, nhẹ nhàng, tôi như được xả stress lắm lắm. Những bài thơ của Nguyễn Trãi làm bằng quốc âm 500 năm về trước, bài nào cũng tràn ngập trí tuệ, so ra đáng đọc hơn nhiều thứ khác vô bổ hiện nay gấp bội.
__________________________
Nhân tiện, ngoài lề, tôi cứ luôn thắc mắc về sự giống nhau khá kì lạ của từ "câu lạc bộ" so với club về mặt chữ cái. Xét từng từ "câu", "lạc", "bộ" thì thấy nó chả mang nghĩa gì của một cái "tổ chức được lập ra nhằm tập hợp những người cùng sở thích sinh hoạt văn hóa, giải trí" gì cả. Tôi thắc mắc về mặt từ nguyên của từ này lắm, nhưng cứ quên tra mãi.
Hôm nay mới nhớ ra để tra. Từ club ban đầu được phiên qua tiếng Nhật, là kurabu, sau đó qua tiếng Hán, rồi sang tiếng Việt là "câu lạc bộ", một hành trình vui tươi đấy chứ nhỉ.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)