Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Đóa hồng có tên




Quả thật, "Tên của đóa hồng" là một bản dịch cực kỳ công phu của ông Lê Chu Cầu. Umberto Eco viết nên một cuốn sách đồ sộ, còn ông Chu Cầu hẳn cũng phải lao động rất mệt mỏi để chuyển cuốn sách tiếng Tây sang thành một bản Việt dịch tuyệt hảo.

Là một học giả semiotics (dịch là ký hiệu học chăng? tôi thấy hơi điêu) hàng đầu thế giới, cuốn tiểu thuyết đầu tay của Eco mang một tầm vóc (theo tôi là) lớn hơn so với những kiến thức về ký hiệu học giải trí của Robert Langdon trong truyện của Dan Brown (Langdon được miêu tả là giáo sư về symbology: cái quỷ này mới là ký hiệu học nè). Quyển sách thực sự khiến tôi choáng, không biết diễn tả thế nào, nhưng không phải choáng theo cái kiểu hồi nhỏ dại đọc những cuốn sách đồ sộ mà không hiểu gì hết, bất khả tri giác. Cảm giác choáng giống như kiểu vừa phải vật lộn với những ngôn từ, tranh luận thần học liên miên, vừa để ý và tận hưởng những liên tưởng, tưởng tượng được từ những cái semiosis đem lại. Ô kê, ngừng vấn đề này lại ở đây, tốt nhất là tôi không nên múa rìu nữa, tôi chả có học hành, nghiên cứu gì về ba cái vụ này, ngay cả chữ semiosis tôi còn không biết dịch như thế nào. Tóm lại, ý tôi muốn nói là nếu mà so với Eco thì truyện của Dan Brown đọc giải trí giống như đọc Đôrêmon vậy*.

Ông Lê Chu Cầu đã tỉ mỉ dùng cả 3 bản dịch: nguyên gốc tiếng Ý, bản dịch tiếng Đức vừa dịch vừa phóng túng chế thêm, và bản dịch tiếng Anh sát nhất nhưng sứt sẹo cắt bỏ lung tung. Trong quá trình đọc cuốn sách, tôi nghiệm ra quan niệm cho rằng bản dịch tiếng Anh luôn là bản dịch chuẩn, tối thượng, kinh điển, canonical... là một quan niệm ấu trĩ và sai lầm. Ví dụ chính là cuốn này, bản dịch của William Weaver lược bỏ tùm lum tà la, được ông Cầu đánh dấu bằng những dấu ngoặc vuông [] trong bản Việt dịch. Cả bản tiếng Ý cũng có một lỗi về logic, có lẽ là lỗi biên tập viên. Ông Cầu phát hiện, chú lại, so sánh rằng bản Anh dịch theo bản Ý nên dịch sai y chang, còn bản Đức chỉnh sửa lại nên diễn đạt đúng về mặt logic.

Ông Cầu cũng tẩn mẩn chú giải đường hoàng từng tích Thánh Kinh và tích thần thoại, cổ tích Tây đầy đủ. Thiển nghĩ ai cũng hiểu rằng đọc sách Tây mà có chú thích tích tiếc đầy đủ cũng thú vị y hệt đọc Truyện Kiều chú đủ tích Tàu, thế nên tôi chẳng cần nói thêm. Ngoài vụ này, ông Cầu cũng đã biên phụ họa chung với Eco về lịch sử Tây thời Trung Cổ (thứ mà đối với dân không chuyên như tôi phần nhiều mù mờ). Nhiều phần ông biên rất hay và thú vị, ví dụ như nhờ ông mà tôi biết được Tòa thánh có vụ bán giấy xá tội sẵn, kiểu như vé giữ chỗ thiên đường hay vé bảo kê khỏi xuống Hỏa ngục, để lấy tiền xây Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô ở Vatican. Chính vụ này là một trong những giọt nước tràn ly khiến Martin Luther tức quá chống lại Tòa thánh.

Dưới đây tôi sẽ ngừng ca tụng ông Eco, ông Cầu và bản dịch của ông, để mà biên lại vài chỗ tôi rút tỉa trong quá trình đọc sách:

1. Trang 56: ông Cầu dịch đoạn miêu tả hình ảnh 24 vị niên lão ngồi dưới chân Chúa Trời trên cánh cổng tu viện có dùng chữ "đội mão triều thiên". Tôi đoán có lẽ chữ "mão triều thiên" là dịch từ cái tiara. Công giáo ở Việt Nam (hay Wiki Việt) dịch cái mão Giáo hoàng đội là "mão triều thiên ba tầng", dùng nhiều trở thành quen luôn. Việc ông Cầu dịch vậy nghĩ cũng chẳng có gì sai. Chẳng qua tôi sực nhớ tới "Mão triều thiên, Mão triều thiên / Ôi hoài vọng hoa niên" của Văn Cao với cơn sốt "Ngàn năm áo mũ" dạo này nên ngứa miệng nói chơi thôi. Tôi tra wiki tiếp thì biết TQ gọi cái papal tiara là Tam trùng miện và Nhật thì gọi là Giáo hoàng quan. Nói cho ra nhẽ thì cách gọi "mão triều thiên" là cách gọi kiểu lấy cái mình có để gọi cái chưa có trong tiếng Việt, nhưng truy tới gốc thì nó không chính xác. Nếu tôi, tôi sẽ dịch giản dị là "đội miện".

2. Trang 138: thầy William nói với Adso về việc người ta thời này (thời Trung cổ) cứ phải khăng khăng củng số niềm tin nơi người dân chất phác bằng cách suốt ngày đi rao giảng về nỗi đau khổ của Chúa Giêsu, của Đức mẹ, và đặc biệt là rao giảng về những đày ải nơi địa ngục. Tôi bất chợt thấy tình cảnh của châu Âu một thời cũng y hệt bên đạo Bụt ở châu Á trung đại, khi mà những quan niệm về địa ngục cũng xuất hiện và lan tỏa đầy rẫy trong dân gian. Bụt có giảng về phương tiện, rằng với từng loại chúng sinh có từng cách thức khác nhau để mà parasamgate (vượt qua bờ kia hoàn toàn), đạt cứu cánh cần đạt. Tôi nghĩ địa ngục cũng là một loại phương tiện để giáo dục một loại chúng sinh nào đó về đạo đức học Phật giáo. Tuy thế, cần phải xét kỹ lưỡng xem nó có liễu nghĩa hay không, có thỏa đủ ba cái ấn không, trước khi lạm dụng nó, in thành poster cỡ bự treo đầy tường đầy cổng chùa chiền để hù dọa người ta.
Thôi, tôi không nhiều lời về vụ này nữa. Lạc đề rồi.

3. Trang 430: ông Cầu chú về Hector, Achilles, Agamemnon và Priam, đụng trúng chỗ nên tôi ngứa miệng thôi. Ông chú thích sai bảo rằng đây là các nhân vật trong Odyssey của Homer. Thực ra trong Odyssey còn có mỗi Agamemnon thôi. Đúng ra phải nói rằng đây là các nhân vật trong Iliad.

4. Trang 475 chép lại đoạn trong phần hát bài thánh ca Dies irae (Ngày phán xét) và trang 525 chép lại đoạn Nuốt cuốn sách nhỏ.
Cả hai đoạn này đều quen thuộc với tôi. Phần lời Dies irae tiếng Latin tôi nghe và hát đi hát lại tới thuộc từ Lacrimosa trong các bản Requiem. Tôi lại cũng nhớ tới phần Dies irae trong Requiem của Verdi, phần nhạc dữ dội rất kinh điển, do Abbado chỉ huy:
Đoạn Nuốt cuốn sách nhỏ thì lại cũng rất quen thuộc với tôi hồi đọc Khải huyền mấy năm trước.

Tự dưng gặp lại những dữ liệu quen thuộc, hẳn trong lòng phải bồi hồi, thêm phần thú vị và đẻ ra nhiều semiosis khác, chẳng phải ru?

5. Và cuối cùng, trang 537, thầy William nói với cậu chủng sinh Adso những lời cuối cùng của sách: "Chân lý duy nhất hữu ích là những công cụ; hãy quẳng chúng đi sau khi đạt mục đích". Tôi nghe thấy ở đây như một lời đồng vọng với dụ ngôn về cái bè của Bụt: Pháp của tôi dạy cũng giống chiếc bè, qua sông rồi thì bỏ lại ở bến, chứ vác theo sau lưng làm gì.

Quỷ không phải Satan. Quỷ chính là tính kiêu căng của tinh thần, là đức tin không chút mỉm cười, là sự thật chẳng hề bợn hoài nghi. Quỷ tàn nhẫn vì nó biết nó đi đâu, và khi đi nó luôn quay về nơi nó xuất phát. Huynh chính là Quỷ, và huynh sống trong bóng tối giống như Quỷ.

(Umberto Eco - Tên của đóa hồng, Lê Chu Cầu dịch)

_______________________


*Để khỏi bị chụp mũ, tôi cũng xin phép nói luôn là tôi không hề có ý chê truyện Dan Brown. Tôi cũng khoái bác Đen Nâu này lắm. Hồi tôi chê cuốn Kẻ trộm sách đọc nhây nhây, không hay bằng Dan Brown, tôi đã bị ném đá, chụp mũ nhiều rồi.

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

Buồm nhỏ nhẹ dong

Tôi đã thấy cái khôn lợi hơn cái dại, ánh sáng lợi hơn bóng tối.
Người khôn biết mở mắt nhìn, kẻ dại bước đi trong tăm tối.
Còn tôi, tôi biết : cả hai sẽ cùng chung một số phận.
Ecclesiastes 2:13-14. 


Ngồi giữa đêm sâu
Hắn cầm một quả hồng
Ngẫm những điều đã thấy
Vào một chiều đông

Có người đã tới
Cội đa giữa cánh đồng
Trông nhìn đàn sếu đậu
Nghĩ về mênh mông

Người về vội vã
Trăng chưa khuất bầu không
Hắn còn ngồi yên ả
Chưa viết một dòng

Khói nhẹ sương nặng
Sếu lướt qua cầu vồng
Hắn ngẩng trông thiên khí
Non đoài chuyển giông

Thụy đình mộng đoạn*
Mùa trôi qua ngọn thông
Mưa lòa xòa ướt mặt
Vung tay gió hong

Quay về bến nước
Sóng đu đẩy chập chồng
Nương luồng gió thổi khẽ
Buồm nhỏ nhẹ dong

Tôi nghe kể lại
Tay đưa nhận quả hồng
"Ơ hồng mùa này chát lắm!"
"Vậy ăn lê không?"

___________
*: Thôi ngủ (thì) dứt mộng.
Mấy câu Cựu ước đầu bài trích theo bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ Phụng vụ.

Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2012

Không có điều gì mới lạ dưới ánh mặt trời

11 Bấy giờ nhìn vào hết mọi việc do chính tôi làm, và bao gian lao vất vả tôi phải chịu, tôi nhận thấy: tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát; dưới bầu trời, có lợi lộc gì đâu! 12 Rồi tôi đưa mắt nhìn và để tâm suy về cái khôn, cái điên và cái dại. Người nối ngôi vua sẽ làm gì? Ðiều mà thiên hạ đã làm trước. 13 Tôi đã thấy cái khôn lợi hơn cái dại, ánh sáng lợi hơn bóng tối.
14 Người khôn biết mở mắt nhìn,
kẻ dại bước đi trong tăm tối.
Còn tôi, tôi biết : cả hai sẽ cùng chung một số phận.
15 Và tôi tự nhủ: "Số phận của kẻ dại làm sao, thì số phận của tôi cũng như thế. Vậy tôi khôn cho lắm để làm gì?" Tôi lại tự nhủ : đó cũng chỉ là phù vân. 16 Ðời đời nhớ người dại, mãi mãi nhớ người khôn : làm gì có chuyện đó! Tại vì có việc gì xảy ra, việc đó cũng rơi vào quên lãng ngay trong những ngày kế tiếp. Tất cả đều chết, người khôn cũng như kẻ dại.
17 Tôi đâm ra chán ghét cuộc đời, vì đối với tôi, dưới ánh mặt trời, mọi việc làm ra đều xấu cả: quả thế, tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát.
18 Tôi đã chán ghét mọi gian lao vất vả tôi phải chịu dưới ánh mặt trời, những gì tôi để lại cho người đến sau tôi. 19 Nào ai biết được người ấy khôn hay dại? Nhưng người ấy lại là kẻ có thẩm quyền trên những gì tôi đã phải vất vả và khôn khéo mới làm ra dưới ánh mặt trời. Chuyện đó cũng chỉ là phù vân! 20 Bấy giờ tôi đâm ra thất vọng về bao gian lao vất vả tôi đã phải chịu dưới ánh mặt trời.
21 Quả thế, có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Ðiều ấy cũng chỉ là phù vân và lại là đại hoạ. 22 Chuyện gì xảy ra cho con người sau bao mối bận tâm và bao gian lao vất vả nó phải chịu dưới ánh mặt trời?
23 Phải, đối với con người ấy, trọn cuộc đời chỉ là đau khổ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền! Ngay cả ban đêm, nó cũng không được yên lòng yên trí. Ðiều ấy cũng chỉ là phù vân!
24 Ðối với con người, không có gì tốt hơn là ăn uống và hưởng những thành quả do công lao khó nhọc mình làm ra! Nhưng chính tôi đã thấy là điều đó cũng do Thiên Chúa mà đến, 25 vì có ai ăn uống, có ai cảm thấy vui mừng phấn khởi mà không nhờ Thiên Chúa ban cho? 26 Ai đẹp lòng Thiên Chúa, thì Người ban cho trí khôn ngoan, sự hiểu biết và niềm vui; ai có tội, thì Người bắt phải vất vả gom góp và tích trữ, để trao lại cho kẻ đẹp lòng Người. Ðiều ấy cũng chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát.


trích sách Ecclesiastes 2:11-26. Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ Phụng vụ
___________________

Sách Ecclesiastes (tiếng Việt dịch là sách Giảng viên), là một sách trong bộ Cựu Ước. Sách được coi là lời của vua Solomon, vị vua vĩ đại của dân Do Thái.

Tựa đề là câu trích nổi tiếng từ sách này.

Bản dịch này dịch chữ hebel của tiếng Hebrew mà tiếng Anh hay dùng chữ meaningless thành chữ phù vân trong tiếng Việt, lấy ý từ cụm "a chasing after the wind" cũng có trong sách. Phần 1 và 2 của quyển sách, vua Solomon nói về sự vô nghĩa. Đầu tiên vua phán rằng Tất cả mọi thứ đều vô nghĩa ('Everything is meaningless'). Sau đó vua đi vào từng khía cạnh, Trí tuệ là vô nghĩa, Hoan lạc là vô nghĩa, Làm việc Vất vả Cống hiến cũng vô nghĩa, vì tất cả đều như là đuổi theo một cơn gió, đều không đạt được gì dưới ánh mặt trời. 


Đọc sách này khi tới ăn cơm ở nhà thờ Above Bar Church (ABC), nghe mọi người nói chuyện, hiểu được người phương Tây hiểu về ý nghĩa của cuộc sống theo phương diện nào.

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Chỉ có một điều mãi mãi xanh tươi

Bạn ạ, mọi lý thuyết đều màu xám,
Chỉ có cây đời là mãi xanh tươi.
(Faust - Goethe)

Mephistopheles đã nói với Faust như thế.



Nói thật, sau khi xem The tree of life (Cây đời) của Terrence Malick, được Cành Cọ Vàng ở Cannes 2011, tui không hiểu mấy. Còn mệt nữa. Nhưng từ đó mới nghiệm kĩ thêm được cái lẽ, khi xem phim, thưởng tranh hay đọc sách, đừng tự hỏi mình rằng mình có hiểu không, mình có thực sự hiểu hay không. Cái xu hướng hiện giờ của giới văn nghệ sĩ là viết (vẽ, quay,...) sao cho khán giả khó hiểu nhất có thế, với thủ pháp đa nghĩa hóa, mù mờ hóa, biểu tượng hóa, siêu thực hóa và nhiều thứ xyz hóa khác mà các bạn trẻ trên mạng (hiểu rộng biết nhiều) dùng một thuật ngữ rất chung chung hóa là "tỏ ra nguy hiểm".

Chính từ việc tồn tại nhiều tác phẩm nghệ thuật bây giờ khó hiểu như vậy, phải chăng nên đặt ra một cách tiếp cận nghệ thuật khác: tự hỏi rằng mình có học được gì không, có trải nghiệm được cảm giác hay tri thức nào không. Đối với tôi, khi xem Cây đời, thì câu trả lời là có. Mặc dầu cái việc nhận ra rằng mình đang xem hồi kí của ông đạo diễn khiến tui phần nào không khoái cho lắm, nhưng mà nhạc và phần hình ảnh thực sự làm tui mê tít.

Nghe những nốt nhạc mở đầu từ giao hưởng Má Vlast (Tổ quốc tôi) của Smetana khiến tui sửng sốt. Sáng nay vừa nói chuyện với Cường Quốc về Smetana và Dvorak, về Má Vlast thì chiều nay, thiệt là bất ngờ, lại được nghe trong Cây đời. Vậy thôi, bất ngờ làm nên sự mê tít đầu tiên.

Tiếp theo, bản làm tui mê nhứt chính là bản Lacrimosa trong Requiem for My friend (Bản cầu hồn cho bạn của tôi) của Zbigniew Preisner. Requiem là thể loại nhạc chơi trong thánh lễ cầu hồn trong Công giáo. Lacrimosa trong tiếng Latin bắt nguồn từ Lacrima là giọt nước mắt, Lacrimosa là việc khóc, danh từ giống cái, Lacrimosa là một chương trong thể loại Requiem, từ Mozart, Belioz, Verdi tới nhiều nhà soạn nhạc khác đều có Lacrimosa trong Requiem của mình. Lacrimosa của Preisner theo đúng truyền thống, hát những ca từ Latin theo đúng bài ca trong lễ cầu hồn, nhưng chữ Lacrimosa được lặp đi lặp lại, cho tới tận cao trào. Thực sự nếu đứng trong một lễ cầu hồn, nghe đi nghe lại câu "Khóc đí! Khóc đi!" dộng vào tai như vậy, hẳn tui sẽ khóc thật, nhưng ngồi trong rạp chiếu phim, lúc đó lại chẳng hiểu Lacrimosa là gì, thậm chí còn không biết cái từ mà cái bà đang hát đọc như thế nào, thì tui không thể khóc được, nhưng mà âm nhạc và cái từ lặp đi lặp lại đó, cùng với hình ảnh rộng làm tui rất choáng ngợp. Chỉ một điều tui hơi băn khoăn, tại sao Lacrimosa lại là nhạc nền cho đoạn phim nói về sự hình thành vũ trụ? Nhạc nền cho cảnh thiên thạch rơi xuống trái đất, tiêu diệt khủng long thì còn dễ hiểu, chứ nhạc nền trên hình ảnh các tinh vân, những lò luyện sao, nơi tạo ra các nguyên tố nặng cho vũ trụ thì quả là khó nhằn. Chúng ta nhìn vào, như lời sách Job trích ở đầu phim, nhìn vào thời khắc Người tạo ra Trái đất, "khi những ngôi sao mai hòa ca, và tất cả con của Chúa Trời cùng hét lên trong niềm vui sướng", chúng ta khóc gì ở đây? Khóc trong niềm vui sướng? Hay khóc trong nỗi luyến tiếc, tự nghiệm lại câu hỏi mà Chúa trời đã hỏi ông Job, "Ngươi đã ở đâu lúc ta tạo ra Trái đất?".


Bản Lacrimosa và hình ảnh trong The Tree of Life (tuy nhiên hình nền đằng sau không theo thứ tự trong phim, người up đoạn phim này lên youtube đã chỉnh lại một tí để tránh bị dính bản quyền này nọ). Xem tham khảo.

Chuyện tui thấy khó hiểu nhất trong những cảnh phim khó hiểu, đầy tính trừu tượng của Malick đó là cảnh 2 con khủng long bên bờ suối. Nói ra vậy nghe chừng có vẻ thơ mộng đối với bạn nào chưa xem phim, nhưng mà thiệt ra cảnh này hổng có gì hết, một con khủng long đang nằm, một con khác bỗng dưng đâu ra chạy lại, đạp lên đầu con này, ngó ngó, chừng 30 giây, rồi bỏ chạy đi. Tui thiết nghĩ hồi kí của ông đạo diễn nầy phải chăng dính dáng gì tới khủng long hay trong một phút nhất thời, quay qua nói với thằng Nguyên ngồi bên cạnh, chắc lát nữa người ta vô xin lỗi vì chiếu lộn phim Công viên kỷ Jura. Hay là phải chăng ông đạo diễn, cựu triết gia đang chơi trò siêu thực? Tui hổng biết được. Đoạn này vậy mà cũng tới một phút mấy.

Nội dung phim thì thôi, tui không nói lại, vì mấy bạn nào tò mò thì tốt nhất nên coi phim, mặc dù không hiểu, nhưng cũng sẽ ít nhất biết được phim này kể cái chuyện gì, đại loại là chuyện một gia đình, có thằng con, ở với ba với má, xung đột, này kia, sau này ông con già, nhớ lại hồi nhỏ. Tui kể vậy thôi, báo trước là tui đã tầm thường hóa nội dung bộ phim đi rồi đó, mấy bạn tò mò hơn nữa thì nên lên Tuổi Trẻ đọc bài review của Phan Xinê hay lên www.phanxineblog.com đọc.

Siêu thực trong phim lên tới đỉnh điểm ở đoạn cuối, khi ông kép chánh, sau khi nhớ lại no nê, được ông đạo diễn cho bước ra bãi biển trắng phau, gặp lại chính mình hồi nhỏ, gặp lại ba, lại má, lại hai đứa em, rồi nhiều thước phim tâm linh khác diễn ra. Tui chợt thoáng nghĩ đến cảnh kết thúc, ông này bước ra giữa thành phố đầy nhà chọc trời, gặp lại con khủng long đã (vô cớ?) xuất hiện ở đoạn đầu, rồi hết phim; nhưng thiệt may, hổng có cái cảnh nhảm nhí đó.

Phim kết thúc (theo như tui nhớ, vì lúc đó mệt rồi, siêu thực nhiều quá cũng mệt) bằng cảnh một cánh đồng hoa hướng dương vàng rực, rồi nhè nhẹ chuyển qua cảnh một ngôi nhà gỗ, nằm trên cánh đồng hoa poppy như trong tranh Monet ấy. Rồi từ từ đen thui.

Trong phim, khi Jack, đứa con, được sinh ra, có một cảnh quay rất đẹp: người cha (Brad Pitt) đã cuối xuống chụm hai tay đỡ lấy bàn chân con mình, hệt như đang vun một cái cây. Rồi người cha đã trồng một cái cây trước sân nhà, người mẹ đã nói, "Con sẽ trưởng thành nhanh hơn cái cây này cao lớn".

Cuộc đời một chàng trai, sinh ra trong tình thương, lớn lên trong tình thương, nhưng rồi dần đánh mất sự ngây thơ vì sự khắc nghiệt của người cha, thương yêu con nhưng muốn con thành một người đàn ông mạnh mẽ: "hứa với cha là con đừng giống cha", chàng trai hỏi mẹ, "Làm sao con có lại được sự ngây thơ như hai đứa em", dồn nén mình trong phức cảm Oedipus, trong sự thù ghét người cha ở tuổi dậy thì, chứng kiến nỗi đau khổ của mẹ trước nỗi đau mất đi người em thứ hai, mắc kẹt trong những lời mặc cả với một đấng tối cao vô hình, Người đã ở đâu, chúng con là gì với Người, Người có đang nhìn con không, sao Người lại để một thằng bé chết, rồi từ từ nhận ra mình trở nên giống cha quá. 

Vì chưng mọi lý thuyết đều là màu xám, quỷ sứ đã nói vậy, hãy nhìn vào Cây đời bằng con mắt thuần khiết, cảm nhận bằng hình ảnh và âm nhạc, dõi theo câu chuyện, để thấy rằng, chỉ có một điều mãi mãi xanh tươi.

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

Quid est Veritas?

Christ of Saint John of the Cross - Salvador Dali

[...]Khi họ đóng đinh Người trên thập giá, tôi cũng có mặt ở đó.
Tôi nhìn thấy và nghe thấy mọi điều nhưng tôi không còn ở trong thân xác mình nữa.
Tên kẻ trộm bị đóng đanh câu rút phía hữu Người nói với Người: "Kìa Giêsu, người cũng chảy máu cùng ta à?"
Và Giêsu đáp lại, người nói: "Nếu không vì vướng chiếc đinh đóng vào bàn tay ta, ta sẽ chìa tay ra nắm tay con.
Chúng ta đều bị đóng đanh câu rút. Giá như họ dựng thập giá cho con gần với của ta hơn nữa."
Rồi Người cúi nhìn mẹ mình và một chàng trai trẻ đứng cạnh bà.
Người nói: "Mẹ, hãy nhìn người con trai đứng cạnh mẹ.
Hỡi người nữ, hãy nhìn con người rồi sẽ mang những giọt máu của ta về Xứ Bắc".
Và khi nghe thấy tiếng than van của đàn bà xứ Galilê, Người nói: "Xem kìa, họ rơi nước mắt, mà ta thì khát.
Ta bị giữ quá cao không thể tới được nước mắt họ.
Ta sẽ không uống giấm cũng như mật đắng để làm dịu cơn khát này đâu."
Rồi mắt người mở to, ngẩng nhìn lên trời cao và nói: 
"Cha, cớ sao người bỏ rơi chúng con?"

(trích chương 72 "Lời kể của Baraba" - "Giêsu con trai Người" của Khalil Gibran - bản dịch của Châu Diên)

Crucifixion (Corpus Hypercubus) - Salvador Dali



_____________________


Ông Philatô nói với Người: "Sự thật là gì?" Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Do Thái và bảo họ: "Phần ta, ta không tìm thấy lí do nào để kết tội ông ấy. Theo tục lệ các người, vào dịp Lễ Vượt Qua, ta thường ta một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Do Thái cho các người không?" Họ lại la lên rằng: "Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!" Mà Baraba là một tên cướp.

(Ga 18,38-39)


Ecce Homo! - Atonio Ciseri

Quid est veritas? - "Sự thật là gì?" - là một câu tiếng Latin nổi tiếng, trích từ sách Giôan.

Ecce Homo! - "Hãy nhìn người này" - cũng là một câu trong sách Giôan.

Hypercubus - Hypercube - Một miêu tả đơn giản về một vật thể trong không gian 4 chiều (không gian 4 chiều (four-dimensional space)  không phải là không-thời gian 4 chiều (space-time continuum)). Một đoạn thẳng 1 chiều có thể nhìn được từ 2 đầu mút là 2 điểm, một hình vuông 2 chiều có thể nhìn từ 4 cạnh là 4 đoạn thẳng 1 chiều, một khối lập phương 3 chiều có thể nhìn từ 6 mặt là 6 hình vuông 2 chiều. Do đó, một cách hiểu nôm na, một vật thể nâng cấp từ khối lập phương ở chiều thứ 4 có thể nhìn từ 8 mặt là 8 khối lập phương 3 chiều.

Tranh của Dali, Chúa Giêsu đã ở một chiều kích khác của không gian.

Ban đầu, tôi thích bức Hypercube hơn, nhưng càng nhìn, tôi càng cảm thấy rợn ngợp đối với bức đầu tiên "Christ of Saint John of the Cross". Có điều gì đó gọi là tuyệt vời, choáng váng và khiến tôi phải nín thở.

______________________

Nhân một ngày xem tranh và đọc về Trường phái Siêu thực trong sách của Leonard Shlain. 


Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì máu cùng nước chảy ra.
(Ga 19,34)

Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010

Nuốt cuốn sách nhỏ

Rồi tiếng tôi đã nghe từ trời, lại nói với tôi và bảo: "Hãy đi lấy cuốn sách mở sẵn trong tay thiên thần đang đứng trên biển và đất." Tôi đến gặp thiên thần và xin người cho tôi cuốn sách nhỏ. Người bảo tôi: "Cầm lấy mà nuốt đi! Nó sẽ làm cho bụng dạ ông phải cay đắng, nhưng trong miệng ông nó sẽ ngọt ngào như mật ong." Tôi cầm lấy cuốn sách nhỏ từ tay thiên thần và nuốt đi. Trong miệng tôi nó ngọt ngào như mật ong, nhưng khi tôi nuốt rồi, thì bụng dạ tôi cay đắng. Và có tiếng bảo tôi: "Một lần nữa, ông phải tuyên sấm về nhiều nước, nhiều dân, nhiêu ngôn ngữ và vua chúa."

(Khải Huyền 10,8-11)

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2009

Vẽ

Một hôm, tôi ra khỏi nhà và hét lớn: Với những cây bút này, tôi có thể vẽ cả thế giới.

Trên bàn tay tôi là những mầm mống đầu tiên của sáng tạo. Trước mặt tôi là những nguồn cảm hứng bất diệt. Vạn vật đâu vào đấy trong một trật tự trác tuyệt đến không tưởng. Tôi ngất ngây vì vui sướng, vì thán phục và vì tự hào. Người đã sáng tạo ra tất cả những thứ này cho tôi vẽ.

Thiên Chúa phán: "Phải có ánh sáng." Liền có ánh sáng.
(Sáng thế ký 1:3)

Này đây tôi dâng lên Người những nét vẽ này. Này đây tôi dâng lên Người bàn tay tôi này. Này đây tôi dâng lên Người trí thông minh này. Này đây tôi dâng lên Người linh hồn tôi này.

Tôi say sưa ngắm đất đai này. Tôi say sưa ngắm trời mây này. Tôi say sưa ngắm tôi này. Tôi say sưa ngắm Người này.

Có những cây bút này trong tay, tôi sẽ Sáng tạo.

Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.
(Sáng thế ký 1:10)

_____________________________

Có những cây bút này trong tay, em có thể bày tỏ tâm hồn mình ra trang giấy nhỏ.

Em muốn vẽ nên tình yêu của chúng ta. Nó mơ hồ nhưng đầy kiêu hãnh. Em muốn thấy những linh hồn cọ quậy trong từng nét vẽ của em.

Em muốn hòa vào tình yêu mênh mông và cao cả vô bờ ấy. Em muốn đến được tận nguồn để uống thứ nước thanh khiết nhất. Em muốn ra tận chân trời để cuốn vào hư không.

Em vẽ về vị lai, về những điều chưa tới. Em vẽ về những giấc mơ, về những gì không thực. Nhưng trước hết em phải vẽ về cuộc sống của chính em. Em phải vẽ về ngôi nhà của em trước khi vẽ đến những vì sao xa xăm.

Ôi nguồn sống, ôi tình yêu, ôi cái đẹp tươi trẻ tràn trề ngàn năm vĩnh cữu. Em muốn thâu tóm vô lượng vào lòng bàn tay trần này.

Em phải tìm về nơi có ánh sáng.

"Phải có ánh sáng"










Sau 1 tuần tập tọe tập vẽ. Vẽ thì chả đẹp mấy nhưng thơ thì rất phét.