Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Hiển thị các bài đăng có nhãn phim. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phim. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

Điên đảo mộng tưởng

Tôi mới coi phim Little Buddha của Bertolucci xong. Thật ra tôi cứ nhớ lộn phim Kundun coi lúc hồi mới qua Thụy Sĩ là của Bertolucci nhưng thật ra phim này mới là của Bertolucci. Phim này có thể nói là xuống tay so với phim Vị hoàng đế cuối cùng, hai nhân vật ông bố bà mẹ xây dựng quá đơn giản, tự nhiên có mấy ông sư ở đâu ra qua nhà nói con ông bà là chuyển thân của thầy tụi tôi, vậy mà mặt vẫn trơ trơ ra, phản ứng kì cục. Tuyến truyện kia của Keanu Reeves đóng vai Tất Đạt Đa thì cũng chầm chậm, coi thấy giống kiểu cố tình làm cho giống mấy sách dạy giáo lý, nhưng quay đẹp hơn nhiều so với mấy phim cuộc đời Đức Phật này kia của Ấn Độ làm.

Thế nhưng xét các điểm trừ đó là xét ở khía cạnh điện ảnh, còn nếu xem từ khía cạnh một câu chuyện Phật giáo thì đúng là nó chầm chậm, bình tĩnh, không cần lên gân, nhẹ nhàng thoải mái. Rõ ràng là cố tình nhái kiểu kể chuyện của phim Phật. Và nói lại lần thứ hai: phim quay vẫn rất đẹp kiểu Bertolucci.

Tóm lại là dù xuống tay nhưng vẫn hay, và nhắc lại lần thứ ba là quay đẹp.

Có nhiều đoạn hay, nhất là đoạn thầy lạt ma Norbu ngồi thiền xong viên tịch, xong bóng thầy vẫn còn đâu đây, đọc Bát nhã tâm kinh bằng tiếng Anh và camera lia những thước phim rất đẹp. Các bạn có thể coi trên youtube có trích đoạn đó (thôi coi luôn ở đây đi, tôi cho vào đây để sau này tôi coi lại luôn cho tiện). Đoạn hay nhất là đoạn: vì không có gì để thành tựu, Bồ tát nương vào trí tuệ (bát nhã) tối thượng (ba la mật đa), tâm không còn sợ hãi, tâm không còn sợ hãi thì xa rời mộng tưởng điên đảo, đạt tới Niết bàn.



Bài hát cuối phim vẫn là nhạc của Ryuichi Sakamoto. Lần này là Bát nhã tâm kinh bằng tiếng Phạn phối lại theo kiểu thanh nhạc phương Tây (rất là Baroque luôn).

Kính mời các cụ.



Để tôi đi cop lyrics về cho anh chị đọc
śāriputra: rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ 
(Xá lợi tử, sắc tức là không, không tức là sắc)
rūpān na pṛthak śūnyatā śunyatāyā na pṛthag rūpaṃ 
(Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc)
yad rūpaṃ sā śūnyatā; ya śūnyatā tad rūpaṃ 
(Cái gì sắc cũng đều là không, cái gì không cũng đều là sắc)
tadyathā: gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā
(Vậy hãy đọc chú: gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā)

Không biết sao nghe bài này tôi cứ nghĩ đến một bài khác, chắc nhạc Sakamoto có mấy chỗ giống. Nghĩ hoài vẫn không nhớ được bài khác kia tên là gì, chỉ nhớ giai điệu. Nghĩ thêm một lúc nữa, với sự trợ giúp của Soundhound thì Soundhound bảo là có thể bài này là bài Pavane chăng. A đúng rồi, Pavane, nhưng mà Soundhound bảo là Pavane của Fauré. Không phải, cũng từa tựa, tôi nghe chục nốt đầu là tôi đã biết rồi, pavane này cũng trong trí nhớ của tôi nhưng không phải pavane tôi đang cần tìm. Nhớ thêm một lúc nữa thì tôi nhớ ra đó là Pavane của Ravel. Tên đầy đủ là Điệu pavane cho một nàng công chúa đã qua đời, ôi giời ơi.

Mời quý anh quý chị nghe pavane do Seiji Ozawa chỉ huy, trên youtube có bản chuyển động nữa nhưng mà tiếng bé quá.





Tôi nói thật chứ vai Phật của Keanu Reeves trong phim này thì cũng tạm được thôi. Diễn viên hay nhất trong phim này là người đóng thầy lạt ma Norbu: ông Anh Nhược Thành (英若诚). Ông này từng đóng vai ông trưởng trại tù của Phổ Nghi trong phim Vị hoàng đế cuối cùng, sau bị cách mạng văn hóa đem ra đấu tố. Ông Anh là người Mãn Châu, bà nội lại còn thuộc tộc Ái Tân Giác La, vậy mà lên làm tới thứ trưởng bộ Văn hóa của TQ. Là cựu thứ trưởng mà không hiểu sao ông đóng được phim này, có nhắc tới sự kiện TQ xâm lược Tây Tạng.

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018

Mẹ ơi những người sống trên mây cất lời gọi con

Trong những giấc mộng của mình, ông Jiro mơ thấy sushi máy bay. Ông Jiro mặt mũi thanh tú, sáng sủa, nói năng rõ ràng, đĩnh đạc, hành động dứt khoát, nam tính, nhưng ổng vẫn sống ở trên mây. Nhiệm vụ của ông bạn Honjo trong phim không chỉ là suốt ngày than thở mà cũng là người chuyên nhắc cho ông Jiro trở về mặt đất. Ông Honjo liên tục nhắc ông Jiro về tình hình chính trị xã hội hiện tại, trong những năm giữa hai cuộc đại chiến, cho tới khi nước Nhật bắt đầu đưa máy bay qua đại lục. Từ chuyện đi ăn cơm đừng suốt ngày ăn cá với đậu hũ, tới chuyện dân Nhật còn đói ăn mà chính phủ đòi đi làm máy bay đánh nhau, hay chuyện nước Nhật ngày càng bị cô lập, rằng "sắp sụp đổ hết rồi" (cũng là lời ông điệp viên nói với Jiro trên núi). Bên cạnh ông Honjo chuyên than về các việc đao to búa lớn là cô em gái của Jiro. Kayo liên tục la Jiro về việc vợ sắp chết tới nơi mà suốt ngày đi làm máy bay. Nhưng ông Jiro vẫn sống trên mây, và không phải ổng không thấy được, không tỉnh được, không yêu vợ ổng, hay không biết suy nghĩ, mà là ổng kệ. Ổng kệ, vì máy bay là một giấc mơ bị nguyền rủa.




Trong phim có hai bức thư pháp đều mang chữ "Thiên thượng đại phong" tenjoutaifuu, ghi bằng chữ Hán. Bức đầu tiên đặt trong phòng họp của Mitsubishi, chỗ mà bộ sậu Mitsubishi với Jiro ngồi bàn chuyện làm máy bay với bên quân đội. Bức thứ hai đặt ở cửa nhà ông Kurokawa, là chỗ Jiro và Naoko cưới nhau trong đêm. Thiên thượng đại phong, hay là gió lớn trên trời, rõ ràng không còn mang nghĩa Phật tính của trẻ thơ như gió lớn đưa lên trời như bản gốc của thiền sư Lương Khoan nữa, mà giờ ám chỉ cơn gió dữ sẽ đưa "sụp đổ" tới. Thứ nhất là với chiếc Zero, cũng là với nước Nhật. Thứ hai là với Naoko.

Phim có nhiều lần "đại phong" kéo tới, không phải lần nào cũng dữ. Gió đưa Jiro với Naoko gặp nhau hai lần. Gió cũng thổi lửa làm cháy Tokyo, cháy trường đại học, để ông Caproni hiện ra nói "Gió nổi lên rồi". Rồi gió cũng nổi lên trong lần đầu tiên thử mẫu thiết kế máy bay tiêm kích, bẻ nát từng khớp nối máy bay. Ai đã nhìn thấy gió? Không phải anh cũng không phải em. Ông Jiro đọc thơ của Christina Rossetti như vậy.

Ông Jiro có thể làm gì khi "gió" thổi tới? Ổng có thể chống lại gió, như Junker đã làm ở Đức. Ông điệp viên Castrop ở trên núi kể cho Jiro về Junker, rằng Junker chống lại chính quyền Hitler, nhất quyết không làm máy bay chiến tranh, và bị Hitler truy đuổi. Nhưng Jiro (và Miyazaki) không phải Junker, mà ổng mê Caproni, người làm chiếc Ghibli. Khi "gió" thổi tới, ông Jiro kệ. Không phải ổng nương theo gió, mà là ổng kệ. Ổng không chống lại việc làm máy bay chiến tranh, vì với ổng máy bay nào cũng đẹp, bay được là đẹp. Ổng không nghỉ ở nhà với Naoko, vì ổng đã đồng hóa Naoko với máy bay tình yêu của ổng. Ổng kệ gió và ổng lựa chọn như vậy. Vì ổng sống ở trên mây, theo làn hơi nước máy bay. Bài hát chính cuối phim là bài Làn hơi nước máy bay (Hikoukigumo), một bài hát cũ đâu từ thập niên 1970, được có người trong Ghibli đưa cho Miyazaki nghe, vì nó giống nội dung phim. Bài này buồn khủng khiếp, nói về một cô bé đang bay lên trời, trong khi không ai để ý, cô bé không còn sợ hãi, cô lượn giữa trời cao. Làn hơi nước máy bay chính là sinh mệnh của cô. "Cô bé" sắp chết trong bài hát này cũng là Naoko, mà cũng là Zero, mà cũng là giấc mơ sushi máy bay của ông Jiro.

.

Gom hết mấy bài này lại để vô tag Phim gió.

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2018

Mua mưa thâu mây tan mệnh bạc

Đi mãi trên tuyết tôi tìm
Một dấu chân em để lại
Khi tay em nắm tay tôi
Băng qua đồng xanh cỏ dại



Trong phim gió có đoạn nói về chuyến đi qua Đức thăm hãng Junkers của ông Jiro và ông bạn bán than. Đoạn này có một cảnh nói về việc Jiro khi đi dạo trong đêm mùa đông với ông bạn thì nghe tiếng nhạc phát ra từ một ngôi nhà bên đường. Bản nhạc đó là một đoạn của liên khúc Winterreise của Schubert. Mình nghĩ bài Winterreise tượng trưng cho cả một phân đoạn phim này. Winterreise là "hành trình mùa đông". Có thể gọi đoạn này là đoạn Hành trình mùa đông của Jiro. Ngay sau đoạn này là cảnh Jiro lại mơ thấy Caproni (cậu thích sống trong thế giới có kim tự tháp hay không có kim tự tháp?), và cảnh lập tức chuyển sang mùa xuân, chấm dứt hành trình mùa đông.

Mình không biết đoạn Winterreise trong phim hát là đoạn nào, vì mình không rành nhạc Schubert và tiếng Đức của mình thì trừ mấy câu vớ vẩn linh tinh tụi trong lab dạy thì mình chẳng biết gì thêm nhiều. Nhưng đại loại là bài này sặc mùi lãng mạn chủ nghĩa thế kỉ 19 của Schubert, kể về một anh có hẹn với người yêu trong mùa đông xong bị cô này gạt, xong anh buồn quá đi lang thang trong mùa đông để tìm người yêu. Có vậy thôi. Một khổ tượng trưng cho liên khúc này mình đã dịch ở đầu bài kìa, quay lại đọc đi.

Hành trình mùa đông của ông Jiro cũng chính là hành trình đi tìm tình yêu của ổng, tức là cái máy bay. Và ổng đã gặp tình yêu của ổng trong giấc mơ, chính trong trời tuyết. Tình yêu của ổng, lúc này chưa mang hình dạng chiếc Zero, đang lao từ trên trời xuống và bốc cháy. Còn mặt Jiro thì đù ra như kiểu không biết chuyện gì đang xảy ra.

Lúc này Jiro chưa gặp lại Naoko, và mặt ổng vẫn còn non và rất đù. Đoạn này liên hệ mật thiết với đoạn Caproni kim tự tháp sau đó, nói về cuộc đời sáng tạo và lời khuyên "mười năm đời sáng tạo của cậu, hãy đổ hết sức lực ra mà làm nhé". Tình yêu của Jiro lúc này chưa thành hình, nó mang hình dáng tượng trưng là cái máy bay giấy, xuất hiện khi Jiro với Caproni đứng trên cánh máy bay của Caproni. Máy bay giấy, nghe quen không, đó chính là cái mà vài cảnh sau đó, Jiro dùng để tán Naoko. Rõ ràng thêm một bằng chứng cho thấy Miyazaki ngấm ngầm muốn nói Naoko chính là cái máy bay của Jiro.

Tình yêu của ổng chết từ lúc ổng còn chưa gặp, từ lúc nó còn chưa có hình dạng cụ thể và ổng còn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Điềm báo quá. Sau này khi nó dần dần thành hình, cụ thể hóa thành hình dạng Naoko và chiếc Zero, thì lại càng nhiều điềm báo cho thấy cả hai tình yêu đều sắp lên đĩa. Naoko thì đóng vai nữ chính truyện Núi thần phiên bản Nhật còn cái Zero thì bay giữa trời hoa anh đào nở tung, như kiểu samurai viết thơ từ thế dưới tán anh đào đang rơi. Về sau đúng là khi mấy chiếc Zero chuẩn bị đi kamikaze, thiếu nhi ra chào tạm biệt còn vẫy hoa anh đào với tặng cành anh đào cho các chiến sĩ đem lên máy bay. Bi thảm quá.

Còn cái phim này thì mệt ghê, càng coi càng phát hiện ra tùm lum thứ.

___________________

Hãy nghe Ru con mùa đông bản cũ của Ái Vân cho đỡ mệt:

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Nào chốn nào chẳng gió xuân

Trong phim Gió, lần cuối cùng ông Jiro gặp Naoko là trước khi ra sân bay để cho bay thử mẫu prototype bay được đầu tiên của chiếc Zero. Trong phim, lúc đó là mùa xuân. Miyazaki cho vẽ rất nhiều hoa anh đào, nhưng lồng ghép rất khéo, mãi mình mới nhận ra được.

Lúc Naoko trốn từ trên núi trở về thì là cuối mùa đông. Lúc làm đám cưới thì đã có anh đào đầu mùa bay lả tả trong gió. Lúc Jiro về nhà gặp vợ lần cuối, tức là cảnh Naoko nói: "Nó nhất định sẽ bay mà. Anh Jiro, thương anh nhiều", là anh đào đã nở rộ cả cây. Lúc chiếc Zero đầu tiên bay lên trời, anh đào đã ở tràn hai bên bờ sông.


Naoko gắn liền với cái máy bay của Jiro. Ông Jiro yêu vợ ổng hơn hay yêu cái máy bay của ổng hơn? Hay là não ổng tự liên hệ hai đối tượng này lại rồi yêu hai cái cùng lúc. Lúc hai người gặp nhau khi đã lớn, ông Jiro chơi máy bay giấy với Naoko, có khi lúc này não ổng đã tự tạo liên kết liên hệ giữa người ổng yêu với cái máy bay.

Ở đoạn cuối, Miyazaki đưa ra một biểu tượng mới: hoa anh đào, để gắn liền cả hai đối tượng: Naoko và máy bay lại. Hoa anh đào tượng trưng cho cái đẹp chóng tàn, cho nỗi u buồn man mác về cái đẹp vô thường, về niềm vui và hạnh phúc vô thường. Nói cách khác thì hoa anh đào ý nói rằng Naoko sắp chết rồi, và cái Zero cũng sắp chết. Ở cảnh trước khi về nhà, ông Jiro nói chuyện với ông bạn chuyên than thở của mình. Ông bạn bán than nói về cái máy bay ném bom của ổng thiết kế ("Tụi mình đâu phải dân bán vũ khí, tụi mình chỉ muốn làm ra máy bay đẹp thôi"). Miyazaki cho vẽ cảnh một phi đội máy bay ném bom đi rải bom ở Trung Quốc bị không lực Trung Hoa Dân Quốc (coi kĩ sẽ thấy có hình bạch nhật thanh thiên trên máy bay tiêm kích) bắn vào bình xăng và nổ tan tành. Cảnh đầu tiên chiếc Zero bay ban đầu ngỡ trái ngược với cảnh nguyên phi đội bị ăn hành trước đó, nhưng lại được trộn lẫn với cảnh Naoko ra đi, và như đã nói, được gắn kết chặt chẽ với hoa anh đào. Sau niềm vui là ngay lập tức tới cảnh ông Jiro đi ra một nghĩa địa máy bay. Trong phim, Naoko không có mộ, chỉ có hàng hàng xác những chiếc Zero mang cờ thái dương nằm chết trong lửa đạn.

Đúng là Naoko chính là cái máy bay của Jiro. Chiện thật buồn. Hay đúng hơn Naoko chính là cái máy bay của Miyazaki.

__________________

Sách Mitsubishi A6M Zero của Osprey viết về vụ thử prototype đầu tiên của chiếc Zero như sau. Ghi ra đây để thấy phim của Miyazaki tuy bịa về ông Jiro và vợ ổng nhưng theo sát thực tế lịch sử về cái máy bay Zero tình yêu đích thực của Miyazaki đến mức nào.

"Mẫu prototype bay được đầu tiên đã được gỡ ra và vận chuyển đến sân bay Kakamigahara bằng xe bò (y hệt trong phim). Sau khi được lắp ghép lại, chiếc máy bay được xét duyệt và kiểm tra sơ bộ lần cuối. Chuyến bay đầu tiên của prototype Zero diễn ra vào ngày 1/4 năm 1940 (chính là giữa mùa xuân sang có hoa anh đào). Thời tiết vào ngày bay thử đầu tiên rất thuận lợi, có gió nhẹ. Sân bay Kakamigahara, nằm ở thành phố Gifu, do Không lực Đế quốc Nhật Bản quản lí, nên chuyến bay thử phải chờ đến khi quân đội tập luyện xong mới được diễn ra. Lúc này, chiếc máy bay được kéo ra và chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến bay thử.

"Phi công chính cho chuyến bay thử là Shima Katsumo [...] Vào lúc 17h30, chiếc A6M1 cất cánh. Phi công thực hiện một loạt các bài kiểm tra tốc độ thấp. Shima Katsumo và Aratani Harumi tường trình lại rằng máy bay A6M1 có cách điều khiển tương tự chiếc A5M, nhưng cả hai phi công đều cảm nhận được rung động rất lớn khi cho máy bay tăng độ cao, và khi động cơ ở trạng thái nghỉ. [...]"

Sau chuyến bay thử đầu, chiếc A6M1 Zero đã được chỉnh sửa lại nhiều lần, cho bay thử suốt một tháng ròng. Rồi mẫu prototype số 2 được đưa ra. Khi bay thử mẫu A6M2, một phi công đã thiệt mạng. Lúc cho bay mẫu thứ 2, ông Jiro thật ngoài đời không có mặt, mà lúc đó đang ở Mitsubishi tại Nagoya. Tiếp tục sau nhiều chỉnh sửa tới prototype 12, cuối tháng 7 năm 1940, thì Không lực Đế quốc mới chấp nhận chiếc A6M, và đặt tên là máy bay Zero.

Tên chiếc Zero là A6M Type 00, rồi gắn kèm số model, như A6M2a chẳng hạn. Ý nghĩa mỗi chữ và số như sau:
- A: dùng để gọi máy bay tiêm kích (chiến đấu cơ) đặt trên mẫu hạm (tiếng Nhật ghi chữ Hán là hạm thượng chiến đấu cơ).
- 6: thế hệ máy bay thứ 6 của Không lực Đế quốc.
- M: Mitsubishi
- Type 00: tiếng Nhật ghi là "linh thức". Linh = 0, thức = type. Đặt theo năm của lịch cũ là năm 2600 (tức năm 1940).

___________________
Tựa đề là thơ Nguyễn Trãi.

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

Về phim Brooklyn (thì ít mà về chuyện linh tinh thì nhiều)

Nguyệt trong đáy nước nguyệt trên không
Nguyễn Trãi

Phim Brooklyn là một phim tôi thấy rất thú vị về mặt lịch sử vì chắc chắn nó sẽ lấy được lòng những người từng rời bỏ quê hương để nhập cư vào nước Mỹ, hoặc ít nhất là những người từng chật vật chui qua hải quan để vào cái đất nước này, dù chỉ để đi chơi. Phim của Anh (BBC) làm chung với Ireland và Canada, kể về cô gái trẻ Ellis (tiếng Tỏi nên đọc là Ay-lísh) rời một ngôi làng nhỏ ở Ireland để đến nước Mỹ vào những năm 1950. Thời kì đầu cô bị nhớ nhà nên cảm thấy rất thảm, cho tới khi cô gặp và yêu một anh Tony (không phải Stark, thấy anh này thật ra giống Captain America hơn) gốc Ý. Xong vì chị cô đột ngột qua đời, cô phải trở về Ireland để cho mẹ vui. Trước khi đi, cô và anh Tony lên phường đăng ký kết hôn. Cô về nhà, xong có nhiều chuyện xảy ra, xin mời coi phim để biết.

Hình trong phim, dĩ nhiên.

Vì sao có tên Brooklyn? Vì người Ireland nhập cư vào nước Mỹ từ phía Đông sẽ tới New York và tập trung ở Brooklyn. Tương tự, nếu phim này thay người Ireland bằng người Việt Nam thì sẽ có tên là Quận Cam Orange County gì đó. Dĩ nhiên dân Ireland không phải là một sắc dân thiểu số ở Mỹ, gần 1/10 dân số nước này có máu Ireland trong người, nhiều tổng thống là dân gốc Ireland. Nhà Bush là Irish chính cống, chưa kể Obama cũng có máu Irish bên họ ngoại.

Lúc tôi đi từ London qua Mỹ có quá cảnh ở Dublin. Nhẽ đâu dân Ireland đi qua lại Mỹ như đi chợ mà Mỹ cho đặt nguyên cái preclearance ở Dublin để rà sẵn trước visa và giấy tờ. Tới khi tôi xuống San Fran thì chỉ cần đi lấy giỏ và xách đít đi ra khỏi sân bay còn dễ hơn đi về Tân Sơn Nhất.

Tôi xem phim này chủ yếu là vì xem trailer thấy Saoirse Ronan mặc áo đầm và để tóc 1950s (tôi là con người lạc hậu, cảm ơn, không cần phải phê bình), khác hoàn toàn với hồi bạn còn nhỏ đóng phim Hanna cách đây 5 năm. Ngoài ra, tôi không mong đợi gì hơn. Thế nhưng diễn xuất + cốt truyện khiến cho việc xem phim này trở thành một trải nghiệm hấp dẫn và tôi rất đồng cảm vì tất cả những gì diễn ra trong phim gần y hệt những gì tôi trải qua gần nửa năm nay.



Tôi từng có một hình ảnh về Ireland trong đầu những năm tôi 16 tuổi, với những bài wiki tôi đọc, những bản nhạc tôi nghe. Sau 5 năm sống ở hòn đảo kế bên, và có những người bạn Ireland đi ra đi vào cuộc sống của mình, từng đặt chân lên mảnh đất đó, dù chỉ trong sân bay, thấy tiếng Tỏi ghi ở khắp nơi đè lên trên tiếng Anh của bọn xâm lược, hình dung của tôi về Ireland hầu như vẫn như vậy. Vẫn là cái gì đó mơ hồ nhưng mát mẻ và khó diễn tả.

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

Marco Polo season 1

Mình đăng ký Netflix xài free một tháng để coi Marco Polo. Phim này làm từ 2014, mới season 1, có 10 tập, do Netflix độc quyền. Kể ra Netflix cũng không có nhiều phim lắm để coi, nhưng nếu đăng ký để coi phim truyền hình dài tập kiểu Marco Polo, Breaking Bad, Better Call Saul này nọ thì cũng rẻ, mà chất lượng hình ảnh tốt.

Marco Polo là một phim rất hoành tráng vì quay đẹp, cảnh đẹp, nhà cửa đẹp, quần áo đẹp. Dàn diễn viên đóng rất có thần thái, Đại Hãn ra Đại Hãn, hoàng hậu ra hoàng hậu, công chúa ra công chúa. Có điều một vài vai nữ thì không đẹp lộng lẫy lắm. Do phim này Mỹ và Ý làm nên phải kiếm nữ chánh châu Á nói tiếng Anh tốt, chắc vậy mà khó kiếm diễn viên nữ đẹp kiểu phim cổ trang Tàu làm, kiểu Phạm Băng Băng đóng Võ Tắc Thiên này nọ.

Phim bối cảnh là cái thời mà văn hóa và sắc tộc hòa trộn một cách giống như siêu thực. Đó là cái lúc mà Bắc Kinh có tên gọi là Khanbaliq hay ghi theo kiểu Marco Polo ghi trong cuốn sách của ổng là Cambulac. Biên chữ Hán kiểu sách Tàu là Hãn Bát Lý, hay gọi kiểu Mông Cổ nhà Nguyên là Đại đô. Cambulac là Đại đô bởi vì nó là kinh đô của nhà Nguyên, tức là Hãn quốc bự nhất và quyền lực nhất của đế chế Mông Cổ. Thời Kublai (Hốt Tất Liệt) thì Mông Cổ đã bị chia rẽ ra thành 4 Hãn quốc, trong đó hai Hãn quốc mạnh nhất là Nguyên Mông và Kim Trướng (tức Lều Vàng - đóng đô ở Mông Cổ). Theo trong phim thì cung điện, nhà cửa ở Cambulac có đủ loại kiến trúc, giống kiểu trong cái hình ở dưới, mái vòm củ tỏi nằm lọt giữa một khung cảnh rất Tàu. Dân cư thì đủ loại từ Mông Cổ tới Ả-rập, Ba Tư bán buôn cưới hỏi với dân Chi Na bản địa, thêm anh Latin Marco Polo đi lại loanh quanh, ngẫm khác nào London với New York bây giờ.



Chỗ còn Tàu duy nhất của nước Tàu đó là khu miền Nam, gần sông Dương Tử. Nhà Tống thoi thóp gần chết thủ lại trong thành Tương Dương tường cao ngói vững. Coi phim Kim Dung nhiều thì sẽ biết Quách Tĩnh, Hoàng Dung kháng Mông về thủ ở thành Tương Dương giữ cho nhà Tống khỏi sụp hơn chục năm, đẻ con ra đặt tên theo tên thành là Quách Tương về sau lập phái Nga Mi. Phim Marco Polo dĩ nhiên không phải Truyện Anh hùng bắn chim hay Chim Thần Đại Hiệp nên không có mấy vụ này. Trong thành Tương Dương có ông vua Tống Lý Tông, sau là ấu đế Tống Độ Tông cùng với tể tướng Giả Tự Đạo gian thần nhưng là trùm Đường Lang Quyền (võ bọ ngựa).

Phim này dùng tiếng Anh giọng Anh (phần nhiều) và giọng Úc xuyên suốt phim, coi như tiếng Anh đại diện cho cái lingua franca thời đó. Đôi khi nhân vật nói tiếng Tàu, Ý, Ả-rập nữa nhưng không nhiều. Marco Polo lần đầu vào gặp Hãn Kublai thì chém được mấy câu tiếng Mông Cổ rồi thôi, làm mình nghĩ nếu mà phim này có thêm tí tiền đầu tư cho nói tiếng Latin, Mông Cổ, Ba Tư này kia thì nâng giá trị hơn rất nhiều. Nhưng rồi nghĩ lại đây cũng không hẳn là phim tài liệu, với lại phim chỉ bám theo lịch sử chứ không đi theo y xì nên bỏ tiền vô làm ngôn ngữ cũng không đáng lắm.

Không bám chắc theo lịch sử nhưng mà phim cho thấy là biên kịch có kiến thức rất tốt. Các bạn coi sẽ thấy rất đã.

Nhưng nếu mà nói Marco Polo là phim xuất sắc thì mình sẽ nói hem. Một vài chỗ trong kịch bản còn khá yếu. So về kịch bản thì phim này đọ không nổi hai series đỉnh cao coi gần đây là Breaking Bad với Sherlock. Nhưng mà coi nó vẫn hay và thích. Giải trí vậy là ngon rồi.

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Người đưa tiễn

Tôi xem lại phim Người đưa tiễn (Okuribito 送り人 - hay tên chính thức dùng toàn hiragana おくりびと), mà xúc động hơn rất nhiều so với lần xem đầu tiên 4 năm trước. Không, có lẽ tôi quên mất cảm giác của mình bốn năm trước mất rồi. Làm sao mà tôi dám nói chắc được tôi trải qua những gì tận bốn năm trước.

Anh Daigo là nhạc công cello thất nghiệp, bán cây cello đắt tiền, cùng vợ dọn về quê sống. Anh đọc trên báo thấy mẩu quảng cáo, lương cao, không cần kinh nghiệm, đọc tưởng là một công ty lữ hành du lịch nào đó tên là NK. Đến chỗ công ty xin việc, anh được nhận luôn, rồi mới biết đó là công ty khâm liệm. NK là chữ viết tắt của Noukan (Nạp quan). Ông chủ trả anh luôn tiền lương ngày đầu tiên, bảo rằng anh có cái duyên, hãy cứ thử xem sao. Thế rồi Daigo bắt đầu bằng việc đi theo phụ giúp và quan sát ông chủ làm công việc liệm xác.

Công việc đầu tiên của anh là một ca khó: một cụ già neo đơn chết trong căn nhà đã hai tuần, bốc mùi lên rồi. Sau công việc đầu tiên này, về nhà nhìn thấy đĩa thịt gà sống mà anh Daigo chỉ muốn nôn ọe. Sau đó là một cảnh mà tôi cho là rất hay và rất thấm, đó là cảnh mà anh nắm chặt tay vợ mình và ngửi, rồi ôm chầm lấy vợ. Anh chỉ muốn tìm lại cái mùi sống, cái sinh khí quen thuộc sau cú sốc nghề nghiệp đầu tiên. Dĩ nhiên là lúc này vợ anh vẫn chưa biết anh làm gì ở cái công ty mới đó.

Daigo tiếp tục công việc với ông chủ. Ở lần thứ hai, Daigo và ông chủ đến trễ 5 phút, bị người chồng mất vợ càu nhàu. Ông chồng trong cơn đau buồn, tỏ ý coi thường hai "người đưa tiễn", bảo rằng loại người "sống nhờ vào người khác chết". Chính ở lần làm việc thứ hai này mà người xem được chứng kiến công việc của ông chủ và Daigo diễn ra như thế nào. Công việc của họ là nút các lỗ của người quá cố lại, thay y phục, rồi trang điểm cho người quá cố trước khi nhập quan. Ông chủ làm thật tỉ mỉ trong khi Daigo chủ yếu ngồi xem và phụ giúp ông. Đoạn này cũng là một đoạn vô cùng cảm động. Người chồng mất vợ ngồi thừ người ra nhìn vợ mình được trang điểm lại thật đẹp, y như chỉ đang ngủ, không hiểu câu ông chủ hỏi rằng nhà có cây son môi vợ ông hay tô không. Cuối cùng, khi hai người ra về, người chồng đến xin lỗi, và cảm ơn, vì hai người đã làm cho ngày hôm nay trở thành ngày vợ mình đẹp nhất.

Chuyện chết chóc không phải là một chuyện dễ nói. Khi phim ra mắt tại Nhật, đạo diễn Takita Yōjirō cũng đã lo ngại không biết người xem phim sẽ phản ứng thế nào. Nhưng sau đó phim được Oscar phim nước ngoài xuất sắc của năm. Trong phim, khi vợ Daigo và bạn bè phát hiện anh làm nghề "đưa tiễn", họ cũng đều phản ứng dữ dội. Vợ anh - cô vợ dễ thương, yêu anh, vâng lời - đã phản ứng bằng cách bỏ về nhà bố mẹ. Nhưng Daigo vẫn làm công việc của mình, có lẽ vì anh cảm nhận được gì đó từ công việc này. Qua từng lần đi khâm liệm, Daigo chứng kiến từng người khác nhau qua đời, người già, trẻ em, thanh niên..., từng gia cảnh khác nhau, nơi thì đau buồn, tiếc nuối, chỗ thì tràn ngập lòng biết ơn người qua đời.

Tôi mê nhạc của Joe Hisaishi làm cho phim này. Tiếng nhạc cello của Okuribito nằm trong ipod của tôi từ đó tới nay, cùng tôi đi qua một quãng đời, giờ được nghe lại, tôi xúc động vô cùng. Nhạc không chỉ còn gắn với phim mà đã gắn với ký ức của tôi đi qua bao nhiêu năm, thậm chí nếu tôi có quên những ký ức đó là gì thì vẫn còn lại những rung cảm ghi vào não, mà khi nghe lại tiếng nhạc, có gì đó lờ mờ lại trở lại, mông lung như sương như khói. Những ký ức đó là vui hay buồn, tôi quên mất rồi, tôi chỉ cảm thấy thời gian của đời mình trải ra một lần nữa, huyền hoặc và riêng tây như một giấc mơ.

(Ngày trước có lần tôi nghĩ về những giấc mơ của mình như thế này:

Những giấc mơ kỳ lạ của tôi, tôi rất muốn có thể chia sẻ cùng ai đó. Tôi muốn được dẫn ai đó vào giấc mơ của mình, để chỉ cho họ xem, à, cái này này, tớ nghĩ nó nghĩa là thế này, thế kia, cái kia, hình như tớ mơ thấy nó mấy lần rồi, trông rất quen quen,... Tôi muốn cho họ thấy những thứ mà đáng lẽ chỉ có tôi được thấy.

Nhưng tôi dần nhận ra rằng, trong cuộc đời này, có nhiều thứ chúng ta phải tự làm một mình, làm trong nỗi cô đơn không phải do tự nguyện, nỗi cô đơn gắn chặt với chúng ta. Mơ là một trong những chuyện như vậy. Dù có bao nhiêu người đi bên cạnh, chúng ta vẫn phải tự lê bước  trên con đường cuộc đời mình, bằng chính đôi chân của mình. Dù gì, chúng ta vẫn phải đi một mình. Một mình.)



Bản Okuribito của Joe Hisaishi sáng tác, trong đoạn này có cảnh tờ sheet nhạc có ghi tựa tiếng Anh là A wayfarer.

Phim có nói về người cha của Daigo, ông theo người tình bỏ đi khi anh còn nhỏ. Ký ức của anh về cha là một người đàn ông không rõ mặt, và anh giận ông. Anh chỉ nhớ ông là người cho anh học cello lúc anh còn bé, và là người dạy cho anh trò lá thư bằng đá - hãy tặng một viên đá cho người mình yêu thương, người được tặng sẽ cảm nhận hòn đá, sần hay nhẵn, to hay nhỏ, màu sáng hay tối, mà từ đó lại cảm nhận được điều mà người kia muốn gửi cho mình là gì.

Cuối phim, cuối cùng Daigo vứt bỏ được cơn giận để mà đến nhìn mặt cha lần cuối - ông vừa qua đời ở một thành phố khác. Nhìn hai nhân viên nhà tang lễ định khuân xác cha mình bỏ vào quan tài, Daigo ngăn lại, và anh tự tay liệm cho cha mình, tự tay tiễn ông đi. Rồi anh phát hiện tay cha đang nắm chặt hòn đá ngày xưa lúc nhỏ anh trao cho cha mình. Hòn đá cuội trắng, nhỏ, và nhẵn. Cha đưa cho anh hòn đá tối, to và sần. Giờ khi chết, cha trao lại cho anh hòn đá ngày xưa. Hòn đá trắng và nhẵn, giống một lời xin lỗi muộn ông gửi tới đứa con. Daigo cuối cùng tới đây mới nhận ra người nằm trước mặt chính là cha mình, bóng hình của ông trong ký ức anh giờ đã hiện rõ khuôn mặt. Anh áp hòn cuội trắng lên bụng vợ mình, đang mang đứa con của anh, như một kiểu trao truyền lại ký ức.

Xem phim để thấy rằng cái chết thật ra chỉ là một việc bình thường. Chúng ta tiếp cận với cái chết hằng ngày. Phải có cái chết đi để cái khác sống tiếp. Động vật, cỏ cây, thậm chí là các tế bào của chúng ta chết từng khoảnh khắc. Nỗi đau buồn khi người thân yêu từ giã mình mà biến mất là có thật, thậm chí có thể còn là một nỗi sợ thường trực. Thế nhưng hay là nghĩ về cái chết như một chuyện bình thường, như hít vào, như thở ra, như điều chúng ta đối diện hằng ngày, để mà trân trọng cái sống, yêu quý những gì hiện diện xung quanh, những gì mình ăn vào, những gì mình thải ra, những gì chết đi để nuôi sống mình, yêu thương tất cả để từ từ nhận ra rằng thật ra chúng ta chỉ là một.

Dàn diễn viên của phim ai cũng dễ thương, tôi phải nói như vậy. Thỉnh thoảng tôi phải xem một phim như thế này, sau một thời kỳ khô hạn, nó giống như một liều thuốc cho tâm hồn tôi, bón vào cho tươi tốt trở lại.

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012

Kim nhật hà nhật hề? Hôm nay ngày gì vậy?




Kim tịch hà tịch hề? Khiên chu trung lưu.
Kim nhật hà nhật hề? Đắc dữ vương tử đồng chu!
Mông tu bị hảo hề, bất hiềm cấu sỉ.
Tâm kỉ phiền nhi bất tuyệt hề, đắc tri vương tử.
Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi, tâm thuyết quân hề quân bất tri!


Chiều hôm nay là chiều gì vậy!
Em chèo thuyền nhỏ bơi giữa dòng
Ngày hôm nay là ngày gì vậy!
Em được cùng thuyền với vương tử chàng!
Vương tử thích em chăng?
Em không nghĩ gì khác.
Em ngây ngô khờ dại
Chẳng ngờ lại gặp được chàng!
Trên núi có cây, trên cây có cành!
Mà lòng em mến chàng, chàng lại chẳng hay.

(Việt Nhân Ca – Dịch lời: Ngọc Diện Hồ, nguồn: http://blog.daobachlien.com/2006/11/viet-nhan-ca/)

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Chỉ có một điều mãi mãi xanh tươi

Bạn ạ, mọi lý thuyết đều màu xám,
Chỉ có cây đời là mãi xanh tươi.
(Faust - Goethe)

Mephistopheles đã nói với Faust như thế.



Nói thật, sau khi xem The tree of life (Cây đời) của Terrence Malick, được Cành Cọ Vàng ở Cannes 2011, tui không hiểu mấy. Còn mệt nữa. Nhưng từ đó mới nghiệm kĩ thêm được cái lẽ, khi xem phim, thưởng tranh hay đọc sách, đừng tự hỏi mình rằng mình có hiểu không, mình có thực sự hiểu hay không. Cái xu hướng hiện giờ của giới văn nghệ sĩ là viết (vẽ, quay,...) sao cho khán giả khó hiểu nhất có thế, với thủ pháp đa nghĩa hóa, mù mờ hóa, biểu tượng hóa, siêu thực hóa và nhiều thứ xyz hóa khác mà các bạn trẻ trên mạng (hiểu rộng biết nhiều) dùng một thuật ngữ rất chung chung hóa là "tỏ ra nguy hiểm".

Chính từ việc tồn tại nhiều tác phẩm nghệ thuật bây giờ khó hiểu như vậy, phải chăng nên đặt ra một cách tiếp cận nghệ thuật khác: tự hỏi rằng mình có học được gì không, có trải nghiệm được cảm giác hay tri thức nào không. Đối với tôi, khi xem Cây đời, thì câu trả lời là có. Mặc dầu cái việc nhận ra rằng mình đang xem hồi kí của ông đạo diễn khiến tui phần nào không khoái cho lắm, nhưng mà nhạc và phần hình ảnh thực sự làm tui mê tít.

Nghe những nốt nhạc mở đầu từ giao hưởng Má Vlast (Tổ quốc tôi) của Smetana khiến tui sửng sốt. Sáng nay vừa nói chuyện với Cường Quốc về Smetana và Dvorak, về Má Vlast thì chiều nay, thiệt là bất ngờ, lại được nghe trong Cây đời. Vậy thôi, bất ngờ làm nên sự mê tít đầu tiên.

Tiếp theo, bản làm tui mê nhứt chính là bản Lacrimosa trong Requiem for My friend (Bản cầu hồn cho bạn của tôi) của Zbigniew Preisner. Requiem là thể loại nhạc chơi trong thánh lễ cầu hồn trong Công giáo. Lacrimosa trong tiếng Latin bắt nguồn từ Lacrima là giọt nước mắt, Lacrimosa là việc khóc, danh từ giống cái, Lacrimosa là một chương trong thể loại Requiem, từ Mozart, Belioz, Verdi tới nhiều nhà soạn nhạc khác đều có Lacrimosa trong Requiem của mình. Lacrimosa của Preisner theo đúng truyền thống, hát những ca từ Latin theo đúng bài ca trong lễ cầu hồn, nhưng chữ Lacrimosa được lặp đi lặp lại, cho tới tận cao trào. Thực sự nếu đứng trong một lễ cầu hồn, nghe đi nghe lại câu "Khóc đí! Khóc đi!" dộng vào tai như vậy, hẳn tui sẽ khóc thật, nhưng ngồi trong rạp chiếu phim, lúc đó lại chẳng hiểu Lacrimosa là gì, thậm chí còn không biết cái từ mà cái bà đang hát đọc như thế nào, thì tui không thể khóc được, nhưng mà âm nhạc và cái từ lặp đi lặp lại đó, cùng với hình ảnh rộng làm tui rất choáng ngợp. Chỉ một điều tui hơi băn khoăn, tại sao Lacrimosa lại là nhạc nền cho đoạn phim nói về sự hình thành vũ trụ? Nhạc nền cho cảnh thiên thạch rơi xuống trái đất, tiêu diệt khủng long thì còn dễ hiểu, chứ nhạc nền trên hình ảnh các tinh vân, những lò luyện sao, nơi tạo ra các nguyên tố nặng cho vũ trụ thì quả là khó nhằn. Chúng ta nhìn vào, như lời sách Job trích ở đầu phim, nhìn vào thời khắc Người tạo ra Trái đất, "khi những ngôi sao mai hòa ca, và tất cả con của Chúa Trời cùng hét lên trong niềm vui sướng", chúng ta khóc gì ở đây? Khóc trong niềm vui sướng? Hay khóc trong nỗi luyến tiếc, tự nghiệm lại câu hỏi mà Chúa trời đã hỏi ông Job, "Ngươi đã ở đâu lúc ta tạo ra Trái đất?".


Bản Lacrimosa và hình ảnh trong The Tree of Life (tuy nhiên hình nền đằng sau không theo thứ tự trong phim, người up đoạn phim này lên youtube đã chỉnh lại một tí để tránh bị dính bản quyền này nọ). Xem tham khảo.

Chuyện tui thấy khó hiểu nhất trong những cảnh phim khó hiểu, đầy tính trừu tượng của Malick đó là cảnh 2 con khủng long bên bờ suối. Nói ra vậy nghe chừng có vẻ thơ mộng đối với bạn nào chưa xem phim, nhưng mà thiệt ra cảnh này hổng có gì hết, một con khủng long đang nằm, một con khác bỗng dưng đâu ra chạy lại, đạp lên đầu con này, ngó ngó, chừng 30 giây, rồi bỏ chạy đi. Tui thiết nghĩ hồi kí của ông đạo diễn nầy phải chăng dính dáng gì tới khủng long hay trong một phút nhất thời, quay qua nói với thằng Nguyên ngồi bên cạnh, chắc lát nữa người ta vô xin lỗi vì chiếu lộn phim Công viên kỷ Jura. Hay là phải chăng ông đạo diễn, cựu triết gia đang chơi trò siêu thực? Tui hổng biết được. Đoạn này vậy mà cũng tới một phút mấy.

Nội dung phim thì thôi, tui không nói lại, vì mấy bạn nào tò mò thì tốt nhất nên coi phim, mặc dù không hiểu, nhưng cũng sẽ ít nhất biết được phim này kể cái chuyện gì, đại loại là chuyện một gia đình, có thằng con, ở với ba với má, xung đột, này kia, sau này ông con già, nhớ lại hồi nhỏ. Tui kể vậy thôi, báo trước là tui đã tầm thường hóa nội dung bộ phim đi rồi đó, mấy bạn tò mò hơn nữa thì nên lên Tuổi Trẻ đọc bài review của Phan Xinê hay lên www.phanxineblog.com đọc.

Siêu thực trong phim lên tới đỉnh điểm ở đoạn cuối, khi ông kép chánh, sau khi nhớ lại no nê, được ông đạo diễn cho bước ra bãi biển trắng phau, gặp lại chính mình hồi nhỏ, gặp lại ba, lại má, lại hai đứa em, rồi nhiều thước phim tâm linh khác diễn ra. Tui chợt thoáng nghĩ đến cảnh kết thúc, ông này bước ra giữa thành phố đầy nhà chọc trời, gặp lại con khủng long đã (vô cớ?) xuất hiện ở đoạn đầu, rồi hết phim; nhưng thiệt may, hổng có cái cảnh nhảm nhí đó.

Phim kết thúc (theo như tui nhớ, vì lúc đó mệt rồi, siêu thực nhiều quá cũng mệt) bằng cảnh một cánh đồng hoa hướng dương vàng rực, rồi nhè nhẹ chuyển qua cảnh một ngôi nhà gỗ, nằm trên cánh đồng hoa poppy như trong tranh Monet ấy. Rồi từ từ đen thui.

Trong phim, khi Jack, đứa con, được sinh ra, có một cảnh quay rất đẹp: người cha (Brad Pitt) đã cuối xuống chụm hai tay đỡ lấy bàn chân con mình, hệt như đang vun một cái cây. Rồi người cha đã trồng một cái cây trước sân nhà, người mẹ đã nói, "Con sẽ trưởng thành nhanh hơn cái cây này cao lớn".

Cuộc đời một chàng trai, sinh ra trong tình thương, lớn lên trong tình thương, nhưng rồi dần đánh mất sự ngây thơ vì sự khắc nghiệt của người cha, thương yêu con nhưng muốn con thành một người đàn ông mạnh mẽ: "hứa với cha là con đừng giống cha", chàng trai hỏi mẹ, "Làm sao con có lại được sự ngây thơ như hai đứa em", dồn nén mình trong phức cảm Oedipus, trong sự thù ghét người cha ở tuổi dậy thì, chứng kiến nỗi đau khổ của mẹ trước nỗi đau mất đi người em thứ hai, mắc kẹt trong những lời mặc cả với một đấng tối cao vô hình, Người đã ở đâu, chúng con là gì với Người, Người có đang nhìn con không, sao Người lại để một thằng bé chết, rồi từ từ nhận ra mình trở nên giống cha quá. 

Vì chưng mọi lý thuyết đều là màu xám, quỷ sứ đã nói vậy, hãy nhìn vào Cây đời bằng con mắt thuần khiết, cảm nhận bằng hình ảnh và âm nhạc, dõi theo câu chuyện, để thấy rằng, chỉ có một điều mãi mãi xanh tươi.

À Démain.


"But I tried, didn't I? Goddamnit, at least I did that!"

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Freedom is not free at all

Trưa nay tôi xem lại 300.



Đúng là sau khi ngồi đọc lịch sử, có một nền tảng nào đó, ít nhất là về các cuộc chiến giữa Ba Tư và Hy Lạp, thì xem phim 300 quả là thích thú hơn nhiều. Lần xem thứ nhất là năm lớp 9 và cả một lần xem lại một đoạn ngắn trong giờ lịch sử năm lớp 10 khi học về Hy Lạp cổ đại, tôi không có nhiều kiến thức lắm về thời kì thịnh vượng này của người Ba Tư khi họ kéo đi đánh Hy Lạp.

Việc đầu tiên tôi cần làm trước khi xem lại phim 300 là xác định rõ ràng rằng tôi sẽ xem phim giải trí chứ không phải xem Discovery. 300 làm theo truyện tranh của Frank Miller chứ không phải theo sách của Herodotus, do đó, nếu xét về tính chính xác theo sử liệu thì 300 chả có bao nhiêu. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là Frank Miller bịa ra một cái chuyện trên trời nào đó để vẽ truyện tranh cũng như để cho Zack Snyder làm phim, kịch bản của 300 dựa trên các sự kiện đã làm nên lịch sử. Các chi tiết đều rút trích từ sách vở, từ binh đoàn lính bất tử của Xerxes, cơn bão ở Hellespont làm chậm bước tiến của quân Ba Tư, chuyện binh đoàn quân Ba Tư khi bắn tên có thể che kín mặt trời, vân vân, cho tới các sự kiện lớn như trận chiến ở Thermopylae (trong phim dịch ra tiếng Anh luôn là Hot gates - Cổng Nóng - sính tiếng Hán có thể kêu là Nhiệt Môn), lễ hội Carneia ở Spartan khiến Leonidas không thể dẫn quân đội của mình ra trận, lẫn lần xâm lược Hy Lạp trước đó của cha Xerxes là Darius đại đế - người đã mở rộng biên giới Ba Tư ra rộng đến sông Danube lẫn Ấn Độ nhưng không thể chiếm được các thành bang Hy Lạp, cuộc xâm lược của Darius tuy không được thể hiện trên phim nhưng được hoàng hậu Gorgo nhắc lại trước hội đồng Sparta.

Xét về tính giải trí, nghĩa là hoành tráng, kỹ xảo đã mắt, đồ họa đẹp, cốt truyện hay, câu nào câu nấy các nhân vật nói ra cứ như danh ngôn (về khoản này hơi thua Troy một tí), thì phim này không có gì để chê. Tuy nhiên, xét về nội dung thì rõ ràng 300 là một cái phim bêu riếu nền văn hóa Ba Tư, hèn gì phim này bị Iran lẫn đủ nhà phê bình văn hóa cho lên thớt ngay từ khi ra mắt. Frank Miller khắc họa một vị vua vĩ đại của đế quốc Ba Tư hùng mạnh như một tên đồng tính, khuyên móc đầy mặt, quân đội Ba Tư thì toàn quái vật với quái nhân, bầy đoàn trong cung cấm của Xerxes cũng chả lành mạnh cho lắm. Trận chiến Hy Lạp - Ba Tư thời đó được coi như là trận chiến long trời lở đất giữa hai thế lực phương Đông và phương Tây (thời đó bản đồ thế giới của các nước Địa Trung Hải trong tay các sử gia phương Tây chưa mở rộng đến bên kia Hy Mã Lạp Sơn). Khắc họa Ba Tư - phương Đông - như một con quái vật - phe ác, còn Hy Lạp - phương Tây - như những anh hùng - phe thiện, đúng là một thứ địa phương chủ nghĩa, nhằm ca ngợi lòng ái quốc, yêu tự do, ắt sẽ bị các nhà bảo thủ lên án kịch liệt, như thế mới công bằng với các thể loại văn hóa tuyên truyền mà phương Tây gán cho Liên Xô hay TQ trước đây.

Nhưng thôi, nói là nói vậy, một khi bạn đã xác định rằng bạn cần xem một thứ phim để giải trí và ôn lại lịch sử một tí (một tí thôi, vì chả có gì nhiều nhặn về lịch sử ở đây cả) chứ không phải xem phim Discovery để biết diễn biến trận đánh Thermopylae thực sự nó ra sao, quân Sparta bận đồ màu gì, hay chỉ mặc mỗi cái sịp đen và quấn áo choàng đỏ như trong phim, hay quân Ba Tư thiệt ra có mấy con tê giác, quái nhân này kia không, Xerxes có cạo đầu, cũng mặc mỗi cái sịp vàng hay là một ông vua đạo mạo có râu dài ngồi trên ngai bệ vệ (theo tài liệu thì Xerxes lúc này còn trẻ lắm, khoảng ba mấy tuổi), nếu mục đích của bạn chỉ là như vậy, cộng thêm bạn chả phải là người Iran hay Iraq, thì thiết nghĩ, xem phim này vui là chính, chứ ba cái chiện cao siêu, thiện ác này nọ, quan tâm làm gì.

___________________

Sau khi đến Abydus, Xerxes muốn tổng duyệt binh. Người ta chuẩn bị riêng cho ngài một chỗ ngồi bằng đá cẩm thạch trắng trên sườn đồi... Ngài ngồi đó và nhìn xuống bờ biển, ngắm đạo quân cùng chiến hạm, rồi trước cảnh tượng ấy, ngài muốn xem cuộc đua chiến thuyền. Khi cuộc đua kết thúc, đức vua hân hoan hài lòng về chiến hạm cũng như về cuộc đua. 


Nhưng khi nhìn thấy cả Hellespont được các chuyến thuyền phủ kín, cả bờ biển và bình nguyên Abydus đầy ngập quân lính, Xerxes tự gọi mình là một người hạnh phúc, rồi sau đó bật khóc.
Thế là Artabanus, người bác của đức vua (người đã từng khuyên nhà vua không nên dẫn quân tấn công Hy Lạp*),  khi nghe nhà vua bật khóc, đã đến bên và nói: "Thua đức vua, ngài vừa nói rằng ngài hạnh phúc, mà bây giờ ngài lại khóc. Ngài thay đổi tâm trạng thật đột ngột. Đức vua đáp: "Phải, nỗi buồn xâm chiếm ta khi ta nghĩ rằng toàn bộ cuộc sống của con người mới ngắn ngủi làm sao, vì trong số người đông đúc kia sau một trăm năm sẽ không ai còn lại trên đời!".


quyển 7, tựa Polymnia, Sử kí, Herodotus
dựa theo bản dịch của Nguyễn Thái Linh trong Du hành cùng Herodotus của Ryszard Kapuscinski và bản tiếng Anh History of Herodotus của George Rawlinson.
_____________________

Tựa đề là câu nói của hoàng hậu Gorgo. Tự do hoàn toàn không miễn phí. Tự do phải trả bằng máu.

Khi xem lại, tôi nhận ra ở cuối phim, chiến binh Sparta duy nhất còn sống trở về là Dilios (David Wenham đóng - anh này đóng Faramir trong Chúa nhẫn nè) nhằm tiếp tục dẫn dắt quân đội Sparta đánh trận Plantaea với Ba Tư, đã nói một câu chính là 2 câu thơ nổi tiếng khắc trên mộ chí của các chiến binh Sparta:

Go tell the Spartans, passerby:
That here, by Spartan law, we lie.

*: Ban đầu, Artabanus khuyên Xerxes không nên đánh Hy Lạp, Xerxes cũng nghe theo, nhưng sau đó, mỗi khi đi ngủ, nhà vua lại nằm mơ thấy một con ma đe dọa và bắt ngài phải đánh Hy Lạp. Khi Xerxes yêu cầu Artabanus thử thế chỗ của ngài, ông này cũng nằm mơ thấy con ma đó. Thế là cuối cùng, định mệnh bắt buộc Xerxes phải đánh Hy Lạp.

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011

Argonath - Lord of the Rings







Argonath, còn gọi là Cổng Argonath hay Cột Vua, là công trình vĩ đại gồm 2 pho tượng rất lớn đặt hai bên bờ sông Anduin, được xây dựng nhằm đánh dấu ranh giới phía Bắc của Gondor. Hai pho tượng được tạc theo hình dáng của Isildur và Anárion, hai anh em,  hai vị vua đồng cai trị Gondor ở phía Nam cùng với cha mình lúc đó là Elendil cai trị phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh Liên minh Lần cuối, chính Isildur là người đã chặt đứt ngón tay đeo nhẫn của Sauron nhưng sau đó là từ chối không hủy chiếc nhẫn trong ngọn lửa Mordor.

Hình ảnh trong phim của Peter Jackson.

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Những người khổng lồ

Hãy thương hại ta, một vị vua tủi nhục
Mang trên vai gánh nặng đầy khổ cực
Làm một điều chưa ai từng trả qua
Đó là hôn lên tay kẻ đã giết chính con ta."

(trích quyển 24 - Iliad - Homer, dịch theo bản dịch tiếng Anh của George Chapman)


(up phim lên rồi mà nó bị mất tiêu, mời các bạn click vào đây để xem đỡ)

Trích trong Troy (2004), đạo diễn Wolfgand Petersen.


Priam cầu xin Achilles trả lại xác Hector (tranh: Alexander Ivanov)


Sau khi chiến đấu và chiến thắng Hector - hoàng tử thành Troy, Achilles kéo xác Hector theo xe mình trở về doanh trại của quân Hy Lạp. Buổi tối hôm đó, Priam - vua thành Troy - bí mật đến trại của Achilles.
_____________________

Priam tiến vào, hôn tay Achilles.
Achilles: -Ông là ai?
Priam: -Ta vừa làm một điều mà chưa ai trên đời này từng làm. Ta hôn lên tay của kẻ đã giết con trai ta.
Achilles: -Ông là Priam?
Priam gật đầu.
Achilles: -Làm sao ông tới được đây?
Priam: -Ta cho là ta rành đất nước của chính ta hơn là người Hy Lạp.
Achilles (đỡ Priam dậy): -Ông thật dũng cảm. Ta có thể cắt đầu ông trong một cái chớp mắt.
Priam: -Ngươi nghĩ cái chết giờ đây còn làm ta sợ nữa sao? Ta đã chứng kiến đứa con trai cả của ta chết, chứng kiến cảnh ngươi kéo lê xác nó sau xe ngựa... Hãy trả nó lại cho ta. Ngươi biết nó xứng đáng có một tang lễ trang trọng theo đúng danh dự của nó mà. Trả nó lại cho ta.
Achilles: -Hắn giết em ta.
Priam: -Nó nghĩ hắn là ngươi. Bao nhiêu anh em ngươi đã giết rồi? Bao nhiêu người con, người cha, người anh và người chồng? Bao nhiêu hả, Achilles dũng mãnh?...
            Ta biết cha của ngươi. Ông chết trước khi thời của ông đến. Nhưng ông may mắn khi không phải sống đủ lâu để thấy con trai mình ngã xuống...
            Ngươi đã lấy mọi thứ của ta, đứa con trai cả, người kế thừa ngôi vua của ta, người bảo vệ vương quốc của ta. Ta không thể thay đổi những gì đã xảy ra, đó là ý muốn của các thần. Nhưng hãy cho ta ân huệ nhỏ này. Ta yêu đứa con trai của mình từ lúc nó mở mắt cho tới tận khoảnh khắc ngươi làm mắt nó nhắm lại.
            Hãy để ta tắm rửa cho nó. Hãy để ta đọc lời cầu nguyện. Hãy để ta đặt hai đồng xu lên mắt nó để trả cho người đưa đò.
Achilles: -Nếu ta cho ông ra khỏi đây, nếu ta cho ông lấy lại thân xác của hắn, sẽ không có gì thay đổi đâu. Ông vẫn là kẻ thù của ta vào buổi sáng.
Priam: -Ngươi vẫn là kẻ thù của ta ngay tối nay. Nhưng ngay cả kẻ thù cũng có thể tỏ lòng kính trọng lẫn nhau.
Achilles (im lặng, đi ra một bên): Ta kính trọng lòng can đảm của ông. Hãy gặp ta ở ngoài. (đi ra)

Achilles (bọc xác Hector lại và khóc): Chúng ta sẽ gặp lại nhau sớm, người anh em.

____________________

Đoạn này là một đoạn hay trong phim Troy. Troy là một phim hay, vượt ngoài mong đợi của tôi.
Đoạn phim này khắc họa được những giọt nước mắt của Achilles đã rơi xuống trong quyển cuối cùng của Iliad. Không như mọi người thường nghĩ, Iliad của Homer dừng lại ở đoạn Priam đến xin xác Hector về và chôn cất. Con ngựa thành Troy nổi tiếng được kể lại trong các tác phẩm khác của các tác giả khác, rõ nét nhất trong đó là Aeneid của Virgil (đây cũng là một anh hùng ca nổi tiếng của nhà thơ La Mã Virgil, kể về Aeneas người thành Troy trốn thoát khỏi thành Troy sụp đổ và đến Ý, là tổ tiên của hai anh em sinh đôi Romulus và Remus, người sáng lập ra thành Roma).

Phim Troy kể về cuộc chiến thành Troy mà không có bóng dáng một vị thần nào, là một phim lịch sử chứ không phải một phim thần thoại. Ngay cả nữ thần biển Thetis, mẹ Achilles, trong phim cũng được khắc họa như một người phụ nữ bình thường, trong khi ở Iliad, bà được Homer miêu tả với rất nhiều sức mạnh đến từ biển, ban cho Achilles đủ thứ vũ khí, áo giáp.

Trong Homer, Troy là một cuộc chiến mà đủ các vị thần tham gia. Họ không trực tiếp đánh trận nhưng góp phần làm ảnh hưởng đến thế cục. Thần Apollo cho rằng Achilles lấy xác Hector về, không để cho Hector được chôn, kéo lê xác trên mặt của đất là tỏ ra không tôn trọng đất mẹ. Thế là Zeus phải cho Thetis đi truyền đạt ý nguyện cho Achilles cần phải trả xác Hector lại và phái thần Cầu vồng Iris truyền đạt cho Priam là phải đi xin lại xác Hector cùng với sự dẫn đường của Hermes. So với câu chuyện đầy thánh thần của Homer, bộ phim Troy rõ ràng mang tính nhân văn hơn nhiều.

Xem phim, tôi thấy thần thoại Hy Lạp dưới một góc độ khác, một góc độ nhân văn. Đó cũng từng là những con người, họ đã được thần thánh hóa vì những chiến công của họ, vì những điều họ đã làm. Những gì những con người của lịch sử ấy đã làm chính là điều khiến họ được cả ngàn năm sau nhớ đến, như lời bài hát chính thức của Troy "Remember" mà Josh Groban hát:

I'm with you, whenever you tell my story, 
for I am all I've been done.


Cuối cùng thì Achilles cũng chết, chết một cái chết đầy tính thần thoại trong một bộ phim không hề thần thoại, theo đúng kịch bản của bi kịch Aeschylus (tiếng Việt đọc theo tiếng Pháp là Étsin, còn đọc chánh xác tiếng Hy Lạp là Ét-xơ-khi-lús): Achilles bị Paris bắn thẳng vào gót chân, khi đang ôm lấy Briseis. Cái chết của Achilles, những giọt nước mắt của Achilles, cơn giận dữ của Achilles, ánh nhìn của Achilles, lời nói và cử chỉ của Achilles, sự dũng mãnh và hiếu chiến và cả tình yêu của Achilles đều làm nên hình ảnh của một người anh hùng. Tất cả những thứ đó, Brad Pitt đều thể hiện một cách tuyệt vời qua vai diễn của mình.

____________________

Tôi nhận ra Iliad thực sự là một quyển khó nuốt. Tôi đọc bản dịch của Chapman, một bản dịch từ thế kỉ 17, một bản dịch được đánh giá là hay và tuy có hơi chế biến lại về từ ngữ so với bản tiếng Hy Lạp cổ nhưng giữ trọn vẹn phong cách của Homer. Tuy thế, đối với tôi, đó là một bản dịch khó đọc, tôi phải đọc cùng với bản dịch thô của Butler.

Tôi vừa đọc được vài trang của quyển 1 thì phải ngừng lại, để giành sau khi thi đại học xong sẽ giành thời gian đọc tiếp. Tự nhiên hôm nay ngứa ngáy tay chân, ngồi xem lại đoạn Priam gặp Brad Pitt, à gặp Achilles.

___________________

Nếu sau này người ta có kể lại câu chuyện của tôi, hãy để cho họ nói rằng tôi đã bước đi cùng những người khổng lồ. Con người sinh ra và chết đi như lúa mạch mùa đông, nhưng tên tuổi của họ không bao giờ chết. Hãy để họ nói rằng tôi sống cùng thời với Hector, người thuần ngựa. Hãy để họ nói rằng tôi sống cùng thời với Achilles...
(Odysseus - lời nói cuối phim)

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

Hanna

Dream, how i dream to feel...
(Hanna's theme - Vocal version)

Có vẻ như mùa xem phim của tôi đến sớm hơn dự kiến, bắt đầu từ lúc tôi vẫn còn đang chuẩn bị thi đại học. Khi không đi học thêm, tôi ở nhà hầu như chỉ làm một trong ba việc: đọc sách, xem phim và học bài.

Đọc sách là chuyện tôi làm thường nhật. Xem phim ở đây có nghĩa là ngôi dán mắt vào tivi hoặc laptop xem một bộ phim, không tính xem hoạt hình hay ba cái phim hài trên Disney.

Tôi đi xem Hanna tuần vừa rồi với 2 đứa bạn cũ, Đình Nguyên và Hà, gần một năm rồi không gặp.

_____________________


Hanna là một phim thú vị. Tôi đi xem Hanna là vì có Cate Blanchett và Eric Bana, cũng để xem cái bạn  Saoirse Ronan (nhân tiện, tôi không biết đọc tên bạn này thế nào cả, wiki phiên âm là [ˈsˠiːɾˠʃə] mà tôi thì không rành phiên âm IPA tiếng Irish, thấy nó còn bảo đọc là seer-shə) diễn ra sao, sau khi xem Atonement không mấy ấn tượng và The Lovely bones thì mới xem có 10 phút. Sau khi thấy fb anh Hoài ghi bạn này lạnh lùng như Natalie Portman hồi xưa thì tôi lại càng thôi thúc phải đi xem.

Hanna có âm nhạc hay, tôi ấn tượng nhất với phim này ở mảng âm nhạc. Chemical Brothers làm phần nhạc khiến tôi thực sự có cảm giác giải trí khi xem phim. Đoạn Hanna đào thoát khỏi căn cứ CIA, âm nhạc kết hợp với những góc quay nhanh, ánh sáng chớp tắt tạo nên một không khí nhanh, hồi hộp, nhưng cũng tạo cho tôi thấy một sự tự tin và một cảm giác chắc mẻm là thế nào em này cũng thoát được thành công. Đó là bản Escape Wavefold trong soundtrack.




Một bài khác cũng khiến tôi ấn tượng, đó là bản Container Park, với phần giai điệu đều đều, xuyên suốt cả bộ phim. Chắc chắn với tôi, bản nhạc làm nên ấn tượng cả một bộ phim Hanna sẽ là giai điệu của Container Park, mỗi lần nghe lại, tôi sẽ nhận ra, "Đây đích thị là nhạc Hanna!". Quên, nói đến nhạc ấn tượng, tôi cũng phải kể luôn bản nhạc theme music cuối phim nữa.

Còn bản nhạc tôi nhớ mãi, không thể nào quên được đó là The Devil is in The Details, giai điệu rất ư là catchy gắn liền với tên sát thủ Isaacs (Tom Hollander). Isaacs là vai diễn có thể nói gây thích thú nhất cho khán giả, tên sát thủ "lưỡng tính" này lúc thì mặc quần đùi bó sát tông xuyệc tông với áo thun trắng, lúc thì chơi nguyên bộ đồ thể thao trùm kín người vàng khè, miệng cứ cười cười, đi lại ngông nghênh, lúc nào cùng huýt sáo giai điệu The Devil is in The Details trong vũ trường nhảy thoát y của hắn. Tôi nghe đi nghe lại bài này với cùng một niềm vui, thuần khiết, huýt sáo nữa. Giai điệu vui tươi, đọc những comment trên youtube cũng thấy rất vui:


My mum is even singing it :)

Điều tôi khoái nhất hôm nay đó là cuối cùng sau gần một tiếng google tôi cũng tìm ra được tên bản nhạc cổ điển mà Knepfler bật cho Hanna nghe ở Ngôi nhà của Wilhelm Grimm, bản này không có trong đĩa Original Soundtrack. Giai điệu nghe rất quen thuộc, tôi nhận ra ngay lập tức là nhạc trong phim Mickey hay Donald gì đó của Disney, tưởng google một phát sẽ ra ngay nhưng bước vào thực hành mới thấy khó khăn. Tôi phải ngồi vắt óc ra nhớ xem đó chính xác là bộ phim gì, youtube để nghe thử, rồi tra cứu nhạc trong đó là bài gì, cuối cùng cũng tìm ra đó là bản ‪In the Hall of the Mountain King trong tổ khúc giao hưởng Peer Gynt của Grieg‬‏, bộ phim lồng nhạc bản này vào là Donald's Halloween Scare chiếu trong House of Villans. Coi như cũng là một chiến công google.

Đó là về phần nhạc. Về phần nội dung (chú ý, ai muốn xem phim thì đừng đọc phần này, spoiler bắt đầu), phải nói tôi xem phim này một phần nữa cũng để xem nó khác Léon, the Professional (bộ phim lần đầu tiên tạo nên tên tuổi Natalie Portman) ra sao (chắc chắn nhiều người khác đã từng xem Léon rồi cũng sẽ có suy nghĩ như tôi). Cả hai bộ phim đều kể hai câu chuyện về hai cô bé sát thủ, ở hoàn cảnh khác nhau, tính nết khác nhau, mục đích khác nhau. Léon của Luc Besson là một bộ phim về tình yêu, còn Hanna của Joe Wright, ngược lại, là một bộ phim về sự thiếu vắng tình yêu. Cô bé Mathilda trong Léon muốn trở thành sát thủ để trả thù cho đứa em trai (cả gia đình cô bé bị một băng xã hội đen giết, nhưng em chỉ thương mỗi đứa em trai thôi). Còn Hanna từ trước khi sinh ra đã được định sẵn số mệnh của mình sẽ là một chiến binh hạng nhất (thay đổi DNA, giảm xúc cảm, sự sợ hãi, tăng sức mạnh cơ bắp, ...). Nếu như Mathilda mới 13 tuổi mà hành sự y hệt người trưởng thành, lại còn có cả tình cảm với Léon thì Hanna 16 tuổi nhưng ngây ngô hoàn toàn không biết gì về cuộc đời ngoài những kiến thức cha dạy từ cuốn bách khoa, lại lạnh lùng như một cái máy, đến khi phát hiện ra Erik (Eric Bana) người nuôi nấng, bảo bọc, huấn luyện mình suốt 16 năm trời không phải cha ruột mình, lại che dấu mình một bí mật khủng khiếp, trong khi tôi chờ đợi một sự thông cảm, một cái ôm chẳng hạn, thì bộ phim lại cứ lạnh lùng trôi đi.

Nói chơi một chút, tôi cũng phát hiện ra một điều, trong khi Eric Bana huấn luyện Saoirse Ronan làm sát thủ, dạy đủ các ngón nghề, đồ chơi, nhưng thiếu một món sát thủ nào cũng xài, đó là bắn súng nhắm (sniper ấy), khác xa với khi Natalie Portman khi được Jean Reno đào tạo được dạy bắn súng nhắm kỹ càng. Trong phim, cũng chẳng bao giờ Hanna đụng tới cây súng nhắm, chủ yếu dùng tay không, ít khi đụng tới cả súng lục và dao. Có lẽ đây chỉ là một ý nhấn mạnh về bản năng sát thủ bẩm sinh trong DNA của Hanna mà thôi.

Tôi vẫn đang suy nghĩ về sự liên quan giữa truyện cổ của anh em Grimm đối với câu chuyện về Hanna. Anh em nhà Grimm làm gì trong bộ phim này? Hanna không phải hoàn toàn vô cảm, khi nghe kể chuyện về Laika, em cũng muốn cha mình thay đổi cái kết, đừng đọc cho em nghe cái kết là Laika bị mặc định là sẽ hy sinh trên quỹ đạo. Trách Hanna được chăng khi em cũng chỉ là một sát thủ ngây thơ, một chiến binh bẩm sinh, sinh ra đã bị mặc định là phải như thế. Ai từng đọc truyện cổ do hai anh em học giả Grimm sưu tầm chắc hẳn sẽ thấy phong vị khác hẳn với truyện cổ sáng tác của Andersen. Truyện cổ Grimm không hoàn toàn nhân văn như Cô bé bán diêm hay Chú lính chì dũng cảm của Andersen, nó u ám, bí hiểm, tuy đã được hai anh em Grimm "hiền hóa" để thích hợp hơn với trẻ em, nhưng nó vẫn toát lên cái vẻ gì đó tăm tối. Sao lại có chuyện cha mẹ mang con vào rừng bỏ mặc cho thú dữ ăn thịt như trong Hansel và Gretel, rồi cảnh Hansel và Gretel giết mụ phù thủy bằng cách nhốt mụ vào lò, chẳng phải độc ác quá sao. Hay là đọc Rumpelstilskin xong, truyện tên người lùn giúp cô gái quay được sợi rơm vàng để rồi trở thành hoàng hậu với điều kiện phải cho hắn đứa con đầu lòng, sau khi cô sinh đứa con đầu lòng, hắn tới đòi, cô lấy hết tài sản ra để đưa thay đứa con nhưng hắn không chịu, cuối cùng hai người thỏa thuận là trong 3 ngày, cô phải tìm ra tên của hắn thì hắn sẽ bỏ qua lời hứa năm xưa, thật vậy, đọc trong truyện đó, tôi không biết phải thương ai bây giờ, tên người lùn bị chơi xỏ hay là người mẹ thất hứa vì thương con...

Ôi, dám từ phim Hanna, tôi lại đâm ra khoái truyện cổ Grimm nữa rồi, thể nào cũng sẽ ngồi đọc lại.

Nói chung, Hanna được nhiều nhà phê bình, báo chí này nọ ở phương Tây ví như một món quà tặng cho anh em nhà Grimm, vì chưng Hanna thực sự là một câu chuyện cổ tích u ám thời hiện đại.

Tôi chợt nghĩ, tại sao đã làm chiến binh, làm sát thủ, sao không can thiệp sinh học để tạo ra một sát thủ con trai luôn, mắc mớ gì phải ra một cô gái, nam giới thì chắc chắn sức mạnh cơ bắp sẽ tốt hơn rồi. Rồi tôi tự trả lời mình, có thế mới làm được phim, chuyện một đứa con trai được nuôi dạy để rồi trở thành sát thủ, ai mà thèm xem. Cũng có khi nếu làm một bộ phim như vậy, phim đó sẽ không chỉ thiếu vắng tình yêu và cảm xúc mà phải nói là hoàn toàn vô cảm, tên sát thủ đó sẽ y như một cỗ máy giết người vậy. Achilles thể hiện trong Troy và cả Illad là một chiến thần, nhưng cũng là một con người, cũng chết, cũng yêu Brissey, một con robot dọn rác như WALL-E dù sao khi khoa học phát triển đến một mức nào đó cũng có thể yêu EVE; nhưng một cái máy giết người thì hoàn toàn khác.



Hanna là một phim không nhiều ý nghĩa, nhưng gợi nhiều suy nghĩ, và trên hết là một phim giải trí, với âm nhạc tuyệt vời. Tôi hy vọng sẽ được nghe lại nhạc của Hanna vào Oscar năm sau.


Đoạn kết:
Tôi chỉ bắn trượt tim bà thôi.
Bùm
HANNA

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

Ghi chép về những thứ chán òm




Tối nay là lượt trận cuối cùng của mùa giải 2010-2011 của English Premier League. Một mùa giải trôi qua như mọi mùa, nhưng đối với tôi, nó vô cùng đáng nhớ và đặc biệt, một phần cũng bởi đây là năm học cuối cùng.

Không biết từ lúc nào tôi có một cái cảm giác về sự tương đồng về mùa bóng này của Arsenal đối với năm học của tôi, một kiểu giác quan thứ sáu thôi, không có bất kỳ một lý do rõ ràng nào, thuần túy cảm giác. Có lẽ cảm giác đó đến với tôi từ đầu năm học.

Khi mà tôi hy vọng vào một mùa bóng thành công của Arsenal, cũng là tôi đang tin tưởng vào một năm học tốt đẹp. Một năm học 12 tốt đẹp đối với tôi có nhiều nghĩa, và tôi cũng có đủ cơ sở để tin như vậy. Tôi cũng có đủ cơ sở để tin vào một năm thành công của Arsenal, khi mà cho tới tận tháng 2, người ta vẫn nghĩ Arsenal có thể giành tới 4 chiếc cúp.

Thế mà bây giờ, Arsenal đang lết bết giành nhau cái hạng 3 EPL với ManCity và phòng truyền thống cũng không có thêm một chiếc cúp nào. Còn tôi bây giờ thì đang ngồi ở nhà, chống cằm, ngáp ngắn ngáp dài nhìn về 2 kì thi phía trước.

Tôi đã tính đủ đường, trong những con đường của tôi, kỳ thi đại học siêu siêu chán và nhảm luôn nằm ở phương án cuối cùng, khi tất cả những kế hoạch trước đó đều đổ bể. Tôi hoàn toàn không mong đợi việc mình sẽ thi đại học lắm, ít nhất là mãi đến tận gần cuối tháng 3. Không phải tôi sợ, tôi chả sợ gì cả, tôi chỉ không thích. Tôi làm không tệ bài thi NTU của mình và đã luôn nghĩ mình sẽ có một vé sang Sing học Vật liệu. Thế nhưng tôi vẫn không đậu vì cái điều quái quỷ gì đó mà tôi cũng chẳng hề biết, chẳng ai nói tôi biết, y hệt như chẳng ai hiểu vì sao van Persie bị đuổi ở Nou Camp và tại sao lại có cái chuyện không tưởng mà Sczcesny và Koscielny làm ở Wembley vào những ngày tháng 2.

Nhưng tôi hiểu, mùa bóng đã khép lại, còn cuộc phiêu lưu của tôi thì vẫn còn tiếp diễn. Hai thứ đó không có gì giống nhau hết, tôi không thể đánh đồng làm một. Tôi vẫn còn những hy vọng của riêng mình và vẫn còn những con đường mới cứ mở ra liên tục.

Cuộc chơi vẫn chưa hết.

_______________________



Hôm qua tôi xem "500 days of Summer", một cái phim mà từ khi Star Movies giới thiệu là sắp chiếu, tôi cứ nhấp nha nhấp nhổm muốn xem.

Rõ ràng rành rành đó là một phim hài, dễ thương, với Joseph Gordon-Levitt (Tom) và Zooey Deschanel (Summer) (thiệt tình tôi muốn xem cũng vì khoái Joseph Gordon-Levitt trong Inception). Phim làm tôi cười được, cười nhẹ nhàng, vui vẻ, sảng khoái. Ít nhất là cho tới khi gần hết phim.

Thế nhưng, khi xem tới gần hết phim, khi Summer làm đám cưới, trong khi còn lại gần ba mươi ngày nữa mới đến cái mốc "500 days", tôi tự hỏi, người ta còn có thể kể cái gì nữa cho tôi trong câu chuyện này. Cái kết khiến tôi khá bất ngờ.

Tôi phải công nhận đây là một phim hay, không nhảm nhí, không cường điệu, không ba xạo, tuy thế, tôi không thích. Tôi không thích cái kết cục, không thích cái tình thế của Tom. Những thứ không thích đó không tránh được, vì nó thực quá.

Khi xem phim này, tôi thực sự không nghĩ tới ai cả, nó không gợi cho tôi về bất kỳ ai cả. Chỉ có con số đếm "500" làm tôi nhớ lại ngày trước tôi với bạn đếm số ngày của chúng ta. Tới một ngày, bạn phát chán, không thèm đếm nữa, nhưng tôi thì vẫn cứ đếm. Rồi cũng tới một ngày tôi cũng phát chán. Rồi cái ngày tôi quyết định bỏ hình ảnh của bạn ra khỏi đầu tôi, tôi cũng chả cần biết (và tới giờ cũng chả cần nhớ) hôm đó là ngày thứ hai trăm mấy. Chỉ có gợi thế thôi, chứ phim này thật sự không gợi cho tôi về ai cụ thể hết.

Tôi nhận ra trong cuộc đời có rất nhiều thứ chúng ta không thích. Đúng thế, không ai thích được hết tất cả mọi khía cạnh của cuộc đời. Không thích nhưng không tránh được, vì nó là bản chất rồi.

Tôi cũng nhận ra rằng, bị đặt một cách thụ động vào những điều không thích dù sao cũng dễ chịu hơn là phải chủ động làm điều mình không thích. Chủ động là đã có quyền được lựa chọn, hoặc làm hoặc không, nếu làm thì hoặc qua loa, hoặc cẩn thận, và phải chịu trách nhiệm về việc mình làm. Cái việc phải chịu trách nhiệm về việc mình làm mà mình không hề thích nó khiến tôi thấy phát ốm.

Nhưng tôi cũng thấy được nếu ai cũng làm toàn điều mình thích thì sẽ tới lượt cái xã hội này phát ốm. Phải có sự cân bằng trong việc làm những điều mình thích và (tự nguyện cũng như bắt buộc) làm những điều mình không thích chút nào. Nói ra thì cao cả nhưng nó thật sự là như vậy, chỉ có như vậy mới không làm tổn thương những người khác, tổn thương cái xã hội, cái nền văn mình và cái hành tinh này.


(ghi chép thế này không vụn lắm nhưng cứ thích để vào "Ghi chép vụn" - chả tổn thương ai cả)

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Bài hát của các tiên hay là những điều cô gái ấy đã nói

Ôi, các người đi đâu đó,
Mà trở về trễ thế này?
Dòng sông đang chảy,
Tất cả các vì sao đang rực sáng!
(Bài hát của các Tiên trên cây - Tolkien)


Tôi đọc hết The Hobbit (bản tiếng Việt "Anh chàng Hobbit" của Nhã Nam - Nguyên Tâm dịch) và xem lại The Fellowship of the Ring lần thứ hai. Lần đầu tiên tôi luyện cả bộ phim 3 phần của Chúa Nhẫn là vào hè năm lớp 10 lên 11, có nghĩa là cách đây gần hai năm rồi, theo lời gợi ý của chị Bảo Quyên, đĩa cũng do Bảo Quyên cho mượn. Lần đó tôi xem như thưởng lãm, như gió nhẹ thổi qua mặt, chỉ thấy hay thôi chả thấy gì.

Lần xem lại này, đối với tôi, mới là một trải nghiệm tuyệt vời. Không phải tới bây giờ, tôi mới phát hiện ra rằng thằng Thanh Long ngồi kế bên tôi hai năm nay có cùng với tôi nhiều sở thích như vậy: nó sinh sau tôi hai ngày, chơi cùng một loại game, xem cùng một loại phim, cùng mê một đội bóng và hơn nữa, nó lại là một thằng fan của Chúa Nhẫn. Tôi không thể tự gọi mình là fan của Chúa Nhẫn (ít nhất là cách đây một tháng), vì lần xem Chúa Nhẫn đầu tiên tôi hoàn toàn không thể nắm được nội dung truyện, cũng chả buồn tìm tòi, tôi chỉ thấy nó hay, một cái hay vô cùng lớt phớt, điều duy nhất đọng lại trong tâm trí tôi là phong cảnh đẹp tuyệt vời quay tại New Zealand và cái nhạc phim có vẻ hay hay.

Cơn sốt Chúa Nhẫn trở lại gần đây, khi tôi nhận ra nhạc phim Chúa Nhẫn không chỉ "có vẻ hay hay" mà là siêu hay, cực kỳ hay. Nhạc phim do Howard Shore cùng với Enya cộng tác, thực sự là những tác phẩm nghệ thuật để đời. Ý muốn đọc nguyên tác truyện của Tolkien thì đã manh nha từ lâu rồi, từ khi tôi còn nghe chị Bảo Quyên suốt ngày bảo phải đọc Lord of the Rings vì đó là một trong các tác phẩm Anh ngữ hay nhất mọi thời đại với thứ ngôn từ đẹp nhất của tiếng Anh được viết trong đó và vì  (như tôi tìm hiểu được) Tolkien là một nhà ngôn ngữ học đại tài, giáo sư Rawlinson and Bosworth về ngôn ngữ Anglo-Saxon của đại học Oxford, người sáng chế ra một họ ngôn ngữ Tiên (Elvish) cho các trước tác của mình.

Khi mà phải nhốt mình trong ngục tù của những điều tầm thường và nhàm chán, điều duy nhất tôi muốn làm là được thoát ra và bay đi chơi. Thế là ý định chờ lúc rảnh rỗi để đọc The Hobbit của tôi bị phá sản hoàn toàn, tôi quyết định phải đọc cuốn đó trong những ngày như thế này. The Hobbit không phải như Harry Potter 7, quyển sách cuốn hút tôi đọc từ sáng tới chiều trong những ngày thi học kỳ 2, mặc dù cũng là đọc lại lần hai. The Hobbit là một quyển sách hay kiểu khác, trong đó có những điều nhẹ nhàng, có những giấc mơ và cả những điều mạnh mẽ. Câu chuyện của Bilbo Baggins sống ở Đáy Túi - Gầm Đồi (tôi thích bản dịch này của Nguyên Tâm - một bản dịch hay, gọn và giọng văn phù hợp) như một khúc mở đầu (prelude) cho 3 tập Chúa Nhẫn tiếp theo (chưa đọc). Một quyển sách nhỏ, kể về một chuyến phiêu lưu gồm 14 người - 1 Hobbit và 13 người lùn (kéo dài hơn 1 năm trời, qua một đoạn đường dài) là một lời giới thiệu về những người Hobbit ở Shire, về những phẩm chất đáng quý của các Hobbit dòng họ Baggins, trước khi đến cuộc phiêu lưu lớn hơn (một chút) của Frodo Baggins trong 3 quyển sách sau. 

Xem The Hobbit xong, khi xem lại The Fellowship of the Ring, tôi nhận thấy mình hiểu thêm rất nhiều thứ, mà nếu không đọc The Hobbit trước, chắc chắn tôi sẽ không để ý và không hiểu được. Đó là cảnh đầu tiên Gandalf xuất hiện, lão đã hát bài The Road Goes Ever On của Bilbo sáng tác lúc anh chàng còn trẻ, khi sắp về tới nhà sau chuyến đi của mình. Rồi cảnh Gandalf và Bilbo ngồi hút thuốc và nhả khói thành vòng tròn, đó chính là lặp lại y chang cảnh đầu tiên hai người gặp nhau khi Gandalf đến Hobbitton tìm Bilbo trong The Hobbit. Rồi cảnh cái bản đồ nằm trên bàn của Bilbo ở ngôi nhà Đáy Túi (Bag End), đó chính là bản đồ các chú lùn mang tới khi thuê Bilbo đi phiêu lưu cùng họ, hay là quyển sách There And Back Again do Bilbo viết về cuộc phiêu lưu của mình mà Frodo đọc được khi ở Rivendell của Elrond, chính là quyển The Hobbit của Tolkien được viết lại ở ngôi thứ nhất.

Tôi rất thích những bài hát của các Tiên (tiếng Anh là Elf ấy), những người được Tolkien miêu tả là "cứ cười và hát ở trên cây những điều mà các bạn cho là vô nghĩa. Điều đó thì họ chẳng quan tâm; họ sẽ chỉ càng cười nhiều thêm nếu các bạn bảo họ như thế. Tất nhiên họ là các tiên rồi.". Xem The Fellowship of the Ring tôi mới được tận tai nghe tiếng hát của các Tiên là như thế nào, dĩ nhiên đó cũng chỉ là sáng tạo của Howard Shore, Enya và Peter Jackson thôi. "Tiếng hát của các Tiên đâu phải là một cái gì đó có thể bỏ qua vào tháng Sáu dưới các vì sao, nhất là khi các bạn thích những thứ như vậy". Giọng của Enya quả là một cái giọng đầy chất Elvish, nhiều khi nghe Enya hát May it be, tôi cứ nghĩ Enya hẳn phải là elf, chứ không phải là người. Nếu các bạn có xem The Fellowship of the Ring, hãy chú ý cảnh Aragorn và Arwen vừa nói tiếng Tiên (không biết là Quenya hay Sindarin) vừa hôn nhau ở Rivendell trên nền nhạc Aníron Enya hát hay chú ý bài hát tiếc thương Gandalf của các Tiên ở Lothlórien (không thấy mặt các tiên đâu, có lẽ họ đứng trên cây mà hát), đó chính là những gì tôi cảm nhận được về tiếng hát của các tiên.

Tôi sẽ xem tiếp The Two Towers và dĩ nhiên là The Return of The King, nhưng không phải bây giờ, những ngày nghỉ đang sắp hết, tiếp tục phải trở lại với những điều nhàm chán. Tôi sẽ có những điều khác để giết cơn nhàm chán của mình, nhưng đó không phải là Chúa Nhẫn, tôi sẽ để dành lại cho những dịp khác.

Cảm ơn Tolkien, ông đã chia sẻ thế giới của mình cho tất cả mọi người. 

You walk a lonely road
Oh, how far you are from home
Mornié utúlié
Believe and you will find your way
Mornié alantié 
A promise lives within you now


Chàng đi một mình trên con đường
Ôi, chàng đang xa nhà biết mấy.
Bóng tối đã đổ xuống
Vững tin và chàng sẽ tìm ra phương hướng
Bóng tối đã tiêu tan
Một lời hứa sống mãi trong trái tim chàng

(May it be - Enya)