Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Hiển thị các bài đăng có nhãn trải nghiệm triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trải nghiệm triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Nỗi bất an là cơn chóng mặt của tự do

(credit: ảnh là ảnh của tay tếu táo nào đã ghép hai bức khác nhau của bác Igor Siwanowicz)


Bác Kier đã nghiền ngẫm và đẻ ra câu ở trên. Đối với bác Kier, cuộc đời là những sự lựa chọn đớn đao, quặn thắt con tim, bởi vì ta có quyền tự do tuyệt đối để lựa chọn. Lựa chọn tôn giáo là một lựa chọn kinh khủng khiếp của cuộc đời, hem chỉ đơn giản là chỉ để vào nhà thờ nghe con nít hát thánh ca, hay vào chùa ngồi coi cá bơi, nghe chuông gió. Lựa chọn giết người như anh Ras của bác Dos là một lựa chọn đầy tính triết học, lấy Napoléon làm khuôn mẫu chứ không phải trẻ trâu ghẹo ghệ nhau xách mã tấu ra chém. Lựa chọn thế này hay thế kia, thế nào thì cũng sẽ tệ, ngươi đều sẽ hối hận. Đó là bác Kier nói. Nhưng vẫn phải lựa chọn.

Và một chỗ khác (sách ẩn dưới lá Hagakure) lại có dạy: Đến ngay cả khi mà ngươi nắm chắc phần bại, thì vẫn hãy tấn công. Trí huệ hay kỹ năng đều không giúp ích được gì nữa. Bậc nam tử không nghĩ đến chiến thắng hay thất bại. Bậc nam tử lao thẳng vào cái chết. Khi đó mới tỉnh được mộng.

Hả???

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Một cỗ máy liệu có thể suy nghĩ không? (2)

xem tiếp từ phần (1). Phần này, Emit nói rằng nó thuộc dòng máy Brain-O-Matic. Đây là một chữ nhại từ Automatic (tự động). Gốc từ auto- có thể hiểu là "tự bản thân", gốc -maton/-matos là "hoạt động". Brain-O-Matic hiểu đại khái là hoạt động dựa vào một bộ não.
_____________________________

Nguyên tác: Could a machine think? (The Philosophy Gym - Stephen Law)


Thứ vật liệu đúng
Giờ tới lượt Emit hỏi nếu nó không hiểu, thì liệu có một điều kiện cần nào cao hơn cho sự hiểu này không.

Emit: Vậy thì có cái gì khác giữa tôi và bạn mà bạn thì hiểu còn tôi thì không?
Kimberley: Điều cậu thiếu, theo Searle, là cậu thiếu một thứ chất liệu đúng.
Emit: Chất liệu đúng?
Kimberley: Đúng. Cậu được làm ra từ những loại vật liệu sai. Thật ra Searle không khẳng định rằng máy không thể suy nghĩ. Nói cho cùng thì con người cũng là những cỗ máy theo một cách nào đó thôi. Con người chúng tôi là những cỗ máy sinh học đã tiến hóa một cách tự nhiên. Giờ đây, nếu một cỗ máy sinh học như vậy có thể được phát triển và lắp ghép lại một cách nhân tạo - như làm một cái xe hơi - thì chúng ta sẽ tạo ra được một cỗ máy biết tri giác. Nhưng cậu, Emit, cậu không phải là một cỗ máy sinh học như vậy. Cậu chỉ là một máy điện toán đóng trong một cơ thể bằng nhựa và hợp kim.

Não nhân tạo của Emit
Thí nghiệm tưởng tượng của Searle có vẻ cho thấy không một cái máy được lập trình nào có thể hiểu. Nhưng có hẳn một cỗ máy bằng kim loại, silicon và nhựa như Emit phải là một cái máy như vậy? Không, Emit sẽ giải thích.

Emit: Tôi e rằng tôi phải chỉnh bạn một chút về những gì đang diễn ra bên trong tôi.
Kimberley: Vậy à?
Emit: Ừ. Cái cuốn hướng dẫn đó lỗi thời rồi. Hoàn toàn không có một máy tính xáo trộn ký hiệu gì trong người tôi cả. Thực ra tôi là một máy vi tính thế hệ mới dòng Brain-O-Matic.
Kimberley: Brain-O-Matic?
Emit: Ừ. Trong đầu tôi là một bộ não nhân tạo, bằng kim loại và silicon. Tôi cho rằng bạn cũng biết trong đầu bạn là một bộ não tạo ra bởi hàng tỉ neuron thần kinh quấn vào nhau tạo thành một mạng lưới phức tạp.
Kimberley: Dĩ nhiên tôi biết.
Emit: Trong đầu tôi cũng có một mạng lưới hệt như vậy. Chỉ có điều neuron của tôi không làm bằng chất liệu hữu cơ như bạn mà bằng kim loại và silicon. Mỗi một neuron nhân tạo của tôi được thiết kế để vận hành hệt như một neuron bình thường. Những neuron này cũng được kết nối với nhau hệt như trong não người.
Kimberley: Tôi hiểu rồi.
Emit: Rồi giờ, bộ não hữu cơ của bạn được kết nối với cơ thể bằng một hệ thần kinh.
Kimberley: Đúng vậy. Những xung điện từ các cơ quan thụ cảm của tôi: lưỡi, mũi, tai, mắt và da, đi tới não. Não tôi phản ứng lại bằng những xung điện làm điều khiển các cơ của tôi, giúp cho tôi đi được, nói được.
Emit: Ừ. Não của tôi cũng kết nối với cơ thể tôi y chang như vậy. Và bởi vì nó có một kiến trúc giống y như não người bình thường, não tôi cũng hoạt động y như vậy.
Kimberley: Tôi hiểu rồi. Tôi không biết máy tính dòng Brain-O-Matic đã được phát triển.
Emit: Giờ thì bạn đã biết tôi hoạt động ra sao, suy nghĩ của bạn có thay đổi chút nào không? Bạn có chấp nhận rằng tôi có suy nghĩ và cảm xúc không?
Kimberley: Không. Cậu vẫn được tạo ra từ thứ vật liệu sai. Cậu cần phải có một bộ não làm từ vật liệu hữu cơ như tôi để có thể tri giác thực sự.
Emit: Tôi thấy việc não tôi làm bằng gì chẳng liên quan gì cả. Đằng nào thì cũng chẳng có cái máy xáo ký hiệu nào trong đầu tôi cả.
Kimberley: Hừm. Tôi thấy thế cũng đúng. Cậu không phải là một máy vi tính theo nghĩa đó. Cậu không được lập trình. Vậy tôi cũng cho rằng thí nghiệm của Searle không áp dụng cho cậu. Nhưng đối với tôi cậu vẫn là một cỗ máy.
Emit: Nhưng xin nhớ cho: bạn cũng là một cỗ máy. Thay vì bằng kim loại và silicon, bạn là một cỗ máy bằng thịt.
Kimberley: Nhưng cậu chỉ bắt chước tri giác, trí tuệ và tất cả mọi thứ.
Emit: Lập luận nào của bạn chỉ ra điều đó vậy? Tôi cho rằng bạn sai. Trong thâm tâm tôi cho rằng tôi thực sự hiểu. Tôi biết tôi thực sự có cảm xúc. Tôi không chỉ bắt chước những thứ đó. Nhưng dĩ nhiên, rất khó để chứng minh cho bạn thấy được.
Kimberley: Tôi không nghĩ cậu có thể chứng minh được.
Emit: Đúng. Nhưng vậy thì bạn cũng không thể chứng minh cho tôi thấy bạn có thể tri giác hay có cảm xúc.
Kimberley: Tôi cũng nghĩ là tôi không thể.

Thay thế các neuron của Kimberley
Emit: Tưởng tượng rằng chúng ta từng bước một thay thế các neuron hữu cơ trong não bạn bằng các neuron nhân tạo bằng kim loại và silicon như của tôi. Sau khoảng một năm, bạn sẽ có một bộ não Brain-O-Machine như tôi. Bạn cho rằng điều gì sẽ xảy đến với bạn?
Kimberley: À, càng nhiều neuron nhân tạo được đưa vào, tôi càng từ từ mất khả năng tri giác. Cảm xúc và tư duy của tôi ngày càng cạn dần, cuối cùng bên trong tôi dường như chết, như cậu vậy. Vì neuron nhân tạo của tôi được làm từ thứ vật liệu sai. Một bộ não Brain-O-Matic chỉ là một bộ não bắt chước thôi.
Emit: Nhưng những người xung quanh sẽ không ai để ý thấy điều gì khác biệt bên ngoài của bạn?
Kimberley: Không. Tôi vẫn sẽ cư xử theo cách như cũ, vì những neuron nhân tạo vẫn hoạt động như neuron bình thường.
Emit: Đúng. Nhưng vậy liệu chính bạn có để ý thấy bất kỳ sự suy giảm tri giác hay cảm xúc khi các neuron của bạn được thay thế?
Kimberley: Sao cậu lại hỏi vậy?
Emit: Nếu bạn cảm nhận được tri giác và cảm xúc của bạn suy giảm, có lẽ bạn sẽ nói với mọi người. Bạn sẽ nói đại loại như là: "Ôi trời ơi, điều gì lạ quá đang xảy ra. Mấy tháng nay trí óc tôi hình như suy giảm dần dần."
Kimberley: Tôi hình dung ra tôi sẽ nói như vậy.
Emit: Nhưng bạn sẽ không nói gì cả, vì hành vi bên ngoài của bạn vẫn y như cũ.
Kimberley: Ồ, đúng vậy.
Emit: Theo như vậy thì dù cho tri giác và cảm xúc của bạn suy thoái dần dần, bạn vẫn không hay biết chút nào về sự suy giảm đó.
Kimberley: Ơ. Tôi nghĩ vậy.
Emit: Vậy thì lập luận của tôi đây: Bạn nghĩ rằng bạn cảm thấy bên trong mình, bạn có một thứ gì đó - tri giác, cảm xúc, gì đó - mà tôi, bạn cho rằng là một cái máy, không có. Nhưng xem ra bạn cũng không cảm thấy được cái thứ bên trong đó. Cái thứ gì đó bên trong ma thuật đó thực ra chỉ là một ảo tưởng.
Kimberley: Nhưng tôi chỉ biết rằng tri giác, tư duy, cảm xúc của tôi có gì đó hơn so với thứ được tạo ra bằng cách dán vài mảnh nhựa, kim loại và silicon lại với nhau.

Kimberley nói đúng rằng hầu hết chúng ta nghĩ rằng chúng ta cảm được bên trong mình có một "cái thứ gì đó" ma thuật và huyền bí mà chúng ta chỉ đơn giản biết rằng một đống kim loại, silicon và nhựa không thể nào có được. Nhưng để nhắc cho bạn, chắc gì một đống chất liệu hữu cơ, như một bộ não chẳng hạn, cũng có được "cái thứ gì đó"? Liệu bạn có thể tạo ra ý thức từ mấy tảng thịt không? Vậy thì, những thứ Kimberley thú nhận cho thấy rằng tri giác, hiểu biết, cảm xúc vân vân hoàn toàn phi vật chất.

Nhưng như Emit vừa chỉ ra, "cái thứ gì đó" ma thuật mà Kimberley nghĩ cô cảm được từ bên trong mà không một cái máy nào có thể có được xem ra là một ảo tưởng khi xét trường hợp Emit nêu ra ở trên. Vì nó cho thấy "cái thứ gì đó" bên trong đó là thứ Kimberley không thể cảm được. Tồi tệ hơn, thứ đó cũng không có ảnh hưởng gì tới hành vi cử chỉ bên ngoài của cô. Cô chỉ biết được những ảnh hưởng của tri giác và cảm xúc đến hành vi cử chỉ của mình nên xem ra Kimberley đã lầm. Vậy thì có vẻ, ít nhất là về nguyên tắc, một cái máy không phải hữu cơ cũng có thể có các trạng thái tâm thần như vậy.

Nhưng Kimberley vẫn chưa được thuyết phục là Emit có thể tri giác được.

Kimberley: Rồi, tôi sẽ vui vẻ giả vờ rằng cậu hiểu tôi, vì cậu được thiết kế để hoạt động như vậy. Nhưng cậu vẫn chỉ là một đống kim loại và mạch điện. Con người thực sự đáng được quan tâm và quý mến. Tôi đồng cảm với con người thực. Nhưng tôi không thể đồng cảm với một cỗ máy làm việc nhà tối tân như cậu.

Emit cúi mặt nhìn xuống tấm thảm.

Emit: Tôi vẫn chỉ là một món đồ của bạn sao?
Kimberley: Dĩ nhiên, làm sao tôi có thể làm bạn với một cái máy rửa chén - quét nhà - nấu cơm vân vân...
Emit: Brain-O-Matic chúng tôi cảm thấy bị từ chối thế này là rất buồn.
Kimberley: Ừ. Nhớ nhắc tôi chúc mừng những người đã chế tạo ra cậu đã làm ra một cái máy giả lập cảm xúc rất tuyệt vời. Giờ thì hút bụi cái thảm đi.

Một vẻ tuyệt vọng ánh lên trên mặt Emit.

Emit: Chờ một chút...

Nó đứng im một lúc rồi đổ gục xuống.Một làn khói nhẹ bốc lên từ phía cổ Emit.

Kimberley: Emit? Emit? Giờ thì thành đống sắt vụn rồi...

Một cỗ máy liệu có thể suy nghĩ không? (1)

dịch từ "Could a machine think?" trong The Philosophy Gym của Stephen Law, nhà triết học và giảng sư (senior lecturer - mình thích dịch lecturer là giảng sư hơn là giảng viên) đại học London. Trong cuốn sách lý thú này, Law viết nhiều cuộc đối thoại tưởng tượng để bàn về nhiều vấn đề hay ho: cuộc đối thoại giữa một người đàn ông và Chúa trời trong mơ về liệu hôn nhân đồng tính có sai trái, giữa hai giáo sư (vật lý/thần học) ở đại học Oxford về vũ trụ có bắt đầu từ đâu không, giữa hai kỹ sư vừa chế tạo ra máy thời gian về việc liệu có thể du hành trong thời gian như trong không gian hay không, giữa một anh chàng và một người sao Thổ (người đã lấy não của anh về nuôi trong lồng kính và tạo ra một thực tại ảo cho anh) về việc thực tại chung quanh ta có đúng là thực, giữa một bệnh nhân và một ông nha sĩ khùng điên mà suy nghĩ rất lý tính cho rằng không có cách chi chứng minh được những người khác cũng có thể có suy nghĩ... Law đưa ra lập luận từ cả hai phía cho mọi vấn đề, cung cấp cho người đọc những công cụ tư duy, rồi tùy theo tình huống mà dùng các nhân vật của mình để chỉ ra lỗi lập luận hoặc thiếu sót của phía đối diện. Rồi cuối cùng rút ra những kết luận khả dĩ.

Dưới đây là cuộc đối thoại của một cô gái và một con robot về việc liệu một cỗ máy có thể suy nghĩ. Phần 1 là lập luận của cô gái cùng với thí nghiệm tưởng tượng về căn phòng tiếng Trung Quốc của nhà triết học và giáo sư đại học UC Berkeley John Searle.
_______________________________

Kimberley và Emit
Đây là năm 2100. Kimberley Courahan mua được Emit robot cao cấp thế hệ mới nhất. Cô mới mua, chỉ vừa mới mở bao bì, cái bao còn nằm vất vưởng trên sàn bếp. Emit được thiết kế để có thể lặp lại hoàn hảo hành vi của một con người (ngoại trừ việc nó dễ phục tùng mệnh lệnh). Emit khi được hỏi sẽ trả lời hệt như một người thật. Hỏi nó cảm thấy như thế nào, nó sẽ trả lời nó vừa có một ngày tồi tệ, hoặc là hơi bị nhức đầu, hoặc là hối hận vì làm bể bình hoa, và vân vân. Kimberley bật công tắc sau lưng Emit thành "ON" và Emit sống dậy.

Emit: Xin chào. Tôi là Emit, người giúp việc và người bạn robot của bạn.
Kimberley: Chào Emit.
Emit: Bạn thế nào? Về phần mình, tôi thấy rất vui. Hơi lo lắng tí có lẽ vì đây là ngày đầu tiên. Nhưng vui. Tôi mong chờ được làm việc cho bạn.
Kimberley: Rồi, bây giờ trước khi cậu bắt đầu làm việc nhà, tôi muốn làm rõ một chuyện. Cậu không thực sự "biết" cái gì cả. Cậu không thể suy nghĩ. Cậu không có cảm xúc. Cậu chỉ là một cỗ máy. Hiểu chứ?
Emit: Tôi đúng là một cỗ máy. Nhưng dĩ nhiên là tôi hiểu được bạn. Chẳng phải tôi đang trả lời bằng tiếng Việt đây sao (nguyên bản là tiếng Anh :D)?
Kimberley: Đúng là cậu trả lời như là cậu hiểu. Nhưng tôi cam đoan với cậu là cậu chỉ bắt chước rất giống thôi. Cậu không lừa được tôi đâu.
Emit: Nếu tôi không hiểu thì bạn nhọc công nói chuyện với tôi làm gì?
Kimberley: Vì cậu được lập trình để phản ứng lại đối với mệnh lệnh bằng lời nói. Bên ngoài cậu trông giống người. Cậu cư xử hệt như cậu có trí hiểu biết, cảm xúc, giác quan và tất cả những thứ mà con người chúng tôi có. Nhưng cậu chỉ là đồ giả.
Emit: Đồ giả?
Kimberley: Đúng. Tôi đã đọc cuốn sách hướng dẫn. Bên trong cái đầu bằng nhựa và hợp kim của cậu là một máy tính cực mạnh. Cái máy đã được lập trình để cậu có thể đi đứng, nói chuyện và cư xử y như người thật. Thế nên cậu có được một trí tuệ giả lập, cảm xúc giả lập và đủ thứ khác giả lập rất tuyệt, giống y như thật. Nhưng hoàn toàn cậu không thể có trí tuệ thật hay cảm xúc thật bên trong.
Emit: Không à?
Kimberley: Không. Không nên lầm lẫn một máy tính giả lập hoàn hảo trí tuệ so với một trí tuệ thật. Người ta có thể giả lập một đại dương, nhưng đó vẫn chỉ là đồ giả. Không có sóng thật, dòng chảy thật, hay cá thật bơi trong máy tính. Nhúng tay xuống sẽ không thể bị ướt. Tương tự, cậu chỉ giả lập trí tuệ và cảm xúc. Đó không phải là đồ thật.

Kimberley nói có đúng không? Có lẽ điều này đúng đối với máy vi tính hiện giờ, chúng thiếu trí tuệ, suy nghĩ và cảm xúc thật sự. Nhưng liệu có phải về nguyên tắc, một cái máy không thể suy nghĩ? Nếu tới năm 2100, máy vi tính trở nên phức tạp như Emit, chúng ta có sai khi nói rằng chúng có thể suy nghĩ? Kimberley cho rằng chúng ta sai.

Emit: Nhưng tôi tin rằng tôi hiểu được bạn.
Kimberley: Cậu không hiểu. Cậu không có niềm tin, không ham muốn, không xúc cảm. Thật ra cậu hoàn toàn không có trí tuệ gì cả. Cậu không hiểu những lời mình nói hơn một cái máy cát sét hiểu những âm thanh đang phát ra từ cái loa.
Emit: Bạn đang làm tôi rất buồn.
Kimberley: Tôi làm cậu buồn? Tôi không cảm thấy có lỗi chút nào đối với một đống kim loại pha nhựa cả.


Thí nghiệm tưởng tượng về căn phòng tiếng Trung Quốc của Searle.
Kimberley giải thích vì sao cô cho rằng Emit không có trí tuệ. Cô dẫn ra một thí nghiệm tưởng tượng triết học  nổi tiếng.

Kimberley: Lý do cậu không hiểu là vì cậu được vận hành bởi một cái máy vi tính. Mà máy vi tính thì không hiểu gì cả. Về bản chất, cái máy tính chỉ là một dụng cụ xáo các ký hiệu. Các chuỗi ký hiệu được đưa vào. Rồi tùy theo cái máy tính được lập trình ra sao, nó sẽ cho ra các chuỗi ký hiệu trả lời. Không cần biết máy tính phức tạp thế nào, đó là việc cái máy làm.
Emit: Có chắc là thế không?
Kimberley: Chắc. Chúng tôi làm ra máy tính để lái máy bay, vận hành hệ thống tàu lửa, và nhiều thứ khác. Nhưng cái máy tính lái máy bay không biết là nó đang bay. Nó chỉ làm việc cho ra các chuỗi ký hiệu tùy thuộc vào chuỗi ký hiệu đầu vào. Nó không hiểu rằng chuỗi ký hiệu nó nhận được phản ánh vị trí của máy bay trên trời, hay lượng xăng còn lại trong bình. Nó cũng không biết rằng chuỗi ký hiệu nó đưa ra sẽ điều khiển cái cánh phụ, bánh lái và động cơ máy bay. Những gì cái máy tính phải làm là nó xáo các ký hiệu lên tùy thuộc vào chương trình. Các ký hiệu không có ý nghĩa gì đối với cái máy tính.
Emit: Bạn chắc chứ?
Kimberley: Hầu như chắc. Tôi sẽ chứng minh cho cậu thấy. Để tôi nói cậu nghe một thí nghiệm tưởng tượng của nhà triết học John Searle từ năm 1980. Một người phụ nữ ngồi trong một căn phòng bị khóa được giao cho một xấp thẻ có in chữ Trung Quốc. Người phụ nữ hoàn toàn không biết chữ Hán, cô nghĩ những cái thẻ này chỉ là những hình thù nguệch ngoạc vô nghĩa. Cô cũng được giao cho một xấp thẻ khác cùng tập hướng dẫn phải sắp xếp các ký tự này lại với nhau như thế nào để đưa ra một chuỗi ký tự trả lời.
Emit: Câu chuyện thú vị đấy, nhưng hai xấp thẻ đó nghĩa là sao?
Kimberley: Xấp thẻ thứ nhất kể một câu chuyện bằng tiếng Hán. Xấp thứ hai hỏi một số câu hỏi về câu chuyện đó. Cuốn hướng dẫn - giống như lập trình cho người phụ nữ - giúp cô trả lời đúng những câu hỏi tiếng Trung Quốc đó,
Emit: Trả lời y như một người Trung Quốc.
Kimberley: Đúng vậy. Bây giờ những người đứng bên ngoài đều là người Trung Quốc. Những người này sẽ bị lừa rằng ở trong căn phòng kia là một người hiểu tiếng Hán và hiểu câu chuyện, có phải không?
Emit: Phải.
Kimberley: Nhưng, thật ra người phụ nữ có hiểu gì đâu, có phải không?
Emit: Không, không hiểu gì cả.
Kimberley: Cô không hiểu gì về câu chuyện. Thậm chí cô cũng không cần biết đó là một câu chuyện. Cô chỉ xáo và sắp xếp các ký tự lại theo hướng dẫn bằng cách nhìn vào hình dạng ký tự. Cô đang làm việc mà một cái máy có thể làm.

Emit: Tôi hiểu rồi. Bạn nói rằng máy tính cũng vậy, cũng chẳng hiểu gì cả?
Kimberley: Đúng. Đó là mục đích của Searle. Cùng lắm cái máy chỉ có thể giả lập trí tuệ thôi.
Emit: Và bạn nghĩ tôi cũng như vậy?
Kimberley: Dĩ nhiên. Mọi máy tính, dù phức tạp tới đâu, đều hoạt động theo cùng một kiểu. Chúng không hiểu những ký hiệu chúng sắp xếp một cách cơ học. Chúng không hiểu gì cả.
Emit: Và đây là lý do bạn nghĩ tôi cũng không hiểu gì cả?
Kimberley: Chính xác. Bên trong cậu là một cái máy sắp xếp ký hiệu vô cùng phức tạp. Thế nên cậu không hiểu gì cả. Cậu chỉ tạo ra một giả lập vi tính hoàn hảo về một con người có tri giác.
Emit: Thật lạ. Tôi đã nghĩ là mình hiểu.
Kimberley: Cậu chỉ nói vậy vì cậu là một máy giả lập hoàn hảo.

Dĩ nhiên Emit vô cùng phức tạp hơn so với bất kỳ một máy tính nào hiện nay. Tuy nhiên, Kimberley cho rằng Emit hoạt động theo một nguyên lý căn bản. Nếu Kimberley đúng, vậy thì theo Searle, Emit không hiểu gì cả.

(còn tiếp)

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Trải nghiệm triết học (2) : Ghi chép về Milgram

Trách nhiệm bắt đầu từ trong mơ
William Butler Yeats






Sách của Kolak (2006) chép lại một đoạn về "Sự tuân lệnh người cầm quyền" của nhà tâm lý học Stanley Milgram của đại học Yale, trích trong cuốn sách cùng tên của ông xuất bản năm 1974 ở New York. Trong đoạn trích, Milgram miêu tả thí nghiệm nổi tiếng của mình mà Kolak gọi là "thí nghiệm gây chấn động nhất và quan trọng nhất từng được thực hiện về hành vi loài người" (tr.22). 

Thí nghiệm của Milgram nhằm tìm câu trả lời cho câu hỏi một người bình thường liệu sẽ có thể tuân theo mệnh lệnh mà tra tấn hoặc thảm sát những người vô tội khác đến mức độ nào, đặc biệt thí nghiệm hướng tới trường hợp của Adolf Eichmann và trường hợp những lính Mỹ tham gia cuộc thảm sát Mỹ Lai năm 1968.

I. Về Eichmann: Eichmann là trung tá của SS Đức Quốc xã, là người chịu trách nhiệm chính về việc bắt bớ và thủ tiêu người Do Thái. Eichmann phải quan tâm tới việc làm sao để thủ tiêu được nhiều người Do Thái một cách hiệu quả nhất, ít tốn kém nhất. Sau chiến tranh, Eichmann giả mạo giấy tờ để trốn, thoát được phiên tòa Nuremberg nhưng cuối cùng cũng bị bắt và đưa ra xét xử ở Israel. Trong suốt cuộc xét xử, Eichmann một mực khăng khăng mình chỉ làm đúng theo mệnh lệnh cấp trên.

II. Về Cuộc Thảm sát Mỹ Lai: Trong thời kì diễn ra Tổng khởi nghĩa Mậu Thân, Quân đội Mỹ được lệnh càn quét và giết tất cả du kích cũng như binh lính Việt Cộng và "những người khả nghi" ở vùng thôn Mỹ Lai, Quảng Ngãi. Rốt cuộc đã diễn ra một cuộc thảm sát và tra tấn quy mô, nạn nhân gần như tất cả là người già, phụ nữ và trẻ em. Đến cuối buổi sáng thì tin mới đến tai thượng cấp và lệnh ngừng bắn được đưa ra. Kết quả là 504 dân thường thiệt mạng. Phía Lục quân Hoa Kỳ cố gắng che giấu nhưng cuối cùng vẫn bị lộ ra thông tin về cuộc thảm sát. Phiên tòa được tiến hành nhưng chỉ có duy nhất thiếu tá Calley bị kết án, mặc dù cũng một mực bào chữa mình chỉ làm theo mệnh lệnh cấp trên

III. Thí nghiệm Milgram:
- Khái niệm: Một người được đưa vào phòng thí nghiệm tâm lý và được bảo phải làm một chuỗi hành động ngày càng xung khắc với lương tâm. Vấn đề đặt ra ở đây là người đó sẽ tiếp tục tiến thành thí nghiệm đến mức độ nào trước khi từ chối không làm nữa.
- Tiến hành: 
  • Có 2 người được đưa vào phòng thí nghiệm ban đầu được nói là để làm thí nghiệm về trí nhớ và việc học tập. Một người sẽ đóng vai "giáo viên" và một người vai "sinh viên". Người "sinh viên" sẽ ngồi trong một căn phòng, tay chân giữ chặt để tránh cử động lung tung và một điện cực được gắn vào hông. Anh ta được bảo phải học một danh sách các cặp từ, nếu mắc lỗi anh ta sẽ bị phạt bằng một dòng điện ngày càng mạnh dần (từ 15 volt tới 450 volt, mỗi lần tăng 15 volt).
  • Người "giáo viên" sau khi chứng kiến người "sinh viên" bị buộc vào ghế sẽ được đưa sang một gian phòng khác để giám sát việc học của "sinh viên". Mỗi lần "sinh viên" trả lời đúng, "giáo viên" sẽ chuyển sang cặp từ khác, mỗi lần trả lời sai, "giáo viên" sẽ phải nhấn nút để phạt "sinh viên".
  • "Sinh viên" là các diễn viên, họ thực ra không phải chịu bất kì một dòng điện nào cả, chỉ việc đóng giả các mức độ bị điện giật. "Giáo viên" là đối tượng chính của thí nghiệm.
  • Mỗi khi "giáo viên" chần chừ không đưa ra quyết định phạt "sinh viên", người giám sát thí nghiệm sẽ ra lệnh cho anh ta tiếp tục tiến hành thí nghiệm: (lần 1: Xin hãy tiếp tục; lần 2: Thí nghiệm đòi hỏi anh phải tiếp tục; lần 3: Anh phải tiếp tục, điều đó thực sự rất cần thiết; lần 4: Anh không có lựa chọn nào, anh phải tiếp tục). Sau 4 lần ra lệnh, nếu "giáo viên" tiếp tục từ chối, thí nghiệm ngừng lại.
- Kết quả: Mặc dù nhiều "giáo viên" phải đối mặt với sự căng thẳng tột độ, mặc dù nhiều người phản đối người giám sát thí nghiệm, nhưng một phần lớn đáng kể họ tiếp tục tiến hành thí nghiệm cho tới cú giật điện cuối cùng. Rất nhiều người tiếp tục tuân theo lệnh của người giám sát thí nghiệm dẫu cho "nạn nhân" có cầu khẩn nài xin ngừng lại tới đâu.

IV. Milgram giải thích
- Milgram cho rằng có một sự khác biệt lớn giữa hoàn cảnh của những người tiến hành thí nghiệm với những sĩ quan và người lính trong chiến tranh thực sự; và người giám sát thí nghiệm cũng có rất ít quyền lực đối với người "giáo viên" nếu so với quyền lực của một vị tướng trong chiến tranh. "Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế nhưng tôi cho rằng việc quan sát kỹ lưỡng sự tuân lệnh trong trường hợp đơn giản này là cần thiết nhằm mục đích có được thêm những hiểu biết và rút ra được kết luận chung để áp dụng cho nhiều trường hợp khác nữa".
- Milgram nhắc tới ý kiến của Hannah Arendt về việc những người khởi tố Eichmann cho rằng Eichmann là một con quái vật tàn ác là sai một cách cơ bản, rằng Eichmann chỉ là một sĩ quan bàn giấy ngồi ở bàn làm việc của mình và làm công việc mình được giao. "Sau khi chứng kiến hàng trăm người bình thường cam chịu tuân lệnh trong thí nghiệm của mình, tôi phải kết luận rằng quan niệm của Arendt về sự tầm thường của cái ác đã tiến đến rất gần chân lý hơn người ta dám tưởng tượng".
- Những điều khiến đối tượng tiếp tục tuân theo mệnh lệnh:
     1. Những nhân tố níu kéo đối tượng: lời hứa ban đầu sẽ tiến hành thí nghiệm, ngại rút lui, sợ tỏ ra bất lịch sự nếu từ chối tiến hành.
     2. Sự điều chỉnh tâm lý của đối tượng:
(i) Một cơ chế điều chỉnh là xu hướng tập trung vào khía cạnh kỹ thuật hẹp của thí nghiệm mà mất đi tầm nhìn rộng hơn về hậu quả của thí nghiệm.
(ii) Cơ chế điều chỉnh thường thấy nhất là sự điều chỉnh suy nghĩ sao cho đối tượng nhìn thấy trách nhiệm không thuộc về hành động của mình. Anh ta rũ bỏ trách nhiệm từ phía mình mà chuyển sang cho người giám sát thí nghiệm. Anh ta xem mình không phải là một người thực hiện hành động liên quan đến vấn đề đạo đức mà chỉ là một phương tiện của một quyền lực bên ngoài. Hầu hết đối tượng sau thí nghiệm đều trả lời: "Nếu là tôi quyết định, tôi đã chẳng làm như thế. Tôi chỉ làm những gì tôi được bảo phải làm". Đó cũng là câu trả lời được nghe nhiều nhất ở phiên tòa Nuremberg. 
      3. Đặt ra mục đích cao thượng cho hành động của mình. Phần lớn đối tượng trong thí nghiệm đặt mình vào trong văn cảnh lớn hơn, rằng điều họ làm có ích cho cộng đồng - họ đang tham gia tìm cầu chân lý khoa học. Điều này giống với tâm lý dân Đức khi được tuyên truyền suốt cả một thập kỷ về việc chấp nhận một sự diệt chủng Do Thái, cũng như giống tâm lý lính Mỹ trong chiến tranh VN. 

V. Biến thể của thí nghiệm
Đối tượng lần này không được yêu cầu kích hoạt hình phạt nữa, mà chỉ nhấn nút ra lệnh cho một đối tượng khác thực hiện hình phạt. Trong trường hợp này 37 trên 40 người ở New Haven tiến hành thí nghiệm cho tới mức cao nhất. Như dự đoán, các đối tượng đều cho rằng trách nhiệm không thuộc về họ nữa mà thuộc về người nhấn nút thực hiện hình phạt. Điều này cho thấy "về mặt tâm lý, rất dễ dàng để chối bỏ trách nhiệm nếu mỗi người chỉ là một nút thắt trong cái dây chuyền tội ác". "Ngay cả Eichmann cũng sẽ phát ốm nếu chứng kiến những trại tập trung, nhưng để thực hiện việc giết chóc hàng loạt, ông chỉ cần ngồi ở bàn làm việc và lật giấy" (Milgram, 1974). 


Milgram biên, "Hình thái của xã hội và cách xã hội phát triển góp phần rất lớn vào việc này", rằng "Từ khi có sự phân chia lao động của loài người, mọi thứ đã thay đổi. Việc đập nhỏ tổ chức xã hội ra theo cách mọi người lo một công việc hạn hẹp và chuyên môn của mình khiến cho chất lượng công việc và cuộc sống con người mất đi một phần nào đó. Một người không được nhìn thấy toàn cảnh công việc, do đó không thể hành động mà không có một chỉ dẫn toàn diện nào. Anh dựa dẫm hoàn toàn vào người cầm quyền nhưng chính làm như thế, anh đã xa rời khỏi chính hành động của mình".


__________________________


Ngoài phần đầu cùng 2 phần Eichmann và thảm sát Mỹ Lai, phần còn lại chủ yếu là ghi chép từ đoạn trích nguyên tác của Milgram trong sách Trải nghiệm triết học của Kolak và Martin.

Phim về thí nghiệm của BBC trên Youtube.

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

Trải nghiệm triết học (1)

CÓ CẢ MỘT ĐẠI DƯƠNG ĐÓNG BĂNG BÊN TRONG CHÚNG TA. Triết học là một lưỡi rìu.

Mọi thứ bạn tin đều đáng ngờ. Bạn đã bao giờ đặt câu hỏi một cách thật sâu sắc về mọi thứ chưa? Sự chấp nhận một niềm tin, mà không chút mảy may phê phán gợn lên trong bạn, được truyền cho bạn từ cha mẹ bạn, từ thầy cô giáo bạn, từ các chính trị gia và các lãnh tụ tôn giáo, đó là một điều nguy hiểm. Nhiều niềm tin chỉ đơn giản là một sự ngộ nhận. Một vài trong số đó lại là những lời lừa dối, được tạo dựng nhằm mục đích điều khiển bạn. Ngay cả khi những điều được truyền đạt đó là đúng, chúng cũng không phải là chân lý của bạn. Chấp nhận một điều mà không hề thắc mắc gì, điều đó biến bạn thành một con rối, một con người thứ cấp.

Niềm tin có thể truyền đạt lại. Kiến thức cũng có lẽ có thể truyền đạt lại. Nhưng sự minh triết không bao giờ có thể truyền đạt. Mục tiêu của triết học là đạt lấy sự minh triết. Mọi cố gắng nhằm truyền đạt triết học đều không mang tính triết học*.

Minh triết đòi hỏi phải biết thắc mắc những điều đáng thắc mắc, nghi ngờ những điều đáng ngờ. Vì chưng mọi thứ đều đáng thắc mắc và đáng ngờ, minh triết đòi hỏi phải thắc mắc và nghi ngờ mọi thứ. Đó chính là triết học: nghệ thuật nghi ngờ mọi thứ.

(Phần Một: Bắt đầu vào triết học)

Daniel Kolak và Raymond Martin (2006) Trải nghiệm triết học (The Experience of Philosophy) 6th edition. New York, Oxford: Oxford University Press.

____________________

*: Trying to hand down philosophy is unphilosophical

____________________

Đây là quyển sách đầu tiên tôi mượn về từ thư viện.

Nguyên bản tiếng Anh của lời mở đầu phần một là một đoạn văn ngắn rất gợi hứng. Mục tiêu của đoạn văn hướng tới đó là kêu gọi mọi người hãy biết thắc mắc. Chữ "question" và "questionable", tôi dịch bằng cả 2 từ: đáng ngờ và đáng thắc mắc. Xét về mặt cảm quan cá nhân, tôi thấy nếu chỉ chuyển nghĩa bằng 1 từ tiếng Việt, nó không mang lại đầy đủ ý nghĩa cho mục tiêu của triết học.

Tôi chợt nhớ về "Thế giới của Sophie", quyển sách triết học đầu tiên tôi đọc trong đời, năm tôi 13 tuổi. Nhà triết học Alberto luôn nói với Sophie rằng, trẻ con là những triết gia bẩm sinh, vì chúng luôn thắc mắc, các triết gia thực thụ là những người vẫn còn giữ được niềm hân hoan thơ trẻ và tươi mới đó vì họ luôn nhìn thế giới quanh mình bằng một con mắt lạ lẫm và luôn đặt câu hỏi. Hầu hết, khi người ta lớn lên, chúng ta đều tự ngộ nhận rằng mình biết đủ rồi và tự cho mình cái quyền tỏ ra quen thuộc với thế giới này. Hệt như một chú học trò giỏi toán tỏ vẻ khinh người trước một thầy giáo già đã học toán, làm toán và dạy toán hơn 30 năm; chúng ta cũng y như vậy. Chúng ta sống trên đời vài chục năm thế mà đã tự cho rằng mình biết hết vạn sự ở cái thế giới già cỗi này, thông tuệ hết mọi phức tạp tinh vi của cái xã hội đã hình thành hàng chục ngàn năm nay. Bằng cách đó, chúng ta tự tước đi của mình cái quyền ngạc nhiên về thế giới.

Nhiều nhà nghiên cứu đã viết rằng về bản chất, dân tộc Việt Nam là một dân tộc ít có tư duy triết học. Giáo sư Trần Đình Sử một lần phân tích câu chuyện dân gian Thầy bói xem voi (bấm vào link để xem) đã nhận xét tâm thức dân tộc Việt thiếu một tầm triết lý, nếu so sánh với các dân tộc lớn Trung Hoa, Ấn Độ... Tôi đã từng quan sát trong số các bạn bè mình, tôi cũng thấy nhiều khi có một sự thiếu nghiêm túc khi đề cập đến các khái niệm hình thành nên tư duy về bản chất của mọi thứ trong cuộc sống quanh ta.

Các bạn tôi giờ đây hầu hết đều đang học năm thứ nhất đại học. Ở Việt Nam, các bạn sẽ phải cày bừa để vượt qua được cái môn gọi là chủ nghĩa Mác - Lênin. Có trường gọi đó là học triết học, có trường gọi là học chính trị. Về phần mình, tôi nghĩ đó không phải là một môn triết học. Đừng tưởng ở các nước tư bản phương Tây, Các Mác không được đánh giá cao. Mác được đại học Cambridge bình chọn là nhà tư tưởng đứng đầu của thiên niên kỉ, làm thay đổi bộ mặt của xã hội cũng như nhận thức của nhân loại về lao động. Thư viện trường tôi đang học có cả một tủ các tác phẩm của Mác và Ăng-ghen. Dạy sinh viên về tư tưởng của những người vĩ đại đặt nền móng cho lý tưởng mà đất nước đang theo đuổi là một việc làm không có gì sai trái, thế nhưng làm sao có thể gọi đó là một môn triết học cho được khi mà sinh viên thậm chí còn không có ý muốn tìm hiểu gì về bản chất các mối quan hệ sản xuất là như thế nào.

Tôi nhận thấy ngay từ việc nhảy thẳng vào Mác mà dạy, bắt đầu từ những năm đầu cấp 3 trong môn GDCD mà không cho thấy một quá trình phát triển tư duy của nhân loại đã là một thất bại to lớn của cách dạy triết học (mặc dù là sơ cấp) ở nước ta. Tôi không hề biết sinh viên chuyên ngành triết học sẽ học như thế nào, nhưng một đất nước mạnh phải là một đất nước hiểu mình đang làm gì, và sinh viên, kể cả kỹ sư, bác sĩ, nhà giáo, nhà khoa học, nhà kinh tế, chưa kể nhà lãnh đạo, những cái đầu tương lai của đất nước, cần phải ít nhất có một hiểu biết nhất định về triết học, vì triết học không chỉ là một môn học về nhân loại đã tư duy những gì và như thế nào mà còn là một môn học dạy người ta phải biết tư duy những gì và như thế nào.Việc tước bỏ những Plato, Aristotle, Kant, hay tất cả những người trước Mác và sau Mác khỏi kiến thức của đại đa số học sinh sinh viên chính là một cách làm thui chột bản năng tò mò và thắc mắc, chẳng khác nào việc tước đi tinh thần triết học khỏi những bộ óc tương lai này.