Tôi mới coi phim Little Buddha của Bertolucci xong. Thật ra tôi cứ nhớ lộn phim Kundun coi lúc hồi mới qua Thụy Sĩ là của Bertolucci nhưng thật ra phim này mới là của Bertolucci. Phim này có thể nói là xuống tay so với phim Vị hoàng đế cuối cùng, hai nhân vật ông bố bà mẹ xây dựng quá đơn giản, tự nhiên có mấy ông sư ở đâu ra qua nhà nói con ông bà là chuyển thân của thầy tụi tôi, vậy mà mặt vẫn trơ trơ ra, phản ứng kì cục. Tuyến truyện kia của Keanu Reeves đóng vai Tất Đạt Đa thì cũng chầm chậm, coi thấy giống kiểu cố tình làm cho giống mấy sách dạy giáo lý, nhưng quay đẹp hơn nhiều so với mấy phim cuộc đời Đức Phật này kia của Ấn Độ làm.
Thế nhưng xét các điểm trừ đó là xét ở khía cạnh điện ảnh, còn nếu xem từ khía cạnh một câu chuyện Phật giáo thì đúng là nó chầm chậm, bình tĩnh, không cần lên gân, nhẹ nhàng thoải mái. Rõ ràng là cố tình nhái kiểu kể chuyện của phim Phật. Và nói lại lần thứ hai: phim quay vẫn rất đẹp kiểu Bertolucci.
Tóm lại là dù xuống tay nhưng vẫn hay, và nhắc lại lần thứ ba là quay đẹp.
Có nhiều đoạn hay, nhất là đoạn thầy lạt ma Norbu ngồi thiền xong viên tịch, xong bóng thầy vẫn còn đâu đây, đọc Bát nhã tâm kinh bằng tiếng Anh và camera lia những thước phim rất đẹp. Các bạn có thể coi trên youtube có trích đoạn đó (thôi coi luôn ở đây đi, tôi cho vào đây để sau này tôi coi lại luôn cho tiện). Đoạn hay nhất là đoạn: vì không có gì để thành tựu, Bồ tát nương vào trí tuệ (bát nhã) tối thượng (ba la mật đa), tâm không còn sợ hãi, tâm không còn sợ hãi thì xa rời mộng tưởng điên đảo, đạt tới Niết bàn.
Bài hát cuối phim vẫn là nhạc của Ryuichi Sakamoto. Lần này là Bát nhã tâm kinh bằng tiếng Phạn phối lại theo kiểu thanh nhạc phương Tây (rất là Baroque luôn).
Kính mời các cụ.
Để tôi đi cop lyrics về cho anh chị đọc
śāriputra: rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ
(Xá lợi tử, sắc tức là không, không tức là sắc)
rūpān na pṛthak śūnyatā śunyatāyā na pṛthag rūpaṃ
(Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc)
yad rūpaṃ sā śūnyatā; ya śūnyatā tad rūpaṃ
(Cái gì sắc cũng đều là không, cái gì không cũng đều là sắc)
tadyathā: gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā
(Vậy hãy đọc chú: gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā)
Không biết sao nghe bài này tôi cứ nghĩ đến một bài khác, chắc nhạc Sakamoto có mấy chỗ giống. Nghĩ hoài vẫn không nhớ được bài khác kia tên là gì, chỉ nhớ giai điệu. Nghĩ thêm một lúc nữa, với sự trợ giúp của Soundhound thì Soundhound bảo là có thể bài này là bài Pavane chăng. A đúng rồi, Pavane, nhưng mà Soundhound bảo là Pavane của Fauré. Không phải, cũng từa tựa, tôi nghe chục nốt đầu là tôi đã biết rồi, pavane này cũng trong trí nhớ của tôi nhưng không phải pavane tôi đang cần tìm. Nhớ thêm một lúc nữa thì tôi nhớ ra đó là Pavane của Ravel. Tên đầy đủ là Điệu pavane cho một nàng công chúa đã qua đời, ôi giời ơi.
Mời quý anh quý chị nghe pavane do Seiji Ozawa chỉ huy, trên youtube có bản chuyển động nữa nhưng mà tiếng bé quá.
Tôi nói thật chứ vai Phật của Keanu Reeves trong phim này thì cũng tạm được thôi. Diễn viên hay nhất trong phim này là người đóng thầy lạt ma Norbu: ông Anh Nhược Thành (英若诚). Ông này từng đóng vai ông trưởng trại tù của Phổ Nghi trong phim Vị hoàng đế cuối cùng, sau bị cách mạng văn hóa đem ra đấu tố. Ông Anh là người Mãn Châu, bà nội lại còn thuộc tộc Ái Tân Giác La, vậy mà lên làm tới thứ trưởng bộ Văn hóa của TQ. Là cựu thứ trưởng mà không hiểu sao ông đóng được phim này, có nhắc tới sự kiện TQ xâm lược Tây Tạng.
Trang
Mây và sóng
Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Hiển thị các bài đăng có nhãn đạo Bụt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đạo Bụt. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019
Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013
Não ở đây vậy tôi ở đâu?
Trong cuốn Chim lửa tập Tái sinh (Resurrection hay tựa tiếng Nhật là 復活 - fukkatsu Phục hoạt), Tezuka làm hai cuộc giải phẫu giả tưởng: ghép não của bà trùm mafia vào xác cậu thanh niên và sao ghép thông tin từ não cậu thanh niên và từ "não" con robot vào một bộ não nhân tạo để tạo ra Robita. Kết quả là bà trùm mafia sống dậy trong xác cậu thanh niên, còn cậu thanh niên nhập vào làm một với tình yêu là con robot Chihiro của mình.
Ở đây tôi hiểu rằng Tezuka áp dụng cái thuyết "não tôi ở đâu thì cái gọi là tôi ở đó". Trong phần đầu bài luận Where am I? (Tôi ở đâu?) của Daniel Dennett, ông kể một câu chuyện tưởng tượng: ông được chính quyền Mỹ mời làm một dự án khoa học. Trong dự án này, ông phải tiếp xúc với một loại tia, tia này gây tổn thương tới một loại mô não nhất định, ngoài ra không ảnh hưởng gì các bộ phận khác. Do đó, ông được làm một cuộc giải phẫu đưa não ra khỏi hộp sọ của ông, nuôi trong bể kính, và truyền thông tin tới cơ thể ông thông qua sóng điện từ nhận bởi ăng-ten trên hộp sọ. Sau cuộc phẫu thuật, ông đi đến phòng nuôi não của mình, nhìn vào cái não đang nổi lềnh bềnh trong lồng kính, tự hỏi mình đang ở đâu. Liệu ông có thể nghĩ mình đang nằm trong lồng kính đối diện với đôi mắt của chính mình hay không. Rồi ông đưa ra ba giả thuyết:
1. Não tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
2. Thân tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
3. Cái gọi là "tôi" ở bất kỳ nơi nào mà nó đang nghĩ tới.
Giả sử chúng ta có thể hoán đổi não như trong truyện Chim lửa, A và B làm một cuộc đổi não. Não của A ghép vào người B, não B ghép vào người A. Kịch bản mà ai cũng hình dung ra trong đầu là khi tỉnh dậy, A sẽ thấy mình trong xác B, và B thấy mình trong xác A. Ở đây chúng ta đang bỏ qua cái "linh hồn", kiểu tráo đổi hồn phách này nọ như kiểu hồn Trương Ba da hàng thịt. Đó là chúng ta đang mặc định áp dụng thuyết "não tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng áp vào trường hợp tách não như của Dennett, ta mới thấy rõ ràng thuyết này hơi kỳ. Theo như Dennett, thì ta thấy mình có vẻ ở trong cái xác không não thì đúng hơn, nghĩa là theo cái thuyết "thân tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng thuyết này khi áp dụng vào trường hợp ghép não lại bị kỳ cục, thân người B chứa não người A sẽ tự nhận mình là A (theo não) chứ không phải người B (theo thân).
Như vậy, có thể cả hai giả thuyết 1 và 2 đều có vấn đề. Tôi nghĩ vấn đề nằm ở ý niệm "ở đây". Khi nói "tôi ở đây" nghĩa là tôi tương tác với môi trường xung quanh thông qua các giác quan (thọ tưởng hành thức gì đó). Nói một kiểu rất sáo rỗng (tôi thấy sáo) là ý thức về thực tại có được do não tương tác với giác quan. Đây có lẽ là một kiểu chỉnh sửa cho thuyết "não". Trong trường hợp ghép não, rõ ràng não A có ý thức rằng nó đang ở trong cơ thể B là nhờ nó tương tác với các giác quan của B. Trong trường hợp Dennett, rõ ràng não có ý thức nó ở trong cơ thể không não là nhờ nó các giác quan báo với nó qua sóng điện từ.
__________________
Ê, nhưng những trường hợp trên đều là giả tưởng. Giả tưởng nghĩa là tất cả những cái như là não A thấy mình trong xác B đều là kịch bản tưởng tượng. Dù nghe có đúng hay tất lẽ thế nào thì dù sao cũng chỉ là giả tưởng. Biết đâu được nếu một ngày người ta ghép não được, như là ghép tim hiện nay vậy, ông B sau khi ghép tim ông A vẫn tự nhận mình là B, thì khi ghép não ông A sẽ vận tự nhận mình là B. Não có gì đặc biệt hơn toàn bộ phần còn lại của cơ thể con người để mà cho rằng nó chứa đựng cái gọi là "tôi". Người ta cho rằng não chứa đựng ký ức của con người, mà ký ức (phần nào) quy định cái tự nhận là "tôi".
Sau đây là một thí nghiệm giả tưởng nữa của Stephen Law. Giả sử có một cái máy, tôi bước vào hộp 1, nhấn nút, toàn bộ thông tin về từng nguyên tử cấu tạo nên cơ thể tôi sẽ được chuyển sang hộp 2 để tái tạo lại một bản sao y chang con người tôi, và cơ thể ở hộp 1 sẽ bị phân rã hoàn toàn. Chúng ta không xét về mặt cơ học lượng tử phức tạp này nọ rằng liệu thông tin có chính xác không hay là sẽ có sai số và vì vậy, bản sao có thực sự giống không, ở đây ta giả sử bản sao giống y hệt. Nghĩa là bản sao A' của ông A có ký ức y hệt, tư duy y hệt bản gốc ông A. Vậy có thể nào xem như ông A đã được "dịch chuyển" tức thời từ hộp 1 sang hộp 2 không? Vậy người bước ra từ hộp 2 có thể nào xem là ông A không, hay chỉ là một bản sao A'? Nếu A' suy nghĩ và có ký ức giống hệt A, vậy A' có tự nhận mình là A không? Nếu tôi là A', tôi sẽ nhớ mình đã đứng ở hộp 1 vài giây trước, nhấn nút và biến sang hộp 2, vì não (ký ức) của tôi được tái tạo giống hoàn toàn, nhưng tôi có dám nói mình chính là "tôi" không?
Lại tiếp tục giả sử có một trục trặc gì đó với cái máy, sau khi bấm nút, tôi trong hộp 1 không biến mất, nhưng tôi trong hộp 2 vẫn được tạo ra. Khi đó, bước ra khỏi hộp 1 là tôi, còn bước ra khỏi hộp 2 có phải là "tôi" không? Vậy tôi ở đâu? Có thể nào cả hai đều là tôi không?
_________________
Mấy hôm gần đây tôi bỗng tập nhìn thực tại theo kiểu một chuỗi continuum. Continuum là một chuỗi liên tục. Hãy hình dung một bộ phim, thực chất nó là một chuỗi những hình ảnh ngắt quãng được xếp liên tục nhau, 24 hình một giây.
Bụt dạy ta là tổng thể của năm cái hợp lại: sắc thọ tưởng hành thức. Năm yếu tố, một cái sắc là thân xác vật lý, bốn cái kia là thuộc tâm (lý). Năm cái này hợp lại gây ra cái gọi là "tôi", ngoài năm cái ra, không tìm được tôi ở đâu cả.
Khi bơi trong hồ tôi lại nghĩ đến những lát cắt ngắt quãng, ở tại mỗi điểm của thời gian, tất cả những nguyên tử trong tôi, lẫn những nguyên tử trong hồ bơi, đều có một giá trị tọa độ kỳ vọng nhất định. Các giá trị ấy, ở mỗi thời điểm là mỗi khác. Ứng với mỗi cái "sắc", tôi lại được khuyến mãi thêm bốn cái "thọ tưởng hành thức" đi kèm.
Tôi cũng nghĩ đến dòng nghiệp như một sợi chỉ, hay một vector, để khi năm uẩn tạo nên ta bị hoại rữa, năm uẩn khác lại tạo ra. Như mộng huyễn bào ảnh, như lộ, diệc như điện. Chuỗi continuum tiếp tục khi ta chết đi. Năm uẩn mới lại được tạo ra ở từng lát cắt không-thời gian khác. Không thể nói là "tôi" tái sinh, mà là dòng nghiệp vẫn tuôn chảy.
Bài luận Tôi ở đâu? của Daniel Dennett:
www.lehigh.edu/~mhb0/Dennett-WhereAmI.pdf
Ở đây tôi hiểu rằng Tezuka áp dụng cái thuyết "não tôi ở đâu thì cái gọi là tôi ở đó". Trong phần đầu bài luận Where am I? (Tôi ở đâu?) của Daniel Dennett, ông kể một câu chuyện tưởng tượng: ông được chính quyền Mỹ mời làm một dự án khoa học. Trong dự án này, ông phải tiếp xúc với một loại tia, tia này gây tổn thương tới một loại mô não nhất định, ngoài ra không ảnh hưởng gì các bộ phận khác. Do đó, ông được làm một cuộc giải phẫu đưa não ra khỏi hộp sọ của ông, nuôi trong bể kính, và truyền thông tin tới cơ thể ông thông qua sóng điện từ nhận bởi ăng-ten trên hộp sọ. Sau cuộc phẫu thuật, ông đi đến phòng nuôi não của mình, nhìn vào cái não đang nổi lềnh bềnh trong lồng kính, tự hỏi mình đang ở đâu. Liệu ông có thể nghĩ mình đang nằm trong lồng kính đối diện với đôi mắt của chính mình hay không. Rồi ông đưa ra ba giả thuyết:
1. Não tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
2. Thân tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
3. Cái gọi là "tôi" ở bất kỳ nơi nào mà nó đang nghĩ tới.
Giả sử chúng ta có thể hoán đổi não như trong truyện Chim lửa, A và B làm một cuộc đổi não. Não của A ghép vào người B, não B ghép vào người A. Kịch bản mà ai cũng hình dung ra trong đầu là khi tỉnh dậy, A sẽ thấy mình trong xác B, và B thấy mình trong xác A. Ở đây chúng ta đang bỏ qua cái "linh hồn", kiểu tráo đổi hồn phách này nọ như kiểu hồn Trương Ba da hàng thịt. Đó là chúng ta đang mặc định áp dụng thuyết "não tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng áp vào trường hợp tách não như của Dennett, ta mới thấy rõ ràng thuyết này hơi kỳ. Theo như Dennett, thì ta thấy mình có vẻ ở trong cái xác không não thì đúng hơn, nghĩa là theo cái thuyết "thân tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng thuyết này khi áp dụng vào trường hợp ghép não lại bị kỳ cục, thân người B chứa não người A sẽ tự nhận mình là A (theo não) chứ không phải người B (theo thân).
Như vậy, có thể cả hai giả thuyết 1 và 2 đều có vấn đề. Tôi nghĩ vấn đề nằm ở ý niệm "ở đây". Khi nói "tôi ở đây" nghĩa là tôi tương tác với môi trường xung quanh thông qua các giác quan (thọ tưởng hành thức gì đó). Nói một kiểu rất sáo rỗng (tôi thấy sáo) là ý thức về thực tại có được do não tương tác với giác quan. Đây có lẽ là một kiểu chỉnh sửa cho thuyết "não". Trong trường hợp ghép não, rõ ràng não A có ý thức rằng nó đang ở trong cơ thể B là nhờ nó tương tác với các giác quan của B. Trong trường hợp Dennett, rõ ràng não có ý thức nó ở trong cơ thể không não là nhờ nó các giác quan báo với nó qua sóng điện từ.
__________________
Ê, nhưng những trường hợp trên đều là giả tưởng. Giả tưởng nghĩa là tất cả những cái như là não A thấy mình trong xác B đều là kịch bản tưởng tượng. Dù nghe có đúng hay tất lẽ thế nào thì dù sao cũng chỉ là giả tưởng. Biết đâu được nếu một ngày người ta ghép não được, như là ghép tim hiện nay vậy, ông B sau khi ghép tim ông A vẫn tự nhận mình là B, thì khi ghép não ông A sẽ vận tự nhận mình là B. Não có gì đặc biệt hơn toàn bộ phần còn lại của cơ thể con người để mà cho rằng nó chứa đựng cái gọi là "tôi". Người ta cho rằng não chứa đựng ký ức của con người, mà ký ức (phần nào) quy định cái tự nhận là "tôi".
Sau đây là một thí nghiệm giả tưởng nữa của Stephen Law. Giả sử có một cái máy, tôi bước vào hộp 1, nhấn nút, toàn bộ thông tin về từng nguyên tử cấu tạo nên cơ thể tôi sẽ được chuyển sang hộp 2 để tái tạo lại một bản sao y chang con người tôi, và cơ thể ở hộp 1 sẽ bị phân rã hoàn toàn. Chúng ta không xét về mặt cơ học lượng tử phức tạp này nọ rằng liệu thông tin có chính xác không hay là sẽ có sai số và vì vậy, bản sao có thực sự giống không, ở đây ta giả sử bản sao giống y hệt. Nghĩa là bản sao A' của ông A có ký ức y hệt, tư duy y hệt bản gốc ông A. Vậy có thể nào xem như ông A đã được "dịch chuyển" tức thời từ hộp 1 sang hộp 2 không? Vậy người bước ra từ hộp 2 có thể nào xem là ông A không, hay chỉ là một bản sao A'? Nếu A' suy nghĩ và có ký ức giống hệt A, vậy A' có tự nhận mình là A không? Nếu tôi là A', tôi sẽ nhớ mình đã đứng ở hộp 1 vài giây trước, nhấn nút và biến sang hộp 2, vì não (ký ức) của tôi được tái tạo giống hoàn toàn, nhưng tôi có dám nói mình chính là "tôi" không?
Lại tiếp tục giả sử có một trục trặc gì đó với cái máy, sau khi bấm nút, tôi trong hộp 1 không biến mất, nhưng tôi trong hộp 2 vẫn được tạo ra. Khi đó, bước ra khỏi hộp 1 là tôi, còn bước ra khỏi hộp 2 có phải là "tôi" không? Vậy tôi ở đâu? Có thể nào cả hai đều là tôi không?
_________________
Mấy hôm gần đây tôi bỗng tập nhìn thực tại theo kiểu một chuỗi continuum. Continuum là một chuỗi liên tục. Hãy hình dung một bộ phim, thực chất nó là một chuỗi những hình ảnh ngắt quãng được xếp liên tục nhau, 24 hình một giây.
Bụt dạy ta là tổng thể của năm cái hợp lại: sắc thọ tưởng hành thức. Năm yếu tố, một cái sắc là thân xác vật lý, bốn cái kia là thuộc tâm (lý). Năm cái này hợp lại gây ra cái gọi là "tôi", ngoài năm cái ra, không tìm được tôi ở đâu cả.
Khi bơi trong hồ tôi lại nghĩ đến những lát cắt ngắt quãng, ở tại mỗi điểm của thời gian, tất cả những nguyên tử trong tôi, lẫn những nguyên tử trong hồ bơi, đều có một giá trị tọa độ kỳ vọng nhất định. Các giá trị ấy, ở mỗi thời điểm là mỗi khác. Ứng với mỗi cái "sắc", tôi lại được khuyến mãi thêm bốn cái "thọ tưởng hành thức" đi kèm.
Tôi cũng nghĩ đến dòng nghiệp như một sợi chỉ, hay một vector, để khi năm uẩn tạo nên ta bị hoại rữa, năm uẩn khác lại tạo ra. Như mộng huyễn bào ảnh, như lộ, diệc như điện. Chuỗi continuum tiếp tục khi ta chết đi. Năm uẩn mới lại được tạo ra ở từng lát cắt không-thời gian khác. Không thể nói là "tôi" tái sinh, mà là dòng nghiệp vẫn tuôn chảy.
Bài luận Tôi ở đâu? của Daniel Dennett:
www.lehigh.edu/~mhb0/Dennett-WhereAmI.pdf
Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013
Đóa hồng có tên
Quả thật, "Tên của đóa hồng" là một bản dịch cực kỳ công phu của ông Lê Chu Cầu. Umberto Eco viết nên một cuốn sách đồ sộ, còn ông Chu Cầu hẳn cũng phải lao động rất mệt mỏi để chuyển cuốn sách tiếng Tây sang thành một bản Việt dịch tuyệt hảo.
Là một học giả semiotics (dịch là ký hiệu học chăng? tôi thấy hơi điêu) hàng đầu thế giới, cuốn tiểu thuyết đầu tay của Eco mang một tầm vóc (theo tôi là) lớn hơn so với những kiến thức về ký hiệu học giải trí của Robert Langdon trong truyện của Dan Brown (Langdon được miêu tả là giáo sư về symbology: cái quỷ này mới là ký hiệu học nè). Quyển sách thực sự khiến tôi choáng, không biết diễn tả thế nào, nhưng không phải choáng theo cái kiểu hồi nhỏ dại đọc những cuốn sách đồ sộ mà không hiểu gì hết, bất khả tri giác. Cảm giác choáng giống như kiểu vừa phải vật lộn với những ngôn từ, tranh luận thần học liên miên, vừa để ý và tận hưởng những liên tưởng, tưởng tượng được từ những cái semiosis đem lại. Ô kê, ngừng vấn đề này lại ở đây, tốt nhất là tôi không nên múa rìu nữa, tôi chả có học hành, nghiên cứu gì về ba cái vụ này, ngay cả chữ semiosis tôi còn không biết dịch như thế nào. Tóm lại, ý tôi muốn nói là nếu mà so với Eco thì truyện của Dan Brown đọc giải trí giống như đọc Đôrêmon vậy*.
Ông Lê Chu Cầu đã tỉ mỉ dùng cả 3 bản dịch: nguyên gốc tiếng Ý, bản dịch tiếng Đức vừa dịch vừa phóng túng chế thêm, và bản dịch tiếng Anh sát nhất nhưng sứt sẹo cắt bỏ lung tung. Trong quá trình đọc cuốn sách, tôi nghiệm ra quan niệm cho rằng bản dịch tiếng Anh luôn là bản dịch chuẩn, tối thượng, kinh điển, canonical... là một quan niệm ấu trĩ và sai lầm. Ví dụ chính là cuốn này, bản dịch của William Weaver lược bỏ tùm lum tà la, được ông Cầu đánh dấu bằng những dấu ngoặc vuông [] trong bản Việt dịch. Cả bản tiếng Ý cũng có một lỗi về logic, có lẽ là lỗi biên tập viên. Ông Cầu phát hiện, chú lại, so sánh rằng bản Anh dịch theo bản Ý nên dịch sai y chang, còn bản Đức chỉnh sửa lại nên diễn đạt đúng về mặt logic.
Ông Cầu cũng tẩn mẩn chú giải đường hoàng từng tích Thánh Kinh và tích thần thoại, cổ tích Tây đầy đủ. Thiển nghĩ ai cũng hiểu rằng đọc sách Tây mà có chú thích tích tiếc đầy đủ cũng thú vị y hệt đọc Truyện Kiều chú đủ tích Tàu, thế nên tôi chẳng cần nói thêm. Ngoài vụ này, ông Cầu cũng đã biên phụ họa chung với Eco về lịch sử Tây thời Trung Cổ (thứ mà đối với dân không chuyên như tôi phần nhiều mù mờ). Nhiều phần ông biên rất hay và thú vị, ví dụ như nhờ ông mà tôi biết được Tòa thánh có vụ bán giấy xá tội sẵn, kiểu như vé giữ chỗ thiên đường hay vé bảo kê khỏi xuống Hỏa ngục, để lấy tiền xây Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô ở Vatican. Chính vụ này là một trong những giọt nước tràn ly khiến Martin Luther tức quá chống lại Tòa thánh.
Dưới đây tôi sẽ ngừng ca tụng ông Eco, ông Cầu và bản dịch của ông, để mà biên lại vài chỗ tôi rút tỉa trong quá trình đọc sách:
1. Trang 56: ông Cầu dịch đoạn miêu tả hình ảnh 24 vị niên lão ngồi dưới chân Chúa Trời trên cánh cổng tu viện có dùng chữ "đội mão triều thiên". Tôi đoán có lẽ chữ "mão triều thiên" là dịch từ cái tiara. Công giáo ở Việt Nam (hay Wiki Việt) dịch cái mão Giáo hoàng đội là "mão triều thiên ba tầng", dùng nhiều trở thành quen luôn. Việc ông Cầu dịch vậy nghĩ cũng chẳng có gì sai. Chẳng qua tôi sực nhớ tới "Mão triều thiên, Mão triều thiên / Ôi hoài vọng hoa niên" của Văn Cao với cơn sốt "Ngàn năm áo mũ" dạo này nên ngứa miệng nói chơi thôi. Tôi tra wiki tiếp thì biết TQ gọi cái papal tiara là Tam trùng miện và Nhật thì gọi là Giáo hoàng quan. Nói cho ra nhẽ thì cách gọi "mão triều thiên" là cách gọi kiểu lấy cái mình có để gọi cái chưa có trong tiếng Việt, nhưng truy tới gốc thì nó không chính xác. Nếu tôi, tôi sẽ dịch giản dị là "đội miện".
2. Trang 138: thầy William nói với Adso về việc người ta thời này (thời Trung cổ) cứ phải khăng khăng củng số niềm tin nơi người dân chất phác bằng cách suốt ngày đi rao giảng về nỗi đau khổ của Chúa Giêsu, của Đức mẹ, và đặc biệt là rao giảng về những đày ải nơi địa ngục. Tôi bất chợt thấy tình cảnh của châu Âu một thời cũng y hệt bên đạo Bụt ở châu Á trung đại, khi mà những quan niệm về địa ngục cũng xuất hiện và lan tỏa đầy rẫy trong dân gian. Bụt có giảng về phương tiện, rằng với từng loại chúng sinh có từng cách thức khác nhau để mà parasamgate (vượt qua bờ kia hoàn toàn), đạt cứu cánh cần đạt. Tôi nghĩ địa ngục cũng là một loại phương tiện để giáo dục một loại chúng sinh nào đó về đạo đức học Phật giáo. Tuy thế, cần phải xét kỹ lưỡng xem nó có liễu nghĩa hay không, có thỏa đủ ba cái ấn không, trước khi lạm dụng nó, in thành poster cỡ bự treo đầy tường đầy cổng chùa chiền để hù dọa người ta.
Thôi, tôi không nhiều lời về vụ này nữa. Lạc đề rồi.
3. Trang 430: ông Cầu chú về Hector, Achilles, Agamemnon và Priam, đụng trúng chỗ nên tôi ngứa miệng thôi. Ông chú thích sai bảo rằng đây là các nhân vật trong Odyssey của Homer. Thực ra trong Odyssey còn có mỗi Agamemnon thôi. Đúng ra phải nói rằng đây là các nhân vật trong Iliad.
4. Trang 475 chép lại đoạn trong phần hát bài thánh ca Dies irae (Ngày phán xét) và trang 525 chép lại đoạn Nuốt cuốn sách nhỏ.
Cả hai đoạn này đều quen thuộc với tôi. Phần lời Dies irae tiếng Latin tôi nghe và hát đi hát lại tới thuộc từ Lacrimosa trong các bản Requiem. Tôi lại cũng nhớ tới phần Dies irae trong Requiem của Verdi, phần nhạc dữ dội rất kinh điển, do Abbado chỉ huy:
Tự dưng gặp lại những dữ liệu quen thuộc, hẳn trong lòng phải bồi hồi, thêm phần thú vị và đẻ ra nhiều semiosis khác, chẳng phải ru?
5. Và cuối cùng, trang 537, thầy William nói với cậu chủng sinh Adso những lời cuối cùng của sách: "Chân lý duy nhất hữu ích là những công cụ; hãy quẳng chúng đi sau khi đạt mục đích". Tôi nghe thấy ở đây như một lời đồng vọng với dụ ngôn về cái bè của Bụt: Pháp của tôi dạy cũng giống chiếc bè, qua sông rồi thì bỏ lại ở bến, chứ vác theo sau lưng làm gì.
Quỷ không phải Satan. Quỷ chính là tính kiêu căng của tinh thần, là đức tin không chút mỉm cười, là sự thật chẳng hề bợn hoài nghi. Quỷ tàn nhẫn vì nó biết nó đi đâu, và khi đi nó luôn quay về nơi nó xuất phát. Huynh chính là Quỷ, và huynh sống trong bóng tối giống như Quỷ.
(Umberto Eco - Tên của đóa hồng, Lê Chu Cầu dịch)
_______________________
*Để khỏi bị chụp mũ, tôi cũng xin phép nói luôn là tôi không hề có ý chê truyện Dan Brown. Tôi cũng khoái bác Đen Nâu này lắm. Hồi tôi chê cuốn Kẻ trộm sách đọc nhây nhây, không hay bằng Dan Brown, tôi đã bị ném đá, chụp mũ nhiều rồi.
Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012
Khi nằm nghiêng em thấy, đau khổ nhiều quá chừng
Thích Nhất Hạnh, bản tiếng Anh "The Heart of the Buddha's teaching" (Trái tim của lời Bụt dạy) (1999), Rider : Chatham.
Bụt không phải thánh thần. Bụt cũng là người như tôi với bạn, và Bụt cũng khổ giống chúng ta. [...]
Suốt bốn mươi năm, Bụt lặp đi lặp lại, "Tôi chỉ dạy về sự khổ và cách chuyển hóa nỗi khổ." [...] Khổ chính là phương tiện Bụt dùng để giải thoát chính mình, và đó cũng chính là phương tiện chúng ta có thể dùng để được tự do.
Bể khổ rộng mênh mông, nhưng nếu quay đầu nhìn xung quanh, bạn sẽ thấy được bờ. Hạt giống của nỗi khổ trong bạn có thể mạnh, nhưng đừng chờ đến khi bạn không còn nỗi khổ nào nữa rồi mới vui. Khi một cái cây trong vườn bị bệnh, bạn phải chăm sóc nó. Nhưng bạn đừng quên chăm sóc cả những cây lành. Ngay cả khi bạn có một nỗi đau trong lòng, bạn vẫn có thể tận hưởng những điều diệu kì của cuộc sống - hoàng hôn, nụ cười trẻ thơ và hoa cỏ cây cối quanh mình. Khổ đau thôi không đủ. Đừng để mình bị cầm tù trong chính nỗi khổ của bạn.
Nếu bạn từng trải qua cơn đói, bạn sẽ biết được rằng có thức ăn là một việc mầu nhiệm. Nếu bạn từng bị lạnh, bạn sẽ biết được giá trị của cái ấm. Khi bạn khổ đau, bạn biết phải trân quý một phần thiên đường đang ở cạnh bạn như thế nào. Nếu bạn chui vào rúc trong nỗi khổ của bạn, bạn đánh mất thiên đường đó. Đừng phớt lờ nỗi khổ của bạn, nhưng cũng đừng quên tận hưởng những điều diệu kì của cuộc sống này, vì chính bạn và cũng vì bao nhiêu loài khác.
Khi tôi còn trẻ, tôi viết bài thơ này. Tôi thâm nhập vào trái tim của Bụt bằng một trái tim lúc đó đang tổn thương sâu sắc.
My youth
an unripe plum,
Your teeth have left their marks on it.
The tooth marks still vibrate.
I remember always
remember always.
Since I learn how to love you,
the door of my soul has been left wide open
to the winds of the four directions.
Reality calls for change.
The fruit of awareness is already ripe,
and the door can never be closed again.
Fire consumes this century,
and mountains and forest bear its mark.
The wid howls across my ears,
while the whole sky shakes violently in the snowstorm.
Winter's wounds lie still,
Missing the frozen blade,
Restless, tossing and turning
in agony all night.
tuổi trẻ tôi
trái mơ xanh
vết răng của em
gây thành thương tích nhỏ
những chân răng rúng động
và nhớ hoài
nhớ hoài.
nhưng tự thuở yêu em
cánh cửa tôi mở rộng trước gió
thực tại kêu gào cách mạng
trái ý thức chín rồi
cánh cửa
không thể nào còn khép lại
lửa
lửa cháy tràn thế kỷ
loang lổ núi rừng hoang
gió thét ngang tai
bão tuyết bên trời quằn quại
vết thương mùa đông
vết thương mùa đông nằm nhớ lưỡi thép lạnh
bồn chồn, trăn trở
nhức nhối
thâu đêm.
Tôi lớn lên trong thời chiến tranh. Tan hoang, hủy hoại lúc đó ở khắp mọi nơi - trẻ con, người lớn, các giá trị và cả đất nước. Là một người trẻ, tôi đau khổ vô cùng. Khi cánh cửa của ý thức đã được mở ra rồi, bạn không thể đóng lại được. Vết thương chiến tranh trong tôi giờ vẫn chưa khỏi hẳn. Có nhiều đêm tôi nằm thức, ôm lấy dân tộc tôi, đất nước tôi, và cả hành tinh bằng hơi thở chánh niệm của mình.
Không có khổ đau, bạn không thể lớn. Không có khổ đau, bạn không thể có được yên bình và an lạc bạn đáng được hưởng. Xin bạn đừng chạy trốn khổ đau của mình. Hãy ôm lấy nó và yêu mến nó. Đến với Bụt, ngồi với ngài, và cho ngài xem nỗi đau của bạn. Ngài sẽ nhìn bạn với tình yêu thương, lòng từ bi và với chánh niệm, và sẽ chỉ cho bạn cách ôm lấy nỗi khổ và nhìn sâu (quán chiếu) vào trong nó. Bằng sự hiểu biết và tình thương, bạn sẽ có thể chữa lành vết thương trong tim của chính bạn và cả vết thương của thế giới này. Bụt gọi Khổ là một Sự thật Cao quý, vì nỗi khổ của chúng ta có khả năng soi rọi cho ta thấy con đường đi đến giải thoát. Ôm chặt lấy nỗi khổ của bạn, và xin hãy để nó vén cho bạn con đường đi tới hòa bình và an lạc.
____________________
Tôi dịch đoạn này từ cuốn "The Heart of the Buddha's teaching" của thầy Nhất Hạnh. Cuốn này có vài đoạn được thầy dịch từ bản tiếng Việt là cuốn "Trái tim của Bụt", tuy nhiên, phần nhiều là thầy viết lại.
Tôi để 2 bản thơ tiếng Anh và tiếng Việt, vì với tôi, mỗi bản có một sắc thái riêng.
Về một vài từ và thuật ngữ:
- từ Khổ, Khổ đau (từ Hán Việt "khổ" nghĩa là đắng, khổ qua = mướp đắng) được tiếng Anh dùng các chữ suffering (danh từ, động từ) và pain (danh từ) để dịch. Nguyên bản tiếng Pali là Dukkha. Bản thân từ "suffering" trong tiếng Anh được dịch từ rất lâu rồi, nó tạo cho người phương Tây ấn tượng ban đầu, cảm giác về đạo Bụt là một thứ chủ nghĩa bi quan (ông triết gia trùm bi quan Schopenhauer mê lắm), người ta đề xuất từ khác như là "unease" hay "discomfort". Khái niệm Khổ trong đạo Bụt không chỉ là nỗi đau về thể xác hay tâm hồn.
- từ Chánh Niệm: trong tiếng Việt, nghe từ này lần đầu, bạn sẽ phải hỏi "niệm là cái gì?". Đừng nghĩ tới từ "niệm phật" thường được đồng nghĩa với "tụng kinh", hãy nghĩ tới "khái niệm" hay cụm "suy niệm lời Chúa" mà người Công giáo hay dùng. Nghĩ như thế, đọc thêm, rồi sẽ cảm được sắc thái của chữ đó. Tôi trình độ nhỏ hẹp cũng bó tay không giải thích tường tận được với bạn. Niệm không hẳn là tập trung trí tuệ vào 1 điều (cái đó là Định, một khái niệm khác của đạo Bụt). Tiếng Anh dịch bằng chữ "mindfulness". Bạn nào học tiếng Anh sẽ nhận ra ngay chữ này mang nghĩa là gì. Đại khái hiểu theo kiểu "niệm" là dùng hết năng lượng của não/tâm trí cho công việc của mình đang làm, ý thức được rằng mình đang làm gì, đừng để cho mình bị lạc khỏi tâm trí của mình. Việc dùng não như vậy không chỉ có nghĩa rằng bạn đang tư duy. Khi bạn ăn cơm, uống nước, đi bộ, nếu bạn ý thức và tập trung vào từng ngụm nước, từng cọng rau, từ bước chân, không bị lạc lối trong suy nghĩ của mình, là bạn đang có niệm.
Thở cũng vậy. Hít vào, bạn ý thức được rằng bạn đang ở trên mạng. Thở ra, bạn biết mình đang thở ra. Cái đó gọi là hơi thở chánh niệm.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
