Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Hiển thị các bài đăng có nhãn tiếng Nhật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tiếng Nhật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2025

Xá mật hay hóa học

 Lẽ ra có thể chúng ta đã gọi hóa học bằng cái tên khác.

Đầu thế kỷ 19, Udagawa Yōan (nhà Lan học người Nhật) dịch quyển Elements of Experimental Chemistry của nhà hóa học người Anh Henry William từ bản tiếng Hà Lan ra tiếng Nhật. Yōan đã đặt ra rất nhiều thuật ngữ hóa học bằng chữ Hán mà ngày nay ở Nhật vẫn dùng, sau đó được các học giả người Hán du nhập về TQ thời Đồng Trị (và sau đó), thậm chí một số thuật ngữ này VN vẫn dùng. Ví dụ như dịch element là nguyên tố (元素, genso), saturation là bão hòa (飽和, hōwa), reduction là hoàn nguyên (還元, kangen). Một số thuật ngữ khác ở VN không dùng, chỉ có Nhật dùng, còn TQ thì chế đi, chủ yếu là tên nguyên tố ví dụ oxygen là toan tố, hydrogen là thủy tố, nitrogen là trất tố, carbon là thán tố, oxidation là toan hóa, vân vân.

Một điểm quan trọng và thú vị hơn, đó là cách Yōan dịch tên của môn Chemistry. Ông không gọi là hóa học, mà ông gọi là "Xá mật", quyển sách đầu tiên ông dịch là "Xá mật khai tông" (舎密開宗). Xá mật (seimi) là cách ông phiên âm Chemie tiếng Hà Lan. Chính quyền thời Minh Trị mở "Xá mật cục" nghiên cứu về hóa học ở Ōsaka. 

Hình trong Xá mật khai tông.

Thuật ngữ "hữu cơ", organic, là do một nhà Lan học khác ở Xá mật cục dịch, đó là Shousuke Misaki. Quyển "Xá mật cục khai giảng chi thuyết" của ông là tác phẩm cổ nhất dùng từ "hữu cơ". Thuật ngữ organic dĩ nhiên có gốc gác từ organon của Aristotles, nghĩa là công cụ, hay cỗ máy, mang đậm quan điểm nhị nguyên của Aristoteles: cơ thể là "công cụ" để linh hồn tác động lên thế giới (soma organikon). Vì thế dùng chữ "cơ" để dịch. 機 nghĩa gốc là cái lẫy nỏ hoặc cái khung cửi, mở rộng nghĩa thành cái máy hoặc cái công cụ có cơ chế hoạt động phức tạp (tự hình có hình người, cây rìu, và cuộn chỉ, thêm bộ mộc kế bên). "Hữu" có lẽ thêm vào để phân biệt với vô cơ.

Lẽ ra giờ đây chúng ta sẽ gọi chemistry là xá mật học, organic chemistry là xá mật hữu cơ. Nhưng đến cuối thời Edo, khi sách vở chemistry được dịch nhiều hơn, có những học giả khác dịch là "hóa học". Cuối thế kỷ 19 đã có một cuộc tranh luận xem liệu nên dùng "hóa học" hay "xá mật". Dần dần, người Nhật chọn dùng "hóa học", và thuật ngữ này lan sang các nước đồng văn còn lại.

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Akai Kutsu 赤い靴





Giày đỏ - Akai kutsu
Sáng tác: lời thơ Ujō Noguchi, nhạc Nagayo Motōri.
Trình bày: Yuki Saori và Yasuda Sachiko


赤い靴 はいてた 女の子
Akai kutsu haiteta onna no ko
Cô bé mang giày đỏ
異人さんに つれられて 行っちゃった
Ijin-san ni tsurerarete ittyatta 
được một người ngoại quốc đưa đi


横浜の 埠頭から 船に乗って
Yokohama no hatoba kara funeninotte 
Trên con tàu từ cảng Yokohama
異人さんに つれられて 行っちゃった
Ijin-san ni tsurerarete ittyatta
cô bé được một người ngoại quốc đưa đi


今では 青い目に なっちゃって
Imade wa aoi me ni nattyatte
Giờ đây mắt cô chắc đã xanh biếc
異人さんの お国に いるんだろう 
Ijin-san no okuni ni irundarou
(khi) sống trên đất nước của người ngoại quốc


赤い靴 見るたび 考える
Akai kutsu mirutabi kangaeru
Mỗi lần (mỗi độ) trông thấy giày đỏ, tôi lại nghĩ về em
異人さんに 逢(あ)うたび 考える
Ijin-san ni autabi kangaeru
Mỗi độ gặp người ngoại quốc là tôi lại nghĩ về cô bé mang giày đỏ.

___________________________


Có hai truyện ngắn Đô rê mon nói về nỗi hoài niệm gây ấn tượng đối với tôi là truyện "Cô bé mang giày đỏ" và truyện "Cô gái giống hoa bách hợp". Truyện hoa bách hợp thì là câu chuyện về bố của Nôbita, nói về việc ký ức là một lời nói xạo hoa mỹ, truyện này không liên quan ở đây, ngứa miệng nói ra chơi thôi, hehe. 


Truyện "Cô bé mang giày đỏ" là ký ức của Nôbita về cô bạn tuổi thơ mang đôi giày đỏ, rồi một ngày cô bé đột ngột cùng gia đình đi sang Mỹ định cư, Nôbita không còn gặp lại nữa. Tình hình có vẻ giống trong lời bài hát.


Bản của Yuki Saori và Yasuda Sachiko hát ở trên là một bản rất giàu cảm xúc. Mỗi một khổ thơ đều có hai nhân vật: cô bé đi giày đỏ và người ngoại quốc được gọi bằng Ijin-san. Ijin (dị-nhân = người lạ, người khác; dĩ nhiên ở đây không nói tới mấy vụ X-men em của ngày hôm qua) là từ cổ trong tiếng Nhật từ khoảng cuối thời Mạc phủ tới thời Minh Trị dùng để chỉ người ngoại quốc. Trong bản của Yuki Saori và Yasuda Sachiko này, mỗi khổ thơ, tôi nghe được hai dòng cảm xúc đi song song nhau. Dòng thứ nhất ở câu đầu, khi nói về cô bé mang giày đỏ - là một cảm xúc nuối tiếc và nhớ thương. Dòng thứ hai ở câu sau, đặc biệt nhấn mạnh ở ba chữ I-jin-san đầu mỗi câu, dường mang ý trách móc cái ông I-jin-san tại sao lại mang cô bé giày đỏ đi mất.


Bài hát này được sáng tác năm 1922, trước khi thế chiến 2 nổ ra. 

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Samidare

   五月雨  や    蠶        煩ふ     桑   の   畑
Samidare ya kaiko wazurau kuwa no hata
-- Bashô --

Tháng năm mưa dầm
Con tằm bệnh
Nương dâu
-- Bashô -- 





Sa-midare là tên riêng để chỉ những cơn mưa vào tháng Sa (tháng Sa-tsuki, từ tsuki nghĩa là trăng-tháng rồi), vốn là tháng thứ năm trong âm lịch cũ của Nhật Bản (sau Minh Trị thì dẹp lịch âm). Samidare vì vậy là quý ngữ trong haiku để chỉ mùa đầu mùa hè.

Mưa Samidare là mưa đầu mùa hè, là những cơn mưa dài, và dai dẳng. Khi chuyển ngữ thơ haiku có samidare (Bashô có một đống các bài khác bắt đầu bằng samidare), các sách tiếng Anh thường dịch là "constant rain" - mưa dầm, hay "first summer rain" - mưa đầu hạ, ...

Ở Việt Nam, mùa mưa kéo dài từ khoảng tháng 5 tới tháng 10 âm lịch. Nhưng chúng ta không có cái tên đặc biệt nào cho mưa đầu mùa hạ (đầu mùa mưa) như samidare. Dĩ nhiên tôi có thể bắt chước bản dịch tiếng Anh và dịch là "Mưa dầm đầu hạ", thay vì "Tháng năm mưa dầm", như thế có vẻ cũng hay hơn:

Mưa dầm đầu hạ
Con tằm bệnh
Nương dâu
--Bashô--


Ở Việt Nam, có mưa đầu tháng Bảy gọi là mưa Ngâu, gắn với truyền thuyết đêm Thất tịch (7/7 âm lịch), Ngưu lang - Chức nữ gặp nhau khóc lóc trên trời làm mưa rớt xuống. Đó là tên riêng duy nhất dành cho mưa trong tiếng Việt mà tôi nhớ được ở thời điểm này. Nếu đi hỏi nông dân, chắc họ rành hơn tôi. Ở Nhật thì lễ Thất tịch Tanabata (bây giờ diễn ra vào đêm 7/7 Dương lịch) không có mưa nhiều (đọc trên mạng thấy người ta thường cầu cho không mưa vào đêm này), chắc thế nên không thấy có tên riêng hay quý ngữ cho mưa vào dịp này.


Tôi nghĩ linh tinh, thế là dùng chữ mưa ngâu để dịch, dùng như vậy hóa ra lại là hay nhất, nhưng nó làm lệch bản gốc mất.

Tháng bảy mưa ngâu
Con tằm bệnh
Nương dâu
--(dựa theo) Bashô --


___________________________

Ngoài ra còn một chữ nữa, đó là chữ hat畑. Ai học kanji theo cuốn Basic Kanji Book chắc đều gặp chữ này ngay mấy bài đầu. Chữ này là kokuji (quốc tự), nghĩa là chữ cho người Nhật chế ra chứ không được người Hán xài, do đó không có âm Hán (dĩ nhiên cũng không có âm Hán Việt). 

Chữ hata vốn là chữ điền 田 có thêm bộ Hỏa. Người Tàu nửa trên sông Dương Tử trồng lúa mì, nửa dưới trồng lúa nước, dùng chữ điền để chỉ cả ruộng lúa mì lẫn ruộng lúa nước. Người Nhật trồng lúa nước, nên chữ điền 田 nó mang nghĩa khá ướt (kiểu chữ ruộng trong tiếng Việt). Khi thêm bộ hỏa vào, chữ hata 畑 mang nghĩa khô hơn, và để chỉ nơi trồng cây trái khô, không ngập nước. Tương tự trong tiếng Việt có chữ đồng hoặc chữ nương, hoặc chữ rẫy mang nghĩa khá khô ráo hơn chữ ruộng, mặc dầu người ta vẫn kêu đồng lúa nhưng chữ đồng trong này nó chỉ khoảng không gian nhiều hơn là chỉ vật thể.

Và cũng giống tiếng Việt có các từ ghép ruộng đồng, ruộng nương, ruộng rẫy (có từ này nha, google đê) tiếng Nhật cũng có từ ghép 田畑, đọc là tahata, tahatake, hoặc đọc chữ điền bằng âm Hán denbata.

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

Furusato



ふるさと や 寄る も 障る も 茨の花
小林 一茶

Furusato ya yoru mo sawaru mo ibara no hana
Kobayashi Issa

Sáng nay chị Bò tag mình vô một bức hình chị Bò chụp một khu vườn đẹp, kèm với một bài thơ haiku của Issa do ông Thái Bá Tân dịch.

Tôi chạm nhẹ nhàng
vào mọi cái
Thế mà luôn bị
gai châm.

Thú thật là mình rất thích cái phong điệu của bài haiku này. Nhưng mình ngờ là ông Thái Bá Tân dịch từ bài gốc ở trên của Issa mà mình tìm được trên mạng. Nếu là vậy thực thì bản dịch trên dịch rất tầm bậy tầm bạ. Mà cũng không phải chuyện bất ngờ vì thơ haiku ông Thái Bá Tân dịch trước giờ đã rất tầm bậy rồi.

Một vài chữ:
ふるさと (furusato) hay được viết bằng kanji với hai chữ cố hương hoặc cố lý, tùy vào bản mình tìm được trên mạng.
や (ya) theo Jisho.org là từ đệm ngắt quãng hay dùng trong hài cú, liên ca,...
茨の花 (ibara no hana) (bụi) hoa gai, nhiều trang tiếng Nhật có chú thích ibara là bara (hoa hồng).

Và mình dịch là
Quê cũ về đây
mấy bụi hoa gai
cũng xòe chắn lối

Mình thích cả hai bản. Bản nghi là bị chế ở trên cũng rất hay, nhưng nói thật nó không hợp kiểu haiku lắm. 

Nói thêm, bài này từ tập Thất phiên Nhật ký của Issa.

Hình là con đường mòn trên đồi trong chuyến đi với chú Olivier năm 2012, ở gần Dorset, người trong hình là chú Olivier. Cũng đã hai năm rồi, không gặp lại chú Olivier nữa.