Tương phùng thanh nhãn nhật, Tương thán bạch đầu thì. Lụy thoại tam triều sự, Trùng khán nhất cục kì. Hoan ngu phi lão đại, Thành trường thị anh nhi. Thư tẫn tôn trung vật, Vô phiền cánh hậu kì.
Tôi thích hai câu cuối, đọc được 2 câu này trong Nguyễn Trãi quốc âm từ điển của Trần Trọng Dương, dịch bằng 5 chữ hay hơn và sát hơn như thế này:
Áo khách nay đà mỏng
Khí lạnh bỗng về nhiều.
Bản tôi dịch phải bẻ vần cuối thành vần ê, vì không thể tìm được chữ nào có nghĩa là "xa" để dịch chữ diêu mà giữ vần iêu.
Cặp đối "Rừng che/Gió đẩy" (Lâm tàng/Phong thoái) rất hay.
Khi đi trong trời lạnh, lúc nào cũng có cảm giác tê tái và cô đơn. Đây có thể là bài thơ làm trong một chuyến về quê lúc cuối năm, thời xưa hay thời nay đều có thể cảm được. Thuyền vào bến lúc ban chiều, đường về nhà vẫn còn dằng dặc. Mưa vừa mới tạnh, triều sắp sửa rút, lửa đã thắp sáng dọc bờ cát ở bến tàu, buồm căng chắn cả lối đi dưới chiếc cầu bắc qua cửa sông. Người thời nay không đi thuyền về quê nữa mà đi máy bay transit mấy chặng, vẫn có thể hiểu được cảm giác này. Bến thuyền cũng như cửa ra máy bay lúc nào cũng tấp nập, ồn ào, nhưng người về quê chỉ thấy được cảnh, thấy được "cơn mưa", "ánh lửa", "luồng gió". Người về quê kéo vội manh áo che người vì trời trở lạnh, hoặc ngược lại, nếu đi từ xứ lạnh về xứ nóng thì áo khách nay đà dày quá, bèn vội vã cởi nút ra mà thở.
Rất nhiều lần tôi bắt đầu tự hỏi rằng tại sao tôi lại ở đây. Đằng trước là thác, đằng sau là thác, bốn bề là thác. Trên đầu là bão. Phía xa trên đỉnh núi là gió. Cờ quằn quại bay. Tôi nghĩ rằng chuyến đi này càng ngày càng khiến tôi bị mất đi cái tôi của mình. Mây mưa sấm chớp. Tôi cố gạt đi những hạt nước nhỏ đang bám lên kính. Tôi nghĩ về cái tôi đang dần dần tan biến của mình. Tan biến hay là đổi hình dạng? Đừng nhìn vào hố thẳm. Hố thẳm sẽ nhìn lại vào tôi. Đừng nhìn vào dòng thác. Dòng thác sẽ nhìn lại vào tôi. Một chị hai chị cũng như sen. Rơi nốt em trai dòng lệ sót. Không phải khuyên đâu, mà là rơi. Không có từ ngữ nào nữa để mà khuyên, để mà thốt lên. Chỉ còn lệ để mà rơi.
Tôi ngần ngừ nghĩ về chặng đường dài đã qua. Tôi nghĩ về chặng đường lên cao phía trước. Tôi gần đánh mất cái tôi của mình. Tôi nhìn vào hố thẳm quá lâu. Hố thẳm bắt đầu xem tôi như bạn. Bao nhiêu đêm thâu tôi vật vã. Biết mấy ngày dài tôi khóc than. Nơi đây lá giạt vương chân ngựa. Hươu chạy quay đầu theo ngó theo. Chặng đường dài tôi không giữ nổi mình. Thì ai giữ?
Thành Cai Hạ cháy rồi. Sở ca vang bốn bề rồi. Sao lại cho tôi quả địa tối chi? Bao giờ tôi gỡ cho xong?
Cái tôi của tôi rung lên từng đợt. Tôi quỳ xuống ôm choàng lấy nó. Tôi đang khỏe mạnh hơn bao giờ hết. Khỏe mạnh nhất so với những ngày gần đây. Mây mưa sấm chớp. Mây mưa sấm chớp không làm gì được tôi. Nhưng cái tôi của tôi đã hy sinh cho tôi nhiều quá. Thác nước đã làm gì nó. Bão đã làm gì nó. Hố thẳm nhìn nó không nói lời nào.
Tôi biết nó thay đổi. Lúc nào nó cũng thay đổi. Bao nhiêu năm qua nó thay đổi. Hai mươi mấy năm ròng nó thay đổi. Tôi nhìn nó thay đổi đã quen như nhìn thu nguyệt xuân phong. Nhưng nó đang yếu dần. Thay đổi nhanh quá. Chóng mặt quá. Tôi cần vực nó dậy. Tôi cần nó đi cùng tôi.
Đi vào trong thác nước. Muốn đi tiếp cũng phải đi vào trong thác nước. Muốn quay trở về cũng phải đi vào trong thác nước. Hướng nào cũng là đường về nhà.
Đêm rồi mộng ảo chợt về nhà Bên song cửa Đang điểm trang Nhìn nhau không nói Chỉ ngàn lệ tuôn tràn Liệu mấy năm ròng đoạn trường ấy Đêm trăng tỏ Đồi thông non
Đoạn trên là phần đuôi của bài từ theo điệu Giang thành tử của Tô Thức. Bài có tựa nhỏ là Đêm 20 tháng Giêng ghi lại giấc mộng.
Bài này mình nghĩ là một trong những bài thơ tình cổ buồn nhất của Trung Quốc. Tô Thức viết về giấc mộng gặp lại người vợ chết trẻ của mình. Trong giấc mơ, trở về quê cũ, ông thấy mình đứng bên song cửa xưa. Bên kia song là vợ vẫn đang trang điểm như ngày nào. Bốn mắt nhìn nhau không nói nên lời chỉ có lệ chảy tràn xuống áo (bị nhiễm thập ngũ tòng quân chinh rồi nên có cụm này dùng hoài).
Bài từ còn lời 1, nhưng mình thích lời 2 hơn vì nó thảm hơn. Lời 1 mang tính chất kể lể âm dương đôi ngả.
Tranh Mai Trung Thứ lần trước xem bán đấu giá nhưng tiền kinh quá mua không nổi.
夜來幽夢忽還鄉
小軒窗
正梳妝
相顧無言
惟有淚千行
料得年年腸斷處
明月夜
短松崗
Dạ lai u mộng hốt hoàn hương
Tiểu hiên song
Chính sơ trang
Tương cố vô ngôn
Duy hữu lệ thiên hàng.
Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ
Minh nguyệt dạ
Đoản tùng cương
(bản thu cuối cùng của du Pré trước khi mất dần khả năng kéo cello rồi qua đời chính là cái bản nhạc này, bài nhạc nghe như u mộng của César Franck.)
Trailer gốc của bản Total War Tam quốc dùng 1 bài nhạc phủ cổ thời Hán làm nhạc nền: "Mười lăm tuổi đi tòng quân, Tám mươi tuổi được về quê". Hẳn bài này sẽ là nhạc chủ đề chính. Ở shogun 2, bài hát chính thức của game rất mang tính âm và đi ngược với tinh thần chung là rất dương. Bài Cánh chim thời gian của shogun 2 hòa trộn haiku lẫn Đường thi và thi ca Tây cổ điển. Lời bài này thì ý là của cô gái nói với 1 người tình (hay người cha/mẹ nói với người con) là lính ra trận trong một sáng mù sương, rằng bao nhiêu lá rụng khỏi cây cũng là bấy nhiêu ngày sẽ trôi qua, rằng người ở lại nằm dưới cội hoa hay ánh trăng nhưng lại tỉnh mộng sớm quá, thôi hãy về đây, thôi đừng khóc, sinh tử li biệt cũng đã thành phận rồi. Người chơi đùng một phát nhận ra ngay bài này đang kể tội ai.
Bài nhạc phủ dùng trong trailer Tam quốc vang lên rõ nhất lời hát đoạn cao trào Lã Bố đánh với Trương Phi và Quan Vân Trường: Thập ngũ tòng quân chinh, Bát thập thuỷ đắc quy. Dĩ nhiên đây không phải lời của 3 người trên hát, càng không phải của 3 ông ngồi ngựa đằng sau là Đổng Trác, Lưu Bị hay Tào Tháo. Đây là lời 1 người lính quèn (may mà) sống tới được 80 tuổi để về quê rồi thấy quê nhà hoang vu, thỏ sợ chạy vào chuồng chó, trĩ hoảng hơi người đập cánh bay. Người về quê ra bếp đốt lửa thổi cơm, ra vườn hái rau nấu canh, rồi ra cửa đông mà biết ngóng ai chỉ thấy lệ chảy tràn xuống áo.
Tinh thần phản chiến trong game chiến tranh được ẩn giấu như vậy.
Em đứng nhìn
ngỡ mình lỡ trận gió đầu thu.
Mặt hồ trong
dày đặc lớp sương mù.
Mây trong nội
đùn ra ngoài cửa biển.
Gió trên ngàn
cuốn theo đường chân hươu.
Khiên chu trung lưu
dập dềnh trên hồ thẳm.
Nắng thu tràn
thêu hoa dệt gấm.
Trận gió thu
qua rồi không trở lại.
Em lỡ làng
thấy mất cả mùa thu.
Mùa thu cũ
vẫn còn vương hương tóc.
Nước dưới cầu
vẫn chảy đều như trước.
Cơn gió muộn
khóc vội qua kẽ song.
Mùa hè lơ lửng
có gì nữa mà mong.
Mùa thu mới
tỏa mùi qua ổ trúc.
Nấm mọc lên
ồ ạt trên gỗ mục.
Hồ xanh hơn
tưới mát cả rừng thông.
Nhờ lặt hoa tàn mới tường ngọc rụng
Nhân nguyệt rủ tỏ hẵng khỏi khêu đèn.*
______________
Nguyễn Trãi: Lặt hoa tàn, xem ngọc rụng Soi nguyệt xủ, kẻo đèn khêu.
Người em yêu giã từ em ra trận
Đến mảnh đất người ta đang đánh nhau
Này tim em đớn đau vô cùng tận
Dường chỉ em xót lại trên tinh cầu
Phút chia ly, anh hôn em từ biệt
Từ nụ hôn, hồn em ứ đầy môi
Mải ngóng tin, mà anh cứ biền biệt
Hoàng hôn kia đã tắt nắng bên trời
Đỉnh tháp cao, đây một mình em đợi
Anh chưa về, lòng cứ mãi chờ thôi.
Đôi chim cu vẫn còn gù trên mái
Tiếng kêu buồn và da diết khôn nguôi
Dưới tơ liễu, nước bên cầu chảy mãi
Chỉ có em ngồi khóc suốt bên trời
Này tim em như bông hoa nở rộ
Sáng óng lên dưới ánh bạc trăng trôi
Này thân em một mình trong tháp cổ
Anh chưa về, lòng cứ mãi chờ thôi.
Có dáng ai đang trèo lên đỉnh dốc
Phải anh không, người em mãi mong chờ
Chẳng phải anh, mà chỉ là tưởng tượng
Này tờ bồi, này ánh đèn lẻ loi
Ơi gió đêm, đến bên anh nói khẽ
Với em đây, anh hóa chiêm bao rồi
Anh là hoan lạc, anh là nhung nhớ
Bình minh kia đang rạng rỡ bên trời
Và em vẫn một mình trong tháp nhỏ
Anh chưa về, lòng cứ mãi chờ thôi.
Tranh 満月の紅葉にみみずく (Chim cú với lá đỏ dưới trăng tròn) của Hiroshige.
Mình đang là fan Mai Trung Thứ nên blog mình sắp tới rất có thể sẽ ngập tranh Mai Trung Thứ
傷心橋下春波綠,
曾是驚鴻照影來。
Thương tâm kiều hạ xuân ba lục,
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai.
Đọc thấy hai câu của Lục Du này trong chú thích bản Kiều của ông Nguyễn Thạch Giang, là bản Kiều khoa học nhất mình từng đọc. Google thì ra một loạt ngôn tình trích lấy 5 chữ "kiều hạ xuân ba lục". Đúng là năm chữ này vừa có chất ngôn tình vừa mang chất của một vế haiku.
Bài này dịch ra tiếng Việt nhiều lắm rồi, đây mình dịch ra tiếng Anh: Heartbroken when I look down the bridge, where the spring waves are still green; This place once reflected the shadow of a frightened swan [the girl he loves].
_____________________________
Hôm nay (tiếp tục) đi xe bít, mình nhìn thấy một bạn gái. Ngay lúc đó mình chợt có một cảm giác rất Cây Xuân mà mình không thể diễn tả được. Thậm chí mình còn không thấy được mặt bạn kia vì bạn bịt khẩu trang, nhưng mà cảm giác đó hướng về mình nhiều hơn là hướng về bạn. Đột ngột mình thấy mình đang suy nghĩ về những thứ mình đã mất đi, những thứ mình đã đánh đổi suốt 5 năm qua, 5 năm mình xa nhà, để lấy những thứ khác. Lỡ từ lạc bước bước ra. Suốt thời gian bạn ở trên bít mình không thể đọc sách được. Bạn bước xuống xe bít sau mấy nốt nhạc. Việc bạn liên quan và xúc tác thế nào với suy nghĩ của mình, mình vẫn không rõ.
Giống như hồi mình đi thi lớp 10 về (cứ như mấy chục năm trước), hình như lúc đó thi môn cuối, và mình đã biết là mình đậu Năng Khiếu rồi (nên mình không quan tâm lắm nữa). Hôm đó mình cũng đi xe bít, và cũng ngồi đối diện với một gái. Mình cũng đã không rõ mình có quen bạn này không, nhưng mình cứ suy nghĩ rất lung. Lúc đó cảm giác dĩ nhiên hoàn toàn khác. Nhưng giống như bạn kia, bạn này cũng là một kiểu xúc tác thần bí.
_____________________________
Trên lỡ nói haiku thì haiku luôn. Ngữ pháp mình còn đang rất tệ, nên hãy xửa ngử pháp tro mình nhé.
Hashi no shita Midori shunpa wa Kari no kage Dưới cầu Sóng xuân xanh biếc Bóng nhạn
(Dùng chữ kari/gan tức là con nhạn vì mình không biết con hồng tiếng Nhật kêu là gì. Chữ 鴻 thì trong tiếng Nhật lại ra cái con nhìn không giống con hồng của tiếng Hán.)
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén Ngày vắng xem hoa bả cây. (Ngôn chí số 10 - Nguyễn Trãi) Tôi thấy hai câu này của Nguyễn Trãi, xét về tinh thần, nó rất gần với một bài thơ haiku 17 chữ. Cảm giác khi đọc lên là rất nhẹ và rất tĩnh. Đêm lặng, khẽ nghiêng chén, hớp cả ánh nguyệt. Ngày vắng, nhẹ nâng cành, xem được sắc hoa. Không thấy chủ thể đâu cả. Chủ thể biến mất trong cái vắng lặng. Nguyễn Trãi có lẽ làm bài Ngôn chí số 10 này trong một cái chùa nào đó, nói trong câu đề đầu tiên "Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy". Người ta không uống rượu trong chùa, mà hơi rượu bén vào hai câu "bài cú" trên cũng làm mất đi cái tĩnh. Chén nghiêng để uống đó, có thể là chén trà, hoặc một chén nước. Cái vắng lặng hiện ra rõ hơn bằng những âm thanh nhẹ và lọt thỏm giữa không gian. Đó là tiếng nghiêng nước hớp trăng giữa đêm, đó là tiếng rẽ lá thưởng hoa lúc ban ngày. Bài bài cú của Buson dưới đây cũng là những âm thanh vẫy vùng giữa không gian để làm nên cái tĩnh mịch: 雁 行きて 門田 も 遠く おもはるる Kari yukite kadota mo tooku omowaruru (与謝 蕪村 Yosa Buson) Đàn ngỗng bay qua Đồng lúa trước nhà Trông dường như xa (QH dịch) Chữ Hán dùng cho kari ở trên là chữ 雁 nhạn. Chim Nhạn trong tiếng Hán là chỉ loài ngỗng thiên di, bay về từ phương Bắc hàng năm vào mùa thu. Vì vậy đây là quý ngữ chỉ mùa thu của haiku. Tiếng Việt lại gọi con chim én, con swallow là chim Nhạn. Nếu không tra quý ngữ và xem lại chữ 雁, đọc bản dịch của thầy Nhật Chiêu (đàn nhạn đi rồi, cánh đồng trước cửa, dường như xa xôi) tôi đã tưởng ở đây nói con chim én bay trú rét. Đàn ngỗng bay sẽ khác đàn én liệng. Đàn ngỗng ồn ào hơn, nhưng một khi những tiếng kêu chìm khuất trong thinh không, khi sóng âm bị hiệu ứng Doppler kéo dãn ra, thì cái ồn ào đó quay trở về tịch mịch. Cái còn sót lại là im lặng. Tôi đang cần im lặng.
Hồi tôi còn nhỏ, chừng 7-8 tuổi, nhà tôi có một chai dầu gội đầu không nhớ ở đâu ra. Đó là chai mùi hoa trà tsubaki của Shiseido. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được ngửi một mùi hương tuyệt vời như vậy. Tôi rất thích cái mùi đó, nên không chỉ dùng để gội đầu, tôi còn lấy để rửa tay. Đó là một cái mùi ngọt lịm, một cái mùi mê mẩn đối với tôi lúc còn nhỏ. Lớn lên, tôi vẫn còn nhớ cái mùi, vẫn còn nhớ cái cảm giác lúc nhỏ. Sau này lâu lâu mẹ vẫn có chai đó trong nhà, tôi vẫn thích cái mùi đó.
Đi khắp nơi, đôi khi tôi vẫn thấy hoa trà. Dĩ nhiên cái loài camellia japonica này không phải hiếm, người ta trồng khắp nơi. Nhưng đứng cạnh bông hoa, tôi chưa bao giờ ngửi thấy cái mùi ở trong dầu gội đầu của Shiseido. Cái mùi của Shiseido chỉ có trong chai dầu gội đầu của mẹ, và vài lần trên tóc của vài đứa con gái ở lớp (PTNK). Tôi chưa hề gặp trong tự nhiên.
Cái mùi đó vẫn là một bí ẩn.
Hình ở trên là bông hoa trà tôi chụp ở vườn thực vật trường Berkeley ở trên núi, vào mùa đông năm 2014. HN nói cái bông nhìn như cái trứng devil egg
Tôi viết cái ở dưới vào ngày 31 tháng 12, ngày cuối cùng của năm 2010. Bản gốc tôi viết là bằng tiếng Anh, ở chỗ này. Thời kỳ đó là lúc tôi bị chìm vào một cái mặc cảm tội lỗi bàng bạc và mờ ảo không rõ nguyên nhân, kèm với cái nỗi bức bối của cái kỳ thi sắp diễn ra. Nhờ ghi chép lại trên cái blog này mà về sau tôi vẫn còn nhớ được mình đã trải qua những gì. Ngoài cái cảm giác mơ hồ rằng mình làm điều gì đó sai, tôi còn có cái cảm giác mình đang im lặng và nắm giữ một bí mật, rồi lại còn kiểu như trẩu tre, nghĩ rằng mình rất oách, rất xịn (Đây là hương và đây là hoa). Rồi tôi bắt đầu viết về Umbreon và Espeon (cái sê ri đó đây), xem như là hai cái biểu tượng cho suy nghĩ của mình. Espeon là con pokémon mèo mặt trời (Eevee tiến hóa max friendship buổi sáng), Umbreon là con pokémon mèo bóng đêm (Eevee tiến hóa max friendship buổi tối). Espeon hệ siêu linh và là ánh sáng nên nó tượng trưng cho rất cả những gì phô trương, những gì chói rạng, những gì tinh túy và đẹp đẽ nhất của tôi. Umbreon là bóng tối, nó tượng trưng cho đêm đen im lặng, nhưng tràn đầy năng lượng, và chứa đựng tất cả những gì bí mật tôi chứa bên trong mình, có khi nhầy nhụa, nhưng cũng có cái còn đẹp hơn những gì phô ra.
五月雨 や 蠶 煩ふ 桑 の 畑 Samidare ya kaiko wazurau kuwa no hata -- Bashô -- Tháng năm mưa dầm Con tằm bệnh Nương dâu -- Bashô --
Sa-midare là tên riêng để chỉ những cơn mưa vào tháng Sa (tháng Sa-tsuki, từ tsuki nghĩa là trăng-tháng rồi), vốn là tháng thứ năm trong âm lịch cũ của Nhật Bản (sau Minh Trị thì dẹp lịch âm). Samidare vì vậy là quý ngữ trong haiku để chỉ mùa đầu mùa hè. Mưa Samidare là mưa đầu mùa hè, là những cơn mưa dài, và dai dẳng. Khi chuyển ngữ thơ haiku có samidare (Bashô có một đống các bài khác bắt đầu bằng samidare), các sách tiếng Anh thường dịch là "constant rain" - mưa dầm, hay "first summer rain" - mưa đầu hạ, ... Ở Việt Nam, mùa mưa kéo dài từ khoảng tháng 5 tới tháng 10 âm lịch. Nhưng chúng ta không có cái tên đặc biệt nào cho mưa đầu mùa hạ (đầu mùa mưa) như samidare. Dĩ nhiên tôi có thể bắt chước bản dịch tiếng Anh và dịch là "Mưa dầm đầu hạ", thay vì "Tháng năm mưa dầm", như thế có vẻ cũng hay hơn: Mưa dầm đầu hạ Con tằm bệnh Nương dâu --Bashô--
Ở Việt Nam, có mưa đầu tháng Bảy gọi là mưa Ngâu, gắn với truyền thuyết đêm Thất tịch (7/7 âm lịch), Ngưu lang - Chức nữ gặp nhau khóc lóc trên trời làm mưa rớt xuống. Đó là tên riêng duy nhất dành cho mưa trong tiếng Việt mà tôi nhớ được ở thời điểm này. Nếu đi hỏi nông dân, chắc họ rành hơn tôi. Ở Nhật thì lễ Thất tịch Tanabata (bây giờ diễn ra vào đêm 7/7 Dương lịch) không có mưa nhiều (đọc trên mạng thấy người ta thường cầu cho không mưa vào đêm này), chắc thế nên không thấy có tên riêng hay quý ngữ cho mưa vào dịp này. Tôi nghĩ linh tinh, thế là dùng chữ mưa ngâu để dịch, dùng như vậy hóa ra lại là hay nhất, nhưng nó làm lệch bản gốc mất.
Tháng bảy mưa ngâu Con tằm bệnh Nương dâu --(dựa theo) Bashô -- ___________________________ Ngoài ra còn một chữ nữa, đó là chữ hata 畑. Ai học kanji theo cuốn Basic Kanji Book chắc đều gặp chữ này ngay mấy bài đầu. Chữ này là kokuji (quốc tự), nghĩa là chữ cho người Nhật chế ra chứ không được người Hán xài, do đó không có âm Hán (dĩ nhiên cũng không có âm Hán Việt). Chữ hata vốn là chữ điền 田 có thêm bộ Hỏa. Người Tàu nửa trên sông Dương Tử trồng lúa mì, nửa dưới trồng lúa nước, dùng chữ điền để chỉ cả ruộng lúa mì lẫn ruộng lúa nước. Người Nhật trồng lúa nước, nên chữ điền 田 nó mang nghĩa khá ướt (kiểu chữ ruộng trong tiếng Việt). Khi thêm bộ hỏa vào, chữ hata 畑 mang nghĩa khô hơn, và để chỉ nơi trồng cây trái khô, không ngập nước. Tương tự trong tiếng Việt có chữ đồng hoặc chữ nương, hoặc chữ rẫy mang nghĩa khá khô ráo hơn chữ ruộng, mặc dầu người ta vẫn kêu đồng lúa nhưng chữ đồng trong này nó chỉ khoảng không gian nhiều hơn là chỉ vật thể. Và cũng giống tiếng Việt có các từ ghép ruộng đồng, ruộng nương, ruộng rẫy (có từ này nha, google đê)tiếng Nhật cũng có từ ghép 田畑, đọc là tahata, tahatake, hoặc đọc chữ điền bằng âm Hán denbata.
Furusato ya yoru mo sawaru mo ibara no hana
Kobayashi Issa
Sáng nay chị Bò tag mình vô một bức hình chị Bò chụp một khu vườn đẹp, kèm với một bài thơ haiku của Issa do ông Thái Bá Tân dịch.
Tôi chạm nhẹ nhàng
vào mọi cái
Thế mà luôn bị
gai châm.
Thú thật là mình rất thích cái phong điệu của bài haiku này. Nhưng mình ngờ là ông Thái Bá Tân dịch từ bài gốc ở trên của Issa mà mình tìm được trên mạng. Nếu là vậy thực thì bản dịch trên dịch rất tầm bậy tầm bạ. Mà cũng không phải chuyện bất ngờ vì thơ haiku ông Thái Bá Tân dịch trước giờ đã rất tầm bậy rồi.
Một vài chữ:
ふるさと (furusato) hay được viết bằng kanji với hai chữ cố hương hoặc cố lý, tùy vào bản mình tìm được trên mạng.
や (ya) theo Jisho.org là từ đệm ngắt quãng hay dùng trong hài cú, liên ca,...
茨の花 (ibara no hana) (bụi) hoa gai, nhiều trang tiếng Nhật có chú thích ibara là bara (hoa hồng).
Và mình dịch là
Quê cũ về đây
mấy bụi hoa gai
cũng xòe chắn lối
Mình thích cả hai bản. Bản nghi là bị chế ở trên cũng rất hay, nhưng nói thật nó không hợp kiểu haiku lắm.
Nói thêm, bài này từ tập Thất phiên Nhật ký của Issa.
Hình là con đường mòn trên đồi trong chuyến đi với chú Olivier năm 2012, ở gần Dorset, người trong hình là chú Olivier. Cũng đã hai năm rồi, không gặp lại chú Olivier nữa.
Tôi biết mùa hè đã đi đâu
Mùa hè bay lượn dưới chân cầu
Tay tôi trượt khỏi làn hơi ấm
Mùa hè đi bỏ lại phía sau.
Tôi tiếc mùa hè ngủ chẳng lâu
Ai thức hè dậy giữa nắng màu
Để tôi ngơ ngẩn nhìn gió lượn
Cuốn mùa hè đi lâu rất lâu.
Tôi biết mùa hè đã đi đâu
Mùa hè biến mất trên đất nâu
Như là sương khói như là nắng
Như bọt nước ngầm dưới biển sâu.
Em hỏi tôi rằng tôi đi đâu
Tôi quay nhìn lại khẽ cúi đầu
Mùa hè lơ lửng giữa bầy ếch
Mưa rơi xối xả ao đục ngầu.
Ai biết rằng tôi đã đi đâu
Tôi đứng một mình giữa đàn trâu
Mùa len* ai thả đi lờ lững
"Bạch vân thiên tải không du du"**.
Em ạ, tôi nào đã đi đâu
Chiêm bao thẳm thẳm như nghìn thu
Mùa hè đi mất không còn nữa
Gió thổi khói lên bụi mịt mù
____________________
*Mùa len trâu: Nhà văn Sơn Nam giải thích rằng len tiếng Khmer là thả đi hoang, nghĩa là tới mùa lụt ở miền Nam ngày xưa, người ta không có chỗ cho trâu ở, không đủ cỏ cho trâu ăn nên thả trâu ra khỏi nhà, cho con cái hoặc người ở đi theo giữ trâu.
** "Mây trắng ngàn năm du du trên không" - Thôi Hiệu
Tôi tìm thấy clip giới thiệu về bài Tây Hồ hoài cổ của Nguyễn Công Trứ do ca nương Nguyễn Kiều Anh hát. Nhân tiện chép về để sau này dễ tìm.
Tôi thích bốn câu: Mà cỏ hoa man mác dấu thương đài Để khách rượu làng thơ ngơ ngẩn Hương tiêu Nam quốc mỹ nhân tận Oán nhập Đông phong phương thảo đa. Dấu thương đài là dấu rêu xanh. Thương (滄) là xanh, Đài (苔) là rêu. Còn hai câu chữ Hán ở dưới, theo Bách độ Bách khoa (Baidu Baike) của TQ (http://baike.baidu.com/view/621509.htm?fromTaglist) thì là trong bài thơ Kinh Dạng đế hành cung, của Lưu Thương đời Đường,nghĩa là:
Hương tàn mỹ nhân Nam quốc hết Giận vào gió Đông nhiều cỏ thơm.
Nhân tiện chép nguyên bài thơ Đường kia ra (bản chép là chữ giản thể theo trang Baidu của TQ), vì tôi thấy cũng không quá khó hiểu.
Thử địa tằng kinh thúy liễn qua, Phù vân lưu thủy cánh như hà? Hương tiêu Nam quốc mỹ nhân tận Oán nhập Đông phong phương thảo đa. Tàn liễu cung tiền không lộ diệp Tịch dương xuyên thượng hạo yên ba Hành nhân diêu khởi Quảng Lăng tứ Cổ độ nguyệt minh vấn trạo ca.
Dịch: Tựa đề: Qua hành cung của Dạng đế Đất này từng thấy thúy liễn (xe vua, green chariot) qua Mây trôi nước chảy rốt cuộc như thế nào? Hương tàn mỹ nhân Nam quốc hết Giận vào gió Đông cỏ thơm nhiều. Liễu tàn trước cung không một lá ướt sương Tịch dương trên sông mênh mông khói sóng. Người đi thức dậy nhớ Quảng Lăng Đò cũ trăng sáng nghe bài hát chèo thuyền. Cuối cùng, xin kết thúc bằng 4 câu của Nguyễn Công Trứ trong bài ca trù: Bóng kỳ đài giăng mặt nước như in, Tàn thảo thụ lum xum toà cổ sát. Chiếc cô vụ, mảnh lạc hà bát ngát Hỏi năm nao vũ quán điếu đài.
Cổ sát là cái chùa cũ. Sát là từ Hán mượn từ tiếng Phạn, theo từ điển Thiều Chửu là cái cột trước cửa cái chùa để đánh dấu "đây là nhà chùa". Cô vụ (hay cô phụ): con cò lẻ. Lạc hà: ráng chiều. Để ý tiếng Việt của Nguyễn Công Trứ rất hay: "chiếc cò lẻ" và "mảnh ráng chiều". Vũ quán: quán múa, điếu đài: đài câu.