Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Hiển thị các bài đăng có nhãn sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Nỗi bất an là cơn chóng mặt của tự do

(credit: ảnh là ảnh của tay tếu táo nào đã ghép hai bức khác nhau của bác Igor Siwanowicz)


Bác Kier đã nghiền ngẫm và đẻ ra câu ở trên. Đối với bác Kier, cuộc đời là những sự lựa chọn đớn đao, quặn thắt con tim, bởi vì ta có quyền tự do tuyệt đối để lựa chọn. Lựa chọn tôn giáo là một lựa chọn kinh khủng khiếp của cuộc đời, hem chỉ đơn giản là chỉ để vào nhà thờ nghe con nít hát thánh ca, hay vào chùa ngồi coi cá bơi, nghe chuông gió. Lựa chọn giết người như anh Ras của bác Dos là một lựa chọn đầy tính triết học, lấy Napoléon làm khuôn mẫu chứ không phải trẻ trâu ghẹo ghệ nhau xách mã tấu ra chém. Lựa chọn thế này hay thế kia, thế nào thì cũng sẽ tệ, ngươi đều sẽ hối hận. Đó là bác Kier nói. Nhưng vẫn phải lựa chọn.

Và một chỗ khác (sách ẩn dưới lá Hagakure) lại có dạy: Đến ngay cả khi mà ngươi nắm chắc phần bại, thì vẫn hãy tấn công. Trí huệ hay kỹ năng đều không giúp ích được gì nữa. Bậc nam tử không nghĩ đến chiến thắng hay thất bại. Bậc nam tử lao thẳng vào cái chết. Khi đó mới tỉnh được mộng.

Hả???

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Khoảng cách tới trăng

Trong 'Cosmicomics' (tiếng Ý: Le Cosmicomiche) của Italo Calvino
QH dịch (từ bản tiếng Anh của William Weaver)

Chú thích tí: Cosmicomics là một từ không có trong tiếng Anh, cũng như Cosmicomiche không có trong tiếng Ý mà là từ do Calvino tự chế ra, dĩ nhiên là ghép giữa cosmi (sing. cosmo) = vũ trụ, và comiche (sing. comica) = chuyện vui. Cosmicomics trong tiếng Anh do đó là một từ Latin được Anh hóa, và nó có nghĩa là chuyện vui vũ trụ = vũ trụ hí đàm  nếu để Hán Việt cho sang trọng.

Hầu hết các truyện ngắn trong bộ Vũ trụ hí đàm  đều được kể bởi một nhân vật có tên là Qfwfq (thích đọc thế nào là tùy bạn). Mỗi truyện ngắn là một câu chuyện về một thời kỳ của vũ trụ, vũ trụ trong tưởng tượng của Calvino, dựa trên vũ trụ của Newton, của Einstein, của Gamow, của Hawking, nhưng không nhất thiết phải là vũ trụ của những người đó. Qfwfq sống qua tất cả những thời kỳ đó, dưới nhiều hình thái khác nhau, lúc thì là người chèo xuồng đi lấy sữa trăng, khi thì là con trùng amoeba bơi giữa đại dương thái cổ, có bận lại trở thành những sinh vật biển đang tiến hóa dần thành lưỡng cư để bò lên cạn. Qfwfq đã sống, đã chứng kiến hết thảy thăng trầm của vũ trụ, kiểu như ông ngư tiều đầu bạc của Dương Thận sống trên bãi bồi Trường Giang, đã quen nhìn trăng thu gió xuân, nhìn sóng cuốn hết anh hùng theo sóng theo nước. Ý tưởng về Qfwfq cũng tương tự như Saruta trong bộ Chim lửa của Tezuka, một nhân vật vì một lỗi lầm gây ra ở một thời điểm ở thế kỷ 26 mà cứ phải tái sinh lại làm người mãi, để kinh qua bao nhiêu khổ ải, bao nhiêu đắng cay, bao nhiêu đau khổ, lúc thì là nhà khoa học cô đơn, mãi không tìm ra được cách nào để tái sinh loài người, lúc thì là tên cướp cùng đường ở thế kỷ 8, trở thành nhà sư mù cụt tay, vân vân...

Ô kê, mời đọc truyện.

_______________________

credit: © 2010 Caroline Jones McKay


Ngày xưa, theo lời ngài George H. Darwin kể lại, Mặt Trăng nằm rất gần với Trái Đất. Rồi dần dần thủy triều đẩy nàng ra xa: là ta đang nói tới những đợt thủy triều mà chính Trăng tạo nên trên mặt nước ở Trái Đất ấy, những đợt thủy triều làm Trái Đất mất dần mất dần năng lượng của mình.   

Ôi ta nhớ rõ lắm! – ông già Qfwfq kêu lên – mấy người thì không nhớ đâu, nhưng ta thì vẫn nhớ. Nàng ở trên đầu bọn ta suốt, ta đang nói nàng Trăng khổng lồ ấy: cứ tới kỳ nàng tròn thì ban đêm sáng như ban ngày, có điều là có màu như vàng bơ thôi – nhìn cứ như nàng sắp đâm vào bọn ta vậy; còn tới kỳ trăng non, nàng lại cuộn quanh bầu trời trông như một cái ô đen bị gió thổi bạt; rồi khi nàng tròn dần trở lại, nàng chìa hai chiếc sừng xuống thấp trông như muốn đụng vào mỏm đá chìa ra biển và mắc kẹt ở đó luôn. Nhưng ngày xưa các pha mặt trăng khác bây giờ lắm, vì khoảng cách từ Mặt Trời cũng khác, và quỹ đạo nữa, và mấy cái góc ghiếc giữa cái này với cái kia gì đó, thôi ta quên rồi. Vì Trái Đất và Mặt Trăng ở sát kề nhau, bọn ta có nhật thực mỗi phút, tự nhiên thôi, hai con quái khổng lồ đó cứ liên tục chen vào bóng của nhau, lần lượt hết cái này xong tới cái kia.

Quỹ đạo à? Ừ, dĩ nhiên là vẫn hình elip: có lúc Trăng lao đến gần bọn ta, có lúc nàng lại bay đi xa. Còn thủy triều, lúc Trăng tới gần, dâng cao tới nỗi không ai ngăn nó được. Có những đêm Trăng rất tròn và rất gần, gần lắm, khiến thủy triều dâng cao tới nỗi Trăng chỉ còn cách mặt biển độ chừng một sợi tóc: thôi được, ta cường điệu đấy, nhưng chỉ độ vài mét thôi. Thế nào, cònvụ trèo lên Mặt Trăng à? Dĩ nhiên bọn ta làm chuyện đó rồi chứ. Chỉ cần chèo một cái thuyền ra biển, tới dưới chân Trăng, rồi bắc một cái thang, trèo lên, vậy là tới.

Vị trí trên Trái Đất gần Trăng nhất là ngoài khơi mỏm đá Kẽm. Bọn ta từng bơi xuồng chèo ra đó, cái kiểu xuồng nhỏ nhỏ bọn ta có thời đó, tròn và dẹp, làm bằng gỗ bần. Xuồng chứa được vài đứa bọn ta, gồm có: ta, Thuyền trưởng Vhd Vhd, vợ Thuyền trưởng, cậu em họ bị điếc của ta, và đôi khi có cả bé Xlthlx nữa – lúc đó bé độ mười hai tuổi gì đó. Những đêm đó, mặt nước rất lặng, bàng bạc nhìn chẳng khác gì thủy ngân cả, và đàn cá thì bơi lội bên dưới, màu tím, chúng không cưỡng nổi sức hút của mặt trăng nên bị nổi hết lên gần mặt nước, cả bọn bạch tuộc và sứa cũng bị như vậy. Lúc nào cũng có những đàn sinh vật tí hon – cua nhỏ, mực nhỏ, có cả rong biển, mỏng tang nhẹ tênh, và san hô – bay lên khỏi mặt nước và dính vào Mặt Trăng, treo rủ xuống từ cái trần màu trắng như vôi, hoặc không thì lơ lửng giữa không trung, làm thành một đám lúc nhúc tỏa ra ánh lân quang, khiến bọn ta phải lấy lá chuối quạt sang một bên mới đi qua được.

Đây là cách bọn ta trèo lên Trăng đây: trên xuồng bọn ta có một cái thang: một người đứng vịn, người thứ hai trèo lên, và người thứ ba ngồi ở mái chèo, chèo tới khi nào bọn ta ở ngay bên dưới Trăng; đó là lý do vì sao bọn ta cần nhiều người như vậy (ta chỉ mới nói tới những nhân vật chính yếu thôi đấy). Người đứng trên thang, khi xuồng tiến tới gần Trăng, sẽ hốt hoảng la lên: “Dừng lại! Dừng lại! Tôi sắp đâm đầu vào Trăng rồi!” Đó là ấn tượng đầu tiên mình thấy khi nhìn vào Trăng, một khối khổng lồ, gồ ghề đầy gai nhọn và lởm chởm những răng cưa. Giờ có lẽ khác rồi, nhưng hồi xưa, Trăng, nói đúng hơn là phần dưới của Trăng, bụng Trăng, phần sượt ngang qua Trái Đất, là như vậy đấy, phủ bằng một lớp vỏ đầy vảy nhọn. Trông nó giống như bụng cá vậy, mùi cũng vậy nữa, ta mang máng nhớ thế, không phải ta bảo chính xác là mùi cá đâu, mà thoang thoảng giống thôi, tựa như mùi cá hồi hun khói vậy.

Từ đỉnh cái thang, đứng thẳng lên trên nấc cuối cùng, mình có thể chạm được vào trăng nếu mình vươn dài tay ra. Bọn ta đã đo đạc cẩn thận (lúc đó, bọn ta chẳng mảy may ngờ rằng nàng Trăng mỗi ngày một rời xa hơn); điều duy nhất mình phải lưu ý là chỗ đặt tay khi với lên chạm vào Mặt Trăng. Ta luôn chọn mảnh vảy nào trông chắc chắn (bọn ta trèo lên thường theo nhóm năm hay sáu người một lúc), rồi ta bám một tay lấy, rồi bám luôn tay kia, và ngay tức thì ta sẽ cảm thấy cái thang và cái xuồng bỗng chốc rời xa bên dưới ta, và chuyển động của Trăng sẽ kéo ta ra khỏi lực hút của Trái Đất. Ừ, vậy đấy, Trăng mạnh lắm, Trăng kéo được cả mình lên; mình sẽ nhận ra điều này ngay khi mình chuyển từ lực hút của Trái Đất sang lực hút của Trăng: rằng mình phải nhảy lên lộn nhào một cái thật đột ngột, nắm chắc lấy cái vảy, giơ chân lên đằng đầu, cho tới khi chân ta đứng trên bề mặt Trăng. Nhìn từ Trái Đất, mình trông giống như mình bị treo ngược đầu lên vậy, nhưng với mình thì trông vẫn rất bình thường, điều lạ duy nhất với mình sẽ là khi mình ngước đầu nhìn trời, mình trông thấy biển bên trên, sáng lóng lánh, có chiếc xuồng và những người kia lộn ngược, nhìn giống như những chùm nho trên giàn vậy.
Cậu em họ ta là anh chàng điếc ấy, tỏ ra rất có năng khiếu trong việc lộn mèo này. Đôi tay vụng về của chú ấy, cứ tới khi chạm lên bề mặt Trăng (chú này luôn là người đầu tiên nhảy ra khỏi thang) là đột ngột trở nên thật khéo léo và nhạy cảm. Đôi tay này ngay lập tức tìm ra vị trí để anh chàng có thể kéo mình lên; nói cho đúng thì chỉ cần lực ép từ lòng bàn tay là cậu em ta có thể dính lên bề mặt của cái vệ tinh này rồi. Một lần, ta còn trộm nghĩ hình như Trăng bay về phía cậu em, khi chú ta giơ tay lên.

Chú cũng điệu nghệ y như vậy lúc trở xuống Trái Đất, dù thao tác lần này khó hơn. Đối với bọn ta, quá trình đi trở xuống bao gồm nhảy lên, càng cao càng tốt, tay giơ thật cao (nhìn từ Mặt Trăng thì như vậy nha, chứ nhìn từ Đất thì thấy bọn ta giống như đang lặn, hay là giống như đang bơi xuống, hai tay hai bên), nói cách khác là giống như nhảy lên ở trên mặt Đất vậy, có điều giờ không còn thang nữa, vì trên Trăng không có chỗ nào để kê thang cả. Nhưng thay vì nhảy giơ tay, cậu em họ gập người, cúi đầu xuống như thể sắp lộn nhào, rồi nhảy một phát, đẩy hai tay ra. Từ dưới xuồng, bọn ta quan sát cậu đứng thẳng giữa không trung giống như đang đỡ lấy quả cầu Trăng khổng lồ rồi bất thình lình dùng lòng bàn tay đẩy nó đi; rồi khi chân cậu em đến vừa tầm với, bọn ta sẽ cố túm lấy mắt cá và kéo xuống thuyền.

Rồi, giờ các người hỏi ta lên trên Mặt Trăng làm cái thứ gì phải không; để ta trả lời luôn. Bọn ta đi lấy sữa, bằng một cái muỗng lớn với một cái xô. Sữa Trăng rất đặc, giống kiểu phô mai mềm đó. Sữa được tạo ra ở các khe giữa hai vảy Trăng, bằng quá trình lên men của các sinh vật và khoáng chất có nguồn gốc Trái Đất, đã bay lên Mặt Trăng từ những thảo nguyên và rừng rậm mỗi khi Trăng lướt ngang những vùng này. Sữa Trăng phần lớn gồm nước ép cây cỏ, nòng nọc, hắc ín, đậu lăng, mật ong, tinh thể tinh bột, trứng cá tầm, mốc, phấn hoa, chất gelatin, giun, nhựa cây, tiêu, muối khoáng, bã của quá trình đốt. Mình chỉ cần đút muỗng xuống dưới lớp vảy phủ trên bề mặt Trăng, rồi mình múc lên đầy một muỗng cái chất quý giá đó. Dĩ nhiên sữa Trăng này không phải là loại tinh khiết rồi, còn nhiều tạp chất trong đó lắm. Trong quá trình lên men (diễn ra lúc Trăng bay ngang vùng sa mạc tỏa ra hơi nóng), không phải tất cả thành phần đều chảy ra; vẫn còn có thứ nằm kẹt lại trong cái hỗn hợp sữa như là: móng tay, sụn, bu lông, cá ngựa, quả hạch và cuống hoa, mảnh sành, móc câu, có lúc có cả lược nữa. Vì thế cái chất sữa này, sau khi thu về phải đem lọc tinh lại. Nhưng việc này không khó, cái khó nằm ở chỗ làm sao chuyển sữa về mặt Đất. Đây là cách bọn ta đã làm: bọn ta hất từng muỗng sữa lên trời bằng hai tay, dùng muỗng làm đòn bẩy. Cái chất sữa đặc như phô mai bay lên, nếu bọn ta ném đủ mạnh nó sẽ dính lên trên trần, nghĩa là dính lên mặt biển Trái Đất. Một khi rơi xuống biển rồi, chúng sẽ nổi lềnh bềnh, bọn ta chỉ việc kéo lên xuồng thôi. Cậu em điếc cũng rất có năng khiếu trong việc này; chú có lực tay mạnh, mà nhắm cũng tốt nữa; chỉ cần một cú ném mạnh, chú có thể hất miếng phô mai vào thẳng trong cái xô bọn ta đang giơ lên. Ta thì hay ném hụt; muỗng sữa không thắng được lực hút của Trăng và rơi thẳng lại xuống mặt ta.

Ta chưa kể hết cho mấy người rằng cậu em họ của ta còn giỏi những gì nữa đâu. Cái công việc múc sữa từ vảy Trăng ấy chỉ là trò trẻ con với chú ấy: đôi khi thay vì phải dùng muỗng, chú chỉ cần thọc tay xuống dưới lớp vảy, có lúc chỉ cần một ngón tay là đủ. Chú ấy không làm theo trật tự gì cả, mà cứ hay đi ra chỗ vắng, nhảy tới nhảy lui, như thể là đang trêu ghẹo Trăng, làm Trăng giật mình, hoặc có lẽ là cù cho nàng bật cười. Và bất kể nơi nào chú ấy đặt tay xuống là sữa lại vọt ra như là vắt từ vú dê vậy đấy. Thế là đám còn lại bọn ta chỉ việc lò dò đi theo và lấy muỗng múc hết sữa chú em vừa vắt ra, lúc thì chỗ này, lúc thì chỗ kia, nhưng rất hên xui may rủi, vì anh chàng Điếc này đúng là làm việc chẳng có theo trật tự gì cả. Ví dụ như là, có chỗ thì chú ây sờ vào hoàn toàn chỉ để sờ cho vui vậy thôi: là những khoảng hở giữa hai cái vảy Trăng, là những nếp gấp trần trụi và mềm mại của da thịt Trăng. Đôi khi cậu em họ ta không chỉ ấn ngón tay xuống, mà còn nhảy nhót rất nhẹ nhàng đúng mực rồi ấn ngón chân to của mình vào da thịt Trăng (chú ấy đi chân không lên mặt Trăng mà). Có vẻ như đây là trò vui nhất của chú ấy, nếu như bọn ta có thể đánh giá thông qua cái âm thanh líu lo vang ra từ cổ họng của chú khi tiếp tục nhảy nhót qua lại. 

Bề mặt của Trăng không chỉ phủ đều vảy, mà còn phô ra đôi chỗ có đất trơn và nhạt màu. Cậu em Điếc rất thích lộn nhào ở những chỗ đất mềm này, hoặc là thích bay lên như chim, cứ như là chú ấy muốn ấn hết cả cơ thể mình ngập vào phần thịt da mềm mại của Trăng. Khi cậu em lang thang ngày một xa, tới một lúc bọn ta không còn trông thấy chú ấy nữa. Trên mặt Trăng có nhiều khu vực rộng lớn mà bọn ta chưa từng có bất kỳ lý do hay mảy may tò mò nào để mà lần ra đấy, và đó chính là nơi cậu em ta biến mất. Ta ngờ ngợ rằng phải chăng những cú lộn nhào với huých đẩy diễn ra trước mắt bọn ta chỉ là để che mắt, là phần dạo đầu để cho âm mưu bí mật của chú muốn đi xa tới những phần còn ẩn dấu kia.

Bọn ta đã ở trong một tâm trạng rất đặc biệt vào những đêm rời khỏi mỏm đá Kẽm: vui vẻ, phấn khích nhưng đượm một chút hồi hộp, giống như ở trong hộp sọ của mình, thay vì não, bọn ta cảm thấy có một con cá, lơ lửng, bị Trăng nhè nhẹ hút lên. Bọn ta lái xuồng, đùa giỡn và ca hát. Vợ của Thuyền trưởng chơi chiếc đàn harp; nàng có đôi tay rất dài, óng ánh bạc như những con lươn dưới biển những đêm đấy, với khe nách phần cuối cánh tay ẩn trong bóng tối và huyền hoặc như bầy nhím biển; và tiếng đàn harp thì ngọt ngào và xuyên thấu lòng, ngọt và nhọn tới nỗi gần như khôn kham, và bọn ta buộc phải thốt lên lời cảm thán, không phải để hòa cùng âm nhạc mà chính là để bảo vệ lấy đôi tai của mình. 

Những con sứa trong suốt nhô lên khỏi mặt biển, co đập một khoảnh khắc, rồi bay về phía Trăng. Bé Xlthlx thích thú thò tay ra cố tóm lấy chúng giữa không trung. Có lúc bé vươn cánh tay nhỏ lên để bắt một con sứa, bé nhảy nhẹ lên và thế là bị Trăng hút rồi bay lơ lửng. Bé nhẹ quá, còn thiếu mấy chục gram trọng lượng nữa để Trái đất có thể thắng được lực hút của Trăng, thế là bé lơ lửng giữa trời cùng với bầy sứa, bồng bềnh trên mặt biển. Bé hoảng sợ, thét lên, rồi sau đó cười nắc nẻ và bắt đầu đùa giỡn, tóm lấy mấy con sò và cá con cũng đang lơ lửng, cho vào miệng và nhai. Bọn ta chèo cật lực để đuổi theo bé: Trăng vẫn chạy theo quỹ đạo elip của mình, cuốn đi theo bầy sinh vật biển, gồm cả những dải rong biến quấn lấy vào nhau và Xlthlx bập bềnh ở giữa. Hai bím tóc mỏng của bé như đang tự ý bay lượn, vươn về phía mặt Trăng; nhưng sau một hồi, bé vùng vẫy và đá vào không khí như muốn chống lại sức hút đó, giày của bé đã tuột khỏi chân trong khi bay, giờ thì đôi tất cũng trượt ra và đu đưa, vì bị Trái đất hút. Ở trên thang, bọn ta cố đưa tay tóm lấy.

Ý tưởng tóm lấy bầy sinh vật nhỏ mà ăn đúng là hay, càng ăn thì Xlthlx càng nặng và càng chìm xuống Trái đất; đúng ra mà nói thì trong bầy sinh vật lửng lơ đó, những con thân mềm, rong biển và phù du to nhất bắt đầu bị hấp dẫn hút về xung quanh bé, và một lúc sau bé đã phủ đầy vỏ sò silic, giáp tôm kitin, và rong biển sợi. Bé càng bị phủ thì càng thoát ra khỏi ảnh hưởng của Trăng và bắt đầu sượt qua làn nước biển và chìm xuống.

Bọn ta chèo nhanh tới để kéo bé lên, người bé vẫn còn rất hút, bọn ta phải vất vả lắm mới gỡ hết đám sinh vật ra vây lấy bé. Những nhánh san hô mềm vướng vào tóc bé, và mỗi lần bọn ta chải tóc là hàng đống tôm với cá mòi ủa ra. Mi mắt bé bị mấy con sao sao bu vào kéo xuống, xúc tu mực thì quấn lấy tay và cổ, áo đầm thì trông như dệt bằng rong và bọt biển. Bọn ta gỡ gần hết mọi thứ ra, nhưng trong nhiều tuần sau, lâu lâu bé lại rút ra từ đâu đó khi thi cái vảy cá, khi thì miếng vỏ sò, còn da bé thì lấm chấm những tảo cát, ai mà nhìn không kỹ thì cứ tưởng chỉ là tàn nhang trên mặt bé mà thôi.

Nói như vậy chắc mấy người đủ thấy Trái đất và Trăng hút lẫn nhau như thế nào, hai lực hầu như ngang bằng, đánh nhau ở cái khoảng không ở giữa. Để ta nói thêm với mấy người cái này nữa: một vật từ Trăng hạ xuống Trái đất cũng bị lực Trăng hút một lúc, chống lại cái hấp dẫn của mặt đất. Ngay cả ta, to và nặng thế này, lần nào ta từ trên đó xuống, ta cũng phải mất một lúc để quen với bên trên bên dưới của Trái đất, còn những người kia thì phải nắm lấy tay ta, giữ lấy ta mà kéo trên chiếc xuồng bập bềnh theo sóng trong khi đầu ta vẫn lơ lửng còn chân ta vẫn duỗi thẳng lên trời.

"Nắm lấy này! Nắm lấy chúng tôi!", họ la lên như vậy, và trong lúc dò dẫm, đôi lần tay ta nắm phải bầu ngực của vợ thuyền trưởng Vhd Vhd, bầu ngực tròn và chắc, dễ chụp lấy và có một lực hấp dẫn cũng mạnh như Trăng, có khi còn mạnh hơn, đặc biệt là khi ta cố lao xuống, vòng tay ôm lấy eo của nàng, và như thế ta trượt trở lại Trái đất, ngã rầm xuống lòng xuồng, với Thuyền trưởng Vhd Vhd kéo ta dậy và dội một xô nước vào mặt ta.

Đây chính là bắt đầu câu chuyện tình của ta với vợ thuyền trưởng Vhd Vhd và cũng là bắt đầu cho niềm đau khổ của ta. Vì không lâu sau ta nhận ra người mà nàng luôn nhìn đắm đuối chính là cậu em họ Điếc, mỗi khi bàn tay của cậu em ghì chặt lấy Trăng là ta lại lén nhìn nàng, và trong đôi mắt nàng ta đọc được rằng tình cảm thân thiết giữa chàng Điếc và Trăng khiến nàng bị khuấy động ra sao; và khi chú ấy biến mất sau những chuyến thám hiểm Trăng của mình, ta thấy nàng bồn chồn không yên, như đang ngồi trên lửa nóng, và rồi tất cả chợt hiện rõ lên với ta, nàng Vhd Vhd đang ghen với Trăng còn ta thì ghen với cậu em họ của mình. Mắt nàng làm bằng kim cương, nàng Vhd Vhd ấy; đôi mắt rực sáng lên khi nàng nhìn Trăng, gần như thách thức, như thể nàng muốn nói: "Trăng, người không thể có chàng cho riêng mình được!". Và ta cảm thấy như ta là một người ngoài cuộc.

Người chẳng hề biết chút gì về tất cả chuyện này chính là cậu em họ Điếc. Khi bọn ta kéo chú ấy xuống - như ta đã kể ở trên - bằng cách nắm lấy chân mà kéo, nàng Vhd Vhd mất hết cả tự chủ, nàng làm mọi cách để kéo hết sức chú ấy bằng sức nặng của mình, quấn lấy đôi tay dài của nàng quanh chú em; ta cảm thấy một cơn nhói đau trong ngực (khi ta nắm lấy nàng, cơ thể nàng mềm mại và êm dịu, chứ không căng lên và mạnh mẽ như khi nàng kéo cậu em. Trong khi đó, cậu Điếc vẫn cứ lãnh đạm, ngập chìm niềm hạnh phúc với Trăng của mình.

Ta nhìn sang Thuyền trưởng, tự hỏi không biết ông có thấy gì qua cử chỉ của vợ mình, nhưng không bao giờ có chút xúc cảm nào biểu lộ ra trên mặt ông, khuôn mặt bị muối ăn mòn, hằn những nếp nhăn như hắc ín. Vì cậu Điếc luôn là người cuối cùng xuống khỏi trăng, xuồng luôn bắt đầu nhổ neo khi chú ấy chạm đất. Rồi với một cử chỉ lịch thiệp, thuyền trưởng Vhd Vhd nhặt lấy chiếc đàn harp ở lòng xuồng, đưa cho vợ mình. Nàng buộc phải nhận và chơi một vài nốt. Không gì chia cắt nàng khỏi cậu Điếc bằng âm thanh chiếc đàn. Ta âm ư hát bằng giọng thấp một bài hát buồn như thế này: 

"Này đàn cá óng ánh đang trôi, đang trôi;
Và này đàn cá thẫm chìm ở đáy, chìm ở đáy đại dương..."

Tất cả mọi người, trừ cậu em Điếc, đều hát theo từng chữ của ta.

Bình thường, lúc chưa tới kỳ Trăng cậu Điếc lại về làm con người cô độc tách rời khỏi thế giới; chỉ khi Trăng sắp sửa tròn là chú em ta mới trở nên hăng hái khác lạ. Lần đó ta đã sắp xếp mọi thứ để sao cho không phải tới lượt mình phải trèo lên Trăng, để ta được ở trên xuồng cùng với vợ Thuyền trưởng. Nhưng rồi, tới khi cậu em trèo lên thang, nàng Vhd Vhd nói: "Lần này em cũng muốn trèo lên Trăng!".

Điều này chưa bao giờ xảy ra; vợ Thuyền trưởng chưa từng đặt chân lên mặt Trăng. Nhưng Thuyền trưởng Vhd Vhd không phản đối, ông còn đẩy nàng lên thang và kêu lên: "Vậy thì đi đi!", rồi bọn ta cùng giúp đưa nàng lên. Ta đỡ nàng từ phía sau, cảm thấy sự tròn trịa và mềm mại của nàng trên cánh tay ta, và để đưa nàng lên, ta bắt đầu áp mặt mình và lòng bàn tay mình lên nàng, rồi khi ta cảm thấy nàng bắt đầu bay lên mặt Trăng, ta chợt u sầu vô cùng ngay giây phút ta không còn chạm vào nàng nữa, thế là ta đuổi theo nàng, và la lên: "Tôi cũng sẽ đi lên đó phụ mọi người một lúc!"

Nhưng ta bỗng bị Thuyền trưởng giữ lại, hệt như ông cố dùng một cái kẹp để níu lấy ta. "Cậu ở lại đây; cậu còn việc phải làm", Thuyền trưởng ra lệnh, giọng ông bình thản.

Ngay lúc đó, ý định của từng người đã hiển hiện rõ ràng. Thế mà ta lại không hiểu ra; ngay cả bây giờ ta cũng không chắc liệu ta có hiểu rõ ràng hay không nữa. Chắc chắn vợ Thuyền trưởng đã từ lâu nung nấu ý định muốn cùng đi với cậu em ta tới một chốn riêng tư chỉ có hai người (hay ít nhất ngăn không cho cậu chạy trốn một mình với Trăng), nhưng có lẽ nàng còn một kế hoạch táo tợn hơn, đó là thuyết phục cậu em đồng ý, để mà hai người họ cùng trốn đi, không về xuồng và trú lại ở trên Trăng trong vòng một tháng, cho tới kỳ trăng tiếp theo. Nhưng có lẽ cậu em ta, vì điếc nên không hiểu những gì nàng cố gắng nói với chú, hoặc có lẽ chú ấy còn chưa nhận ra rằng mình chính là đối tượng thèm khát của nàng. Còn Thuyền trưởng? Ông chẳng muốn gì hơn việc tống khứ được vợ mình đi; đúng ra, ngay khi nàng đã yên vị ở trên Trăng, ông mới hiện ra mặt ý định độc ác của mình, và rồi bọn ta hiểu ra tại sao ông chẳng hề làm gì để giữ nàng ở lại. Nhưng ông có biết rằng quỹ đạo của Trăng đang ngày một nới rộng ra hay không?
Chẳng ai có thể ngờ chuyện ấy lại xảy ra. Cậu Điếc thì có lẽ, nhưng chỉ mình cậu ấy thôi: chắc bằng cái nhận thức mù mờ của mình, chú em ta đã có một dự cảm mơ hồ rằng chú sẽ phải nói lời vĩnh biệt với Trăng chính vào đêm ấy. Vì thế mà chú trốn biệt vào cái góc bí mật của mình, ở lì trong đó với Trăng cho tới tận lúc sắp sửa về thuyền với xuất hiện trở lại. Vợ Thuyền trưởng chẳng có cách nào tìm ra chú: bọn ta thấy nàng chạy đôn chạy đáo khắp nơi trên cái bề mặt đầy vảy của Trăng, bất thần dừng lại, nhìn về phía bọn ta như hỏi có thấy chàng Điếc về thuyền chưa.

Nghĩ lại mà nói, đêm ấy quả là có phần kỳ lạ. Mặt biển thay vì căng ra như chão mỗi đêm Trăng tròn, có khi thành một vòng cung hướng về phía bầu trời, nay lại ủ rũ, chùng xuống, cứ như lực hút của Trăng không còn chút sức nào nữa. Còn ánh Trăng nữa, không còn giống như ánh Trăng tròn mọi khi; bóng đêm hôm ấy như đậm đặc hơn. Những người lên mặt Trăng hôm ấy chắc cũng nhận ra là có chuyện gì đó không bình thường đang diễn ra. Họ ngước nhìn lên phía bọn ta đang ở dưới mặt đất với ánh mắt kinh hãi. Rồi từ miệng của họ lẫn của chúng ta, vang lên cùng một lúc tiếng la thất thanh: "Trăng đang trôi ra xa!"

Tiếng kêu vẫn còn vang vọng khi cậu Điếc đột ngột xuất hiện và chạy. Cậu trông không có vẻ gì hoảng sợ, hay ngạc nhiên: cậu chống hai tay xuống đất, lộn nhào một cái như thường làm, nhưng lần này khi cậu bắn lên không trung, cậu đột ngột bị giữ khựng lại như bé Xlthlx lần trước. Cậu lơ lửng giữa trời trong một khoảnh khắc, rồi huơ tay cật lực, như một người đang cố bơi ngược nước, cậu dần tiến về phía trái đất bằng một tốc độ chậm chạp chưa từng thấy trước đây.

Từ phía Trăng, các thủy thủ khác vội vã làm theo cậu Điếc. Không ai nán lại vớt vát chút sữa Trăng nào để mang về xuồng, mà Thuyền trưởng cũng không la rầy ai vì điều này cả. Họ đã chần chừ hơi lâu, khoảng cách giờ đây trở nên khó mà vượt qua hơn; họ bắt chước cách nhảy và cách bơi của cậu Điếc, nhưng đều bị giữ lại, dò dẫm trên không trung. "Nắm lấy nhau! Khờ quá! Bám lấy nhau mà nắm!", Thuyền trưởng la lên. Nghe thấy lệnh, các thủy thủ cố tạo thành một khối, để đẩy lẫn nhau cho tới khi họ rơi vào vùng hấp dẫn của trái đất: bất thình lình, cả khối cơ thể rơi xuống mặt biển vang lên một tiếng ùm to.

Bọn ta phải chèo xuồng ra để vớt họ lên. "Chờ đã! Còn thiếu vợ Thuyền trưởng!", ta kêu lên. Vợ Thuyền trưởng cũng đã cố nhảy lên, nhưng nàng vẫn còn đang trôi lơ lửng cách mặt Trăng vài mét, chầm chậm huơ đôi tay dài lấp lánh bạc của nàng trong không trung. Ta trèo lên thang, cố gắng trong vô vọng đưa cho nàng đàn harp để nắm. "Tôi không với tới cô ấy! Chúng ta phải chèo về phía cô ấy!" và ta bắt đầu nhảy lên, khua khua cái đàn. Trên đầu ta, cái đĩa mặt Trăng không còn như cũ nữa: nó đã nhỏ hơn nhiều và vẫn tiếp tục nhỏ lại, như thể ánh nhìn của ta khiến cho nó trôi ngày một xa, còn bầu trời ngày càng mở rộng ra như khe vực thẳm, để lộ ra dưới đáy vô vàn vì sao, và đêm tối khiến ta ngập tràn trong hư vô, nhấn chìm ta trong cơn choáng váng và hoảng loạn.

"Mình sợ," ta nghĩ, "mình sợ quá không thể nhảy được. Mình là đứa hèn!" và ngay lúc đó, ta nhảy lên. Ta bơi dữ dội trên nền trời, đưa chiếc đàn về phía nàng, và thay vì tiến về phía ta, nàng cứ lộn nhào, lộn nhào, làm ta đầu tiên trông thấy khuôn mặt điềm tĩnh của, rồi sau đó là tấm lưng nàng. 

"Nắm chặt lấy tôi!", ta la lớn, và ta đã bám lấy được nàng, quấn tay chân ta vào tay chân nàng. "Nếu chúng ta giữ chặt lấy nhau thế này, chúng ta sẽ xuống được!" và ta tập trung hết sức lực để khiến ta với nàng thành một khối, ta cũng tập trung hết cảm giác của mình để tận hưởng cái ôm thật chặt này. Quá đắm chìm trong cảm giác của mình, ta không nhận ra rằng thật ra ta đã kéo nàng ra khỏi trạng trái không trọng lượng, để rồi khiến nàng rơi ngược trở lại Trăng. Ta chẳng nhận ra ư? Hay đó chẳng qua chính là ý định của ta ngay từ ban đầu? Trước khi ta kịp suy nghĩ cho thấu đáo, một tiếng kêu đã dâng lên tới cổ họng ta. "Tôi sẽ là người ở với em trong một tháng!", à mà không đúng, "Bên em!", ta la lên, trong niềm háo hức: "Tôi sẽ ở bên em trong một tháng!" và đúng ngay lúc đó, ta và nàng bị dứt ra khỏi nhau khi cả hai cùng rơi ầm xuống Trăng, chúng ta lăn về hai ngả trên những chiếc vảy Trăng lạnh lẽo.

Ta ngẩng đầu lên như một thói quen mỗi khi ta chạm bề mặt Trăng, để nhìn cho chắc là trên đầu ta vẫn là mặt biển quen thuộc trải rộng ra như một cái trần nhà mênh mông vô hạn, và ta lại nhìn thấy biển, thật vậy, vẫn là biển, nhưng cao hơn nhiều và hẹp hơn nhiều, bị những bờ những bãi, những doi những vịnh, những vách đá bao lấy chung quanh, và những chiếc xuồng của chúng ta nữa, nhỏ làm sao, những khuôn mặt bạn bè ta mới xa lạ làm sao, tiếng kêu la của họ mới yếu ớt làm sao. Ta nghe một tiếng động ở gần mình: Nàng Vhd Vhd đã tìm ra chiếc đàn harp của nàng và đang mân mê nó, rồi kéo một tiếng tơ nghe não nùng như tiếng khóc. 

Một tháng dài bắt đầu. Trăng chầm chậm dịch chuyển quanh quả Đất. Chúng ta không còn nhìn thấy bờ biển quen thuộc của mình nữa, mà giờ là những dặm dài đại dương xa xôi, sâu thẳm như vực và những hoang mạc đầy những đá vụn lấp lánh, những lục địa phủ băng, những rừng rậm oằn mình dưới bầy bò sát, những rặng núi bị dòng sông chảy siết xẻ ngang, những thành thị lầy lội, những nghĩa địa đầy mộ đá, và những đế chế xây bằng đất sét và bùn. Khoảng cách vời vợi phủ một màu đơn điệu lên tất cả mọi thứ: cảnh tượng xa lạ khiến mọi hình ảnh đều xa lạ; tất cả đều trông như nhau, những đàn voi và những đàn châu chấu chạy khắp các bình nguyên, mênh mông, dày đặc, và rậm rạp một cách đều tăm tắp, y hệt như nhau.

Ta phải nên vui mới đúng: giờ thì như ta hằng mơ, ta đã được ở một mình bên nàng, ở thật gần theo đúng cái kiểu cậu em Điếc thân thiết với Trăng khiến ta luôn ghen tị, và nàng Vhd Vhd giờ là của riêng ta, những ngày những đêm ròng một tháng trời trôi qua không gì gián đoạn, vỏ Trăng nuôi sống chúng ta bằng thứ sữa Trăng có cái vị chua chua mà ta ăn đã quen, chúng ta ngước mắt nhìn lên, nhìn lên cái hành tinh mà chúng ta đã sinh ra, chúng ta đã được trông thấy tất cả mọi miền đất, được nhìn hết những phong cảnh chưa một người Trái Đất nào được chứng kiến qua, nếu không thì chúng ta cũng đã ngắm những vì sao xa hơn Trăng, to như quả mọng, làm bằng ánh sáng, lơ lửng trên cành cong của bầu trời, tất cả mọi thứ đều vượt quá những hy vọng, những mơ tưởng hão huyền nhất của ta ngày trước, thế nhưng, thế nhưng, hoàn cảnh này, đối với ta giờ đây thực chẳng khác nào một cuộc đày ải, một hình phạt tha hương.

Ta chỉ nghĩ về Trái Đất. Chính Trái Đất đã khiến chúng ta trở thành chúng ta như ngày hôm nay; ở trên này, cách Trái Đất vời vợi, cứ như mọi thứ đổi khác, ta không còn là ta, nàng cũng không còn là nàng. Ta chỉ mong mỏi vô cùng được trở về Trái Đất, và ta run rẩy mỗi khi nghĩ tới việc phải rời ra nó mãi mãi. Giấc mơ tình yêu của ta đã thỏa mãn ngay cái khoảnh khắc chúng ta ôm lấy nhau ở giữa Đất và Trăng; bị tách rời khỏi đất, ta giờ chỉ còn biết tới nỗi nhớ nhà quặn thắt lấy tim, nỗi nhớ man mác về cái nơi chốn, cái bắt đầu, cái kết thúc không còn nữa.

Đây là những điều ta cảm thấy. Còn nàng? Khi ta tự hỏi mình điều đó, nỗi sợ như xé ta rách làm đôi. Bởi vì nếu nàng cũng chỉ nghĩ về Trái Đất, đó là một điềm tốt với ta, nó cho thấy nàng cuối cùng cũng đã hiểu ta, nhưng cũng có thể tất cả mọi thứ đều là công cốc, vì những nỗi nhớ của nàng đều vẫn và chỉ hướng về cậu em Điếc. Thay vì thế, nàng chẳng cảm thấy gì cả. Nàng chẳng bao giờ ngước mắt nhìn lên hành tinh cũ, nàng cứ thơ thẩn, trông tái nhợt, loanh quanh những vùng đất trống, lầm bầm những bài ca buồn, và gảy chiếc đàn của mình, như thể muốn tạm thời (ta nghĩ thế) hoàn toàn làm quen với tình cảnh lúc này của mình. Thế có phải là ta đã thắng tình địch của mình không? Không; ta đã thua: một thất bại vô vọng. Vì nàng đã nhận ra rằng cậu em ta chỉ yêu mỗi Trăng, điều duy nhất nàng muốn bây giờ là trở thành Trăng, được hòa làm một với Trăng, với thứ tình yêu kỳ lạ của cậu em ta.

Khi Trăng đã đi trọn một vòng quanh Trái Đất, chúng ta lại trở về ở trên Mỏm đá Kẽm. Ta bần thần nhận ra khung cảnh quen thuộc: chưa bao giờ, dù trong những mường tượng tăm tối nhất, ta có thể hình dung ra cảnh mình đứng nhìn về Mỏm đá ở một khoảng cách vời vợi thế này. Giữa biển khơi lầy lội như vũng bùn, các bạn ta vẫn đang cố gắng, nhưng lần này không dùng thang nữa. Từ dưới xuồng mọc lên một rừng những cây gậy dài, mỗi người đều vung lên một cây, cây nào cũng có gắn móc ở đầu, có lẽ nhằm mục đích vớt vát chút sữa Trăng cuối cùng, cũng như cố giúp bọn ta trèo xuống. Nhưng rồi, mọi người mau chóng nhận ra rằng không có cây gậy nào đủ dài để với tới Trăng, và thể là họ bỏ cuộc, những cây gậy ngắn ngủn nực cười, nổi lềnh bềnh trên mặt biển; trong cơn bối rối, vài chiếc xuồng mất cân bằng, lật nhào xuống nước. Thế mà, lại ngay lúc đó, từ một xuồng khác, một chiếc gậy dài hơn, gắn lại từ những chiếc gậy ngắn mới đây thôi vẫn còn lềnh bềnh trên sóng nước, bắt đầu huơ về phía Trăng. Chiếc gậy hẳn phải làm bằng tre, nhiều gây tre nhỏ, nhiều lắm, gắn lại vào nhau, thế nên để đưa nó lên cao, họ phải nâng thật châm, vì gậy tre mỏng manh như vậy, chỉ cần lỡ tay là nó sẽ gãy ngay. Họ cũng phải nâng gậy thật cẩn thận, nếu không muốn làm lật thuyền.

Lập tức, bọn ta nhận ra rằng đầu gậy lần này sẽ chạm vào Mặt Trăng, rồi thấy nó sượt qua bề mặt, ấn vào nền đất Trăng đầy vảy, ngừng một chút, rồi đẩy nhẹ, không phải, đẩy mạnh thì đúng hơn, làm cho gậy nảy ra, rồi bật trở lại đập vào đúng điểm đó, rồi lại nảy trở ra. Rồi ta nhận ra, cả hai ta - vợ Thuyền trưởng và ta - đều nhận ra, đó chính là chú em ta, không thể là ai khác, đang chơi đùa lần cuối cùng với Trăng của mình, bằng cách dùng gậy cù Trăng, như thể chú vẫn thường đùa với nàng. Và bọn ta nhận ra rằng chú em ta không hề có một chủ đích nào cả, mấy người có thể nói rằng chú ấy đang cố giúp đẩy Trăng ra xa, cố cho Trăng thấy được quỹ đạo rộng hơn của nàng. Chính là kiểu chú ấy chứ không lẫn vào đâu được, chú hoàn toàn không hề có bất kỳ mong muốn nào đi ngược lại ý thích của Trăng, hành trình và số phận của Trăng, nếu Trăng muốn trôi ra xa, thì chú sẽ vui lòng giúp Trăng đạt ý nguyện, hệt như, cho tới mới đây, chú vẫn hạnh phúc ở cùng Trăng gần bên mình.

Nàng Vhd Vhd sẽ làm gì, khi chứng kiến tất cả cảnh này? Chính lúc này, nàng lại chứng tỏ rằng tình yêu của mình với cậu Điếc là một lời thề nguyện bất khả bội, hoàn toàn không phải là thứ tình cảm nhẹ dạ nhất thời. Nếu chú em ta hết lòng hết dạ với Trăng cách xa thăm thẳm, thì nàng cũng sẽ một mực nguyện ở trên Trăng thăm thẳm cách xa. Ta nhận ra điều này, khi không thấy nàng bước tới đầu gậy tre, mà chỉ xoay chiếc đàn harp về phía Trái Đất, cao cao trên trời, buông vài tiếng tơ. Ta nói ta thấy nàng, nhưng thật ra bóng dàng nàng chỉ sượt bên góc mắt ta mà thôi, vì ngay khi gậy chạm vào Trăng, ta đã buông hết tốc lực chay tới, bám ngay lấy nó, và giờ đây, nhanh như con rắn bò, ta đang trèo theo từ mấu tre, tay chân thoăn thoắt tiến về phía trước, ta thấy nhẹ bẫng trong phần không gian loãng giữa hai thiên thể, ta được cái sức mạnh tự nhiên điều khiển, sai khiến ta phải trở về Trái Đất, ta hiểu rõ, ta nhận ra cái ý định ban đầu đã mang ta lên Trăng, nhận ra cái kết cục không hay ho gì của nó; và cuối cùng, nỗ lực của ta cũng khiến ta trèo tới được điểm mà ta không còn cần phải cố gắng gì nữa, lực hút từ Trái đất khiến ta chỉ cần để mình tự trượt, đầu chúi xuống, cho tới khi chiếc gậy gãy ra làm nhiều mảnh, còn ta thì rơi xuống biển, giữa những chiếc xuồng.

Ta đã trở về trong ngọt ngào, đã tìm lại được nhà của mình, nhưng tâm trí ta vẫn ngập tràn nuối tiếc vì đã đánh mất người con gái ta yêu, và khi muốn tìm nàng, ta lại nhìn về phía Trăng, giờ đây hoàn toàn ngoài tầm với. Ta thấy nàng. Nàng vẫn ở lại nơi ta đánh mất nàng. Nàng ngồi trên một bờ biển ngay trên đầu ta, và nàng im lặng. Nàng tiệp cùng màu với Trăng; nàng nâng chiếc đàn harp, rải vài hợp âm chậm. Ta vẫn nhìn ra được dáng hình bờ ngực nàng, cánh tay nàng, đùi nàng, hệt như trong trí nhớ. Tới giờ ta ta vẫn còn nhớ, tới tận bây giờ, khi mà Trăng đã trở thành cái hình tròn bẹp, xa xăm trên bầu trời, và ta vẫn tìm kiếm nàng như vậy mỗi khi mảnh trăng đầu tiên hiện ra. Trăng càng già, ta càng thấy nàng rõ nét hơn, thấy nàng hay thấy bất kể thứ gì của nàng, nhưng chỉ nàng mà thôi, trong hàng trăm, hàng ngàn viễn tượng, chính nàng người ta làm Trăng trở thành Trăng, chính nàng, mỗi khi tròn, lại khiến bầy chó hú gào thâu đêm, và có cả ta cùng nhập cuộc.

[Hết]

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Luca Turin và giới khoa học Xô Viết

Đọc các sách vở về hóa hương, nước hoa, về khứu giác, nhất là các sách xuất bản khoảng năm 2000 trở đi, cuốn nào không nhắc tới Luca Turin hay cái lý thuyết rung động mùi hương của Turin, thì cuốn đó thiếu sót khá lớn.

Tôi biết tới Turin vào năm đầu tiên tôi đến cái đất nước này, trong những ngày lùng sục thư viện, và kể từ khi tôi bắt đầu dịch cuốn "The secret of scent" của Turin. Và tôi mê từ con người ông Turin cho tới ngôn ngữ của ổng, cái hài của ổng, cho tới cái lý thuyết về mùi hương độc đáo và tuyệt vời của ổng. Năm ngoái, tôi từng làm một bài thuyết trình PowerPoint khi đi phỏng vấn thực tập ở Syngenta về lý thuyết rung động mùi hương của Turin, nhưng tôi không được nhận.

Từ khi sinh học bắt đầu nhìn được phân tử, và người ta bắt đầu sử dụng hình dạng của phân tử để giải thích đủ thứ cơ chế sinh lý, từ enzyme tiêu hóa trong ruột cho tới kháng thể bạch cầu vân vân, các nhà sinh lý học bắt đầu mê mẩn với cái suy nghĩ theo thuyết khóa-chìa khóa, và tới khi đụng vào khứu giác, chúng ta lại vẫn tiếp tục nghĩ theo lối đó, phải có các thụ thể có hình dạng thích hợp để các phân tử mùi lắp vào y chang như lắp lego. Nhưng rồi chúng ta kẹt luôn ở đó, làm sao giải thích được cơ chế nào mà cơ thể con người có thể có hàng trăm ngàn cái ổ khóa để cho mũi chúng ta có thể phân biệt được cả trăm ngàn mùi hương một cách tức thì, trong khi cả trăm ngàn kháng thể do bạch cầu tạo ra ghép khớp vào từng loại kháng nguyên mầm bệnh cũng phải tốn thời gian vài ngày theo kiểu thử sai. Rồi nếu hình dạng một phân tử mùi quyết định mùi hương của nó, thì làm sao giải thích được có đủ thứ phân tử hình dạng na ná nhau lại có mùi hoàn toàn khác biệt, trong khi một đống phân tử khác hình dạng hoàn toàn khác biệt lại có mùi na ná nhau (ví dụ: các phân tử mùi xạ có thể chia được làm 4 nhóm có hình dạng rất khác nhau: xạ nitro, xạ vòng lớn, xạ đa vòng và xạ vòng no - xem hình).


Lý thuyết rung động mùi hương của Turin sử dụng các dao động của các liên kết phân tử, xem mũi con người như một cái máy phổ hồng ngoại IR, thứ mà các sinh viên hóa học được học cách đọc - nhìn vào phổ IR ngoằn ngoèo đoán được phân tử gồm các nhóm chức nào - ngay từ năm một. Cái mũi chúng ta đọc từng phân tử, từng mũi phổ. Vì thế, các phân tử có phổ tương tự nhau sẽ có mùi tương tự nhau. Lý thuyết này vốn dĩ không phải của Turin nghĩ ra, nó được đưa ra từ năm 1928, sau đó bị bỏ xó vì không ai tin, sau này có được vực dậy vài lần, nhưng dù có bằng chứng về mùi, nhưng nó vẫn gặp một số phản ví dụ, và quan trọng là vẫn chưa ai tìm ra được cơ chế làm sao mũi có thể là một cái máy phổ. Mãi cho tới khi người ta tìm ra thụ thể bắt cặp protein-G (Nobel 2004 cho Linda Buck và Richard Axel), rồi Turin dùng hiệu ứng đường hầm điện tử để giải thích thì lý thuyết này mới sống dậy thật sự.

(Tạm ngừng phần này ở đây, dĩ nhiên tôi sẽ còn viết nhiều về Turin)
______________________________

Bài này tôi vốn không muốn đi sâu vào cái lý thuyết hay ho của Turin mà muốn giới thiệu về một cuốn sách siêu hay của Chandler Burr viết về Luca Turin và mùi hương (theo tôi thấy còn hay hơn cuốn sách của Luca Turin tự viết về lý thuyết của mình). Cuốn sách siêu hay này có một đoạn hay kinh điển mà Luca Turin kể về giới khoa học thời kỳ Xô Viết, mà tôi đã dịch ở dưới:



~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
ÔNG HOÀNG CỦA MÙI HƯƠNG
tác giả: Chandler Burr 

[...] Dưới con mắt của Turin, nước Nga đã luôn là đầu tàu nơi cư ngụ của hàng loạt những nhà phù thủy khoa học lập dị. Hồi xưa ông từng đọc tạp chí Biofizika bằng phiên bản tiếng Anh gọi là Soviet Biophysics (tạp chí Vật lý sinh học Xô Viết), vốn là tờ tạp chí đầy những thứ hay ho lạ lùng - những thứ "nếu mà đúng, thì rất hay ho", theo lời ông nói.

[...] Turin tới làm ở Matxcơva 5 lần ở 5 thời điểm khác nhau, nghiên cứu đủ thứ gì ông thích. Ngành sinh học của Nga bây giờ, ông nói một cách luyến tiếc, đã gần như bị xóa sổ. "Không tài trợ, không thiết bị, toàn là tuyệt vọng, toàn là xuất cảnh. Những người giỏi nhất trốn hết qua Mỹ với Israel." Ông nhún vai, thở dài cho một thời đã qua. Thứ mà ông đặc biệt thích là sách khoa học, mua chỉ vài xu Anh đúng theo nghĩa đen (*giá hiện giờ 1 xu Anh = 350 VND) ở mấy cửa hiệu Xô Viết teo tóp. Ông sẽ đi thẳng tới Dom Knigi (Nhà Sách) ở Prospekt Kalinina (Đại lộ Kalinina), tầng tám phía bên phải, ở đó sẽ có hàng chồng sách mỗi chồng gần 2 mét, sách về vật lý lượng tử, về sinh lý, về điện hóa, về luyện kim, đủ thứ. Mặt ông sáng lên. "Có một cuốn rất hay kêu là Cứng hơn cả kim cương, nói về mấy thứ ngọc có đốp thêm nitơ vào. Tôi thích cuốn đó." Ông cười sung sướng, rồi mím môi, nhìn trầm ngâm. "Những người viết ra mấy cuốn sách đó toàn là những người mang giầy sờn rách rẻ tiền, mặc áo vải polyester bẩn. Đống sách tôi gom được sau mỗi chuyến đó, nặng phải bằng một con bê con. Nhìn vào đống sách đó, tôi nghĩ "làm sao mình tha được đống này về nhà, thôi mai mình quay lại", thế nhưng hôm sau quay lại thì nguyên đám đó đã biến mất. Biến mất mãi mãi. Ở đó sẽ không còn gì luôn. Thế nên khi mình tìm được, thì phải cố mà tha ra tới quầy tính tiền, người ta sẽ gói sách lại bằng một cái giấy gói lạ lùng nhất, đẹp nhất với một cái dây cũng rất lạ - ở Liên bang Xô Viết thì cái gì cũng lạ hết - rồi mình vác nó ra taxi, rồi vác ra bưu điện, rồi gửi máy bay về nhà. Tôi đã mua nhiều sách tới mức mang không nổi, năm mươi kí lô sách, cả chồng cả tháp những cuốn sách vĩ đại, ác liệt, tuyệt vời đó.

"Rồi còn những nhà khoa học Xô Viết thì cũng hay ếu (fucking) chịu được. Tôi nhớ có một lão người Anh rất ngựa, có lần đứng thuyết trình ở Mátxcơva vào một ngày hè khá oi. Lão này mặc một bộ vét vải lanh màu thuốc lá, đội một cái nón vành panama, trông rất là thực dân. Thính giả của lão này là 25 nhà khoa học Liên Xô trông vô cùng nhếch nhác, mặc áo xống rách rưới, tồi tàn, tệ hại, nhìn thấy tưởng như mấy người này ăn xin trên đường phố. Lão kia thì vừa thuyết trình vừa tỏ vẻ kẻ cả, chiếu cố kiểu dân Anh, rồi tới phần hỏi-đáp, 25 nhà khoa học Liên Xô này đã quay chín lão người Anh luôn. 25 nhà khoa học đó, họ trông như dân vô gia cư thì sao, có vấn đề gì không? Vấn đề là họ hoàn toàn không tào lao. Khoa học đối với họ không phải là một cái "nghề", không phải là để diện áo choàng tiến sỹ đi qua đi lại, không phải màu mè hoa lá, nó là khoa học thuần túy, nó là cái câu hỏi Thế này là thế nào? Làm sao chúng ta giải quyết được cái này? Ôi trời ơi. Họ sống trong những khu ký túc tối tăm của Đại học Quốc gia Matxcơva, vốn là một cái trường đại học dành riêng cho khoa học, cái tòa nhà (lại fucking) vĩ đại ở trên đỉnh đồi. Hồi tôi đến đó lần cuối, họ fax hỏi tôi: "Ông muốn có học hàm gì?", tôi fax trả lời: "Đại Công tước (Grand Duke)". Họ fax ngược lại: "Đại Công tước hiện tại có người đang dùng, gợi ý nên dùng Giáo sư thỉnh giảng (visiting professor)".

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Não ở đây vậy tôi ở đâu?

Trong cuốn Chim lửa tập Tái sinh (Resurrection hay tựa tiếng Nhật là 復活 - fukkatsu Phục hoạt), Tezuka làm hai cuộc giải phẫu giả tưởng: ghép não của bà trùm mafia vào xác cậu thanh niên và sao ghép thông tin từ não cậu thanh niên và từ "não" con robot vào một bộ não nhân tạo để tạo ra Robita. Kết quả là bà trùm mafia sống dậy trong xác cậu thanh niên, còn cậu thanh niên nhập vào làm một với tình yêu là con robot Chihiro của mình.

Ở đây tôi hiểu rằng Tezuka áp dụng cái thuyết "não tôi ở đâu thì cái gọi là tôi ở đó". Trong phần đầu bài luận Where am I? (Tôi ở đâu?) của Daniel Dennett, ông kể một câu chuyện tưởng tượng: ông được chính quyền Mỹ mời làm một dự án khoa học. Trong dự án này, ông phải tiếp xúc với một loại tia, tia này gây tổn thương tới một loại mô não nhất định, ngoài ra không ảnh hưởng gì các bộ phận khác. Do đó, ông được làm một cuộc giải phẫu đưa não ra khỏi hộp sọ của ông, nuôi trong bể kính, và truyền thông tin tới cơ thể ông thông qua sóng điện từ nhận bởi ăng-ten trên hộp sọ. Sau cuộc phẫu thuật, ông đi đến phòng nuôi não của mình, nhìn vào cái não đang nổi lềnh bềnh trong lồng kính, tự hỏi mình đang ở đâu. Liệu ông có thể nghĩ mình đang nằm trong lồng kính đối diện với đôi mắt của chính mình hay không. Rồi ông đưa ra ba giả thuyết:
1. Não tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
2. Thân tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
3. Cái gọi là "tôi" ở bất kỳ nơi nào mà nó đang nghĩ tới.

Giả sử chúng ta có thể hoán đổi não như trong truyện Chim lửa, A và B làm một cuộc đổi não. Não của A ghép vào người B, não B ghép vào người A. Kịch bản mà ai cũng hình dung ra trong đầu là khi tỉnh dậy, A sẽ thấy mình trong xác B, và B thấy mình trong xác A. Ở đây chúng ta đang bỏ qua cái "linh hồn", kiểu tráo đổi hồn phách này nọ như kiểu hồn Trương Ba da hàng thịt. Đó là chúng ta đang mặc định áp dụng thuyết "não tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng áp vào trường hợp tách não như của Dennett, ta mới thấy rõ ràng thuyết này hơi kỳ. Theo như Dennett, thì ta thấy mình có vẻ ở trong cái xác không não thì đúng hơn, nghĩa là theo cái thuyết "thân tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng thuyết này khi áp dụng vào trường hợp ghép não lại bị kỳ cục, thân người B chứa não người A sẽ tự nhận mình là A (theo não) chứ không phải người B (theo thân).

Như vậy, có thể cả hai giả thuyết 1 và 2 đều có vấn đề. Tôi nghĩ vấn đề nằm ở ý niệm "ở đây". Khi nói "tôi ở đây" nghĩa là tôi tương tác với môi trường xung quanh thông qua các giác quan (thọ tưởng hành thức gì đó). Nói một kiểu rất sáo rỗng (tôi thấy sáo) là ý thức về thực tại có được do não tương tác với giác quan. Đây có lẽ là một kiểu chỉnh sửa cho thuyết "não". Trong trường hợp ghép não, rõ ràng não A có ý thức rằng nó đang ở trong cơ thể B là nhờ nó tương tác với các giác quan của B. Trong trường hợp Dennett, rõ ràng não có ý thức nó ở trong cơ thể không não là nhờ nó các giác quan báo với nó qua sóng điện từ.

__________________

Ê, nhưng những trường hợp trên đều là giả tưởng. Giả tưởng nghĩa là tất cả những cái như là não A thấy mình trong xác B đều là kịch bản tưởng tượng. Dù nghe có đúng hay tất lẽ thế nào thì dù sao cũng chỉ là giả tưởng. Biết đâu được nếu một ngày người ta ghép não được, như là ghép tim hiện nay vậy, ông B sau khi ghép tim ông A vẫn tự nhận mình là B, thì khi ghép não ông A sẽ vận tự nhận mình là B. Não có gì đặc biệt hơn toàn bộ phần còn lại của cơ thể con người để mà cho rằng nó chứa đựng cái gọi là "tôi". Người ta cho rằng não chứa đựng ký ức của con người, mà ký ức (phần nào) quy định cái tự nhận là "tôi".

Sau đây là một thí nghiệm giả tưởng nữa của Stephen Law. Giả sử có một cái máy, tôi bước vào hộp 1, nhấn nút, toàn bộ thông tin về từng nguyên tử cấu tạo nên cơ thể tôi sẽ được chuyển sang hộp 2 để tái tạo lại một bản sao y chang con người tôi, và cơ thể ở hộp 1 sẽ bị phân rã hoàn toàn. Chúng ta không xét về mặt cơ học lượng tử phức tạp này nọ rằng liệu thông tin có chính xác không hay là sẽ có sai số và vì vậy, bản sao có thực sự giống không, ở đây ta giả sử bản sao giống y hệt. Nghĩa là bản sao A' của ông A có ký ức y hệt, tư duy y hệt bản gốc ông A. Vậy có thể nào xem như ông A đã được "dịch chuyển" tức thời từ hộp 1 sang hộp 2 không? Vậy người bước ra từ hộp 2 có thể nào xem là ông A không, hay chỉ là một bản sao A'? Nếu A' suy nghĩ và có ký ức giống hệt A, vậy A' có tự nhận mình là A không? Nếu tôi là A', tôi sẽ nhớ mình đã đứng ở hộp 1 vài giây trước, nhấn nút và biến sang hộp 2, vì não (ký ức) của tôi được tái tạo giống hoàn toàn, nhưng tôi có dám nói mình chính là "tôi" không?

Lại tiếp tục giả sử có một trục trặc gì đó với cái máy, sau khi bấm nút, tôi trong hộp 1 không biến mất, nhưng tôi trong hộp 2 vẫn được tạo ra. Khi đó, bước ra khỏi hộp 1 là tôi, còn bước ra khỏi hộp 2 có phải là "tôi" không? Vậy tôi ở đâu? Có thể nào cả hai đều là tôi không?

_________________

Mấy hôm gần đây tôi bỗng tập nhìn thực tại theo kiểu một chuỗi continuum. Continuum là một chuỗi liên tục. Hãy hình dung một bộ phim, thực chất nó là một chuỗi những hình ảnh ngắt quãng được xếp liên tục nhau, 24 hình một giây.

Bụt dạy ta là tổng thể của năm cái hợp lại: sắc thọ tưởng hành thức. Năm yếu tố, một cái sắc là thân xác vật lý, bốn cái kia là thuộc tâm (lý). Năm cái này hợp lại gây ra cái gọi là "tôi", ngoài năm cái ra, không tìm được tôi ở đâu cả.

Khi bơi trong hồ tôi lại nghĩ đến những lát cắt ngắt quãng, ở tại mỗi điểm của thời gian, tất cả những nguyên tử trong tôi, lẫn những nguyên tử trong hồ bơi, đều có một giá trị tọa độ kỳ vọng nhất định. Các giá trị ấy, ở mỗi thời điểm là mỗi khác. Ứng với mỗi cái "sắc", tôi lại được khuyến mãi thêm bốn cái "thọ tưởng hành thức" đi kèm.

Tôi cũng nghĩ đến dòng nghiệp như một sợi chỉ, hay một vector, để khi năm uẩn tạo nên ta bị hoại rữa, năm uẩn khác lại tạo ra. Như mộng huyễn bào ảnh, như lộ, diệc như điện. Chuỗi continuum tiếp tục khi ta chết đi. Năm uẩn mới lại được tạo ra ở từng lát cắt không-thời gian khác. Không thể nói là "tôi" tái sinh, mà là dòng nghiệp vẫn tuôn chảy.




Bài luận Tôi ở đâu? của Daniel Dennett:
www.lehigh.edu/~mhb0/Dennett-WhereAmI.pdf‎

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Đóa hồng có tên




Quả thật, "Tên của đóa hồng" là một bản dịch cực kỳ công phu của ông Lê Chu Cầu. Umberto Eco viết nên một cuốn sách đồ sộ, còn ông Chu Cầu hẳn cũng phải lao động rất mệt mỏi để chuyển cuốn sách tiếng Tây sang thành một bản Việt dịch tuyệt hảo.

Là một học giả semiotics (dịch là ký hiệu học chăng? tôi thấy hơi điêu) hàng đầu thế giới, cuốn tiểu thuyết đầu tay của Eco mang một tầm vóc (theo tôi là) lớn hơn so với những kiến thức về ký hiệu học giải trí của Robert Langdon trong truyện của Dan Brown (Langdon được miêu tả là giáo sư về symbology: cái quỷ này mới là ký hiệu học nè). Quyển sách thực sự khiến tôi choáng, không biết diễn tả thế nào, nhưng không phải choáng theo cái kiểu hồi nhỏ dại đọc những cuốn sách đồ sộ mà không hiểu gì hết, bất khả tri giác. Cảm giác choáng giống như kiểu vừa phải vật lộn với những ngôn từ, tranh luận thần học liên miên, vừa để ý và tận hưởng những liên tưởng, tưởng tượng được từ những cái semiosis đem lại. Ô kê, ngừng vấn đề này lại ở đây, tốt nhất là tôi không nên múa rìu nữa, tôi chả có học hành, nghiên cứu gì về ba cái vụ này, ngay cả chữ semiosis tôi còn không biết dịch như thế nào. Tóm lại, ý tôi muốn nói là nếu mà so với Eco thì truyện của Dan Brown đọc giải trí giống như đọc Đôrêmon vậy*.

Ông Lê Chu Cầu đã tỉ mỉ dùng cả 3 bản dịch: nguyên gốc tiếng Ý, bản dịch tiếng Đức vừa dịch vừa phóng túng chế thêm, và bản dịch tiếng Anh sát nhất nhưng sứt sẹo cắt bỏ lung tung. Trong quá trình đọc cuốn sách, tôi nghiệm ra quan niệm cho rằng bản dịch tiếng Anh luôn là bản dịch chuẩn, tối thượng, kinh điển, canonical... là một quan niệm ấu trĩ và sai lầm. Ví dụ chính là cuốn này, bản dịch của William Weaver lược bỏ tùm lum tà la, được ông Cầu đánh dấu bằng những dấu ngoặc vuông [] trong bản Việt dịch. Cả bản tiếng Ý cũng có một lỗi về logic, có lẽ là lỗi biên tập viên. Ông Cầu phát hiện, chú lại, so sánh rằng bản Anh dịch theo bản Ý nên dịch sai y chang, còn bản Đức chỉnh sửa lại nên diễn đạt đúng về mặt logic.

Ông Cầu cũng tẩn mẩn chú giải đường hoàng từng tích Thánh Kinh và tích thần thoại, cổ tích Tây đầy đủ. Thiển nghĩ ai cũng hiểu rằng đọc sách Tây mà có chú thích tích tiếc đầy đủ cũng thú vị y hệt đọc Truyện Kiều chú đủ tích Tàu, thế nên tôi chẳng cần nói thêm. Ngoài vụ này, ông Cầu cũng đã biên phụ họa chung với Eco về lịch sử Tây thời Trung Cổ (thứ mà đối với dân không chuyên như tôi phần nhiều mù mờ). Nhiều phần ông biên rất hay và thú vị, ví dụ như nhờ ông mà tôi biết được Tòa thánh có vụ bán giấy xá tội sẵn, kiểu như vé giữ chỗ thiên đường hay vé bảo kê khỏi xuống Hỏa ngục, để lấy tiền xây Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô ở Vatican. Chính vụ này là một trong những giọt nước tràn ly khiến Martin Luther tức quá chống lại Tòa thánh.

Dưới đây tôi sẽ ngừng ca tụng ông Eco, ông Cầu và bản dịch của ông, để mà biên lại vài chỗ tôi rút tỉa trong quá trình đọc sách:

1. Trang 56: ông Cầu dịch đoạn miêu tả hình ảnh 24 vị niên lão ngồi dưới chân Chúa Trời trên cánh cổng tu viện có dùng chữ "đội mão triều thiên". Tôi đoán có lẽ chữ "mão triều thiên" là dịch từ cái tiara. Công giáo ở Việt Nam (hay Wiki Việt) dịch cái mão Giáo hoàng đội là "mão triều thiên ba tầng", dùng nhiều trở thành quen luôn. Việc ông Cầu dịch vậy nghĩ cũng chẳng có gì sai. Chẳng qua tôi sực nhớ tới "Mão triều thiên, Mão triều thiên / Ôi hoài vọng hoa niên" của Văn Cao với cơn sốt "Ngàn năm áo mũ" dạo này nên ngứa miệng nói chơi thôi. Tôi tra wiki tiếp thì biết TQ gọi cái papal tiara là Tam trùng miện và Nhật thì gọi là Giáo hoàng quan. Nói cho ra nhẽ thì cách gọi "mão triều thiên" là cách gọi kiểu lấy cái mình có để gọi cái chưa có trong tiếng Việt, nhưng truy tới gốc thì nó không chính xác. Nếu tôi, tôi sẽ dịch giản dị là "đội miện".

2. Trang 138: thầy William nói với Adso về việc người ta thời này (thời Trung cổ) cứ phải khăng khăng củng số niềm tin nơi người dân chất phác bằng cách suốt ngày đi rao giảng về nỗi đau khổ của Chúa Giêsu, của Đức mẹ, và đặc biệt là rao giảng về những đày ải nơi địa ngục. Tôi bất chợt thấy tình cảnh của châu Âu một thời cũng y hệt bên đạo Bụt ở châu Á trung đại, khi mà những quan niệm về địa ngục cũng xuất hiện và lan tỏa đầy rẫy trong dân gian. Bụt có giảng về phương tiện, rằng với từng loại chúng sinh có từng cách thức khác nhau để mà parasamgate (vượt qua bờ kia hoàn toàn), đạt cứu cánh cần đạt. Tôi nghĩ địa ngục cũng là một loại phương tiện để giáo dục một loại chúng sinh nào đó về đạo đức học Phật giáo. Tuy thế, cần phải xét kỹ lưỡng xem nó có liễu nghĩa hay không, có thỏa đủ ba cái ấn không, trước khi lạm dụng nó, in thành poster cỡ bự treo đầy tường đầy cổng chùa chiền để hù dọa người ta.
Thôi, tôi không nhiều lời về vụ này nữa. Lạc đề rồi.

3. Trang 430: ông Cầu chú về Hector, Achilles, Agamemnon và Priam, đụng trúng chỗ nên tôi ngứa miệng thôi. Ông chú thích sai bảo rằng đây là các nhân vật trong Odyssey của Homer. Thực ra trong Odyssey còn có mỗi Agamemnon thôi. Đúng ra phải nói rằng đây là các nhân vật trong Iliad.

4. Trang 475 chép lại đoạn trong phần hát bài thánh ca Dies irae (Ngày phán xét) và trang 525 chép lại đoạn Nuốt cuốn sách nhỏ.
Cả hai đoạn này đều quen thuộc với tôi. Phần lời Dies irae tiếng Latin tôi nghe và hát đi hát lại tới thuộc từ Lacrimosa trong các bản Requiem. Tôi lại cũng nhớ tới phần Dies irae trong Requiem của Verdi, phần nhạc dữ dội rất kinh điển, do Abbado chỉ huy:
Đoạn Nuốt cuốn sách nhỏ thì lại cũng rất quen thuộc với tôi hồi đọc Khải huyền mấy năm trước.

Tự dưng gặp lại những dữ liệu quen thuộc, hẳn trong lòng phải bồi hồi, thêm phần thú vị và đẻ ra nhiều semiosis khác, chẳng phải ru?

5. Và cuối cùng, trang 537, thầy William nói với cậu chủng sinh Adso những lời cuối cùng của sách: "Chân lý duy nhất hữu ích là những công cụ; hãy quẳng chúng đi sau khi đạt mục đích". Tôi nghe thấy ở đây như một lời đồng vọng với dụ ngôn về cái bè của Bụt: Pháp của tôi dạy cũng giống chiếc bè, qua sông rồi thì bỏ lại ở bến, chứ vác theo sau lưng làm gì.

Quỷ không phải Satan. Quỷ chính là tính kiêu căng của tinh thần, là đức tin không chút mỉm cười, là sự thật chẳng hề bợn hoài nghi. Quỷ tàn nhẫn vì nó biết nó đi đâu, và khi đi nó luôn quay về nơi nó xuất phát. Huynh chính là Quỷ, và huynh sống trong bóng tối giống như Quỷ.

(Umberto Eco - Tên của đóa hồng, Lê Chu Cầu dịch)

_______________________


*Để khỏi bị chụp mũ, tôi cũng xin phép nói luôn là tôi không hề có ý chê truyện Dan Brown. Tôi cũng khoái bác Đen Nâu này lắm. Hồi tôi chê cuốn Kẻ trộm sách đọc nhây nhây, không hay bằng Dan Brown, tôi đã bị ném đá, chụp mũ nhiều rồi.

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Bảy mươi lăm lời mỹ tán thần Ra


Kính dâng lạy ngài, ơi thần Ra, thần Sư Tử, thần Mèo chí tôn, đấng Phục Cừu của các thần và Phán Quan toàn thế, Tổng soái trong các đấng Minh quân và Thống lĩnh của Chu kỳ Thần thánh; thành kính cúi lạy Ngài trong thân xác thần Mèo chí tôn!

trích sách Bảy mươi lăm lời mỹ tán thần Ra, khoảng năm 1700 trước CN.

Hình trong cuốn sách này:


Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Buddhist Ethics - Đạo đức học Phật giáo - Một dẫn nhập ngắn



Tôi vừa đọc xong quyển "Đạo đức học Phật giáo - Một dẫn nhập ngắn" (Buddhist Ethics - A very short introduction) của Damien Keown. Oxford vừa gửi sách tới trả công cho tôi thì tôi trông thấy thông tin NXB Tri Thức sắp ra bản tiếng Việt. Thế nên nhân tiện quảng cáo luôn cho Tri thức: http://www.nxbtrithuc.com.vn/sach-tri-thuc/sach-sap-xuat-ban/864-dao-duc-hoc-phat-giao

Tôi đã từng viết về cuốn dẫn nhập kia của ông Keown, mời xem ở đây, hehe.

Lần này chắc tôi không viết một bài dài như vậy cho cuốn này được. Nhưng nói chung cách tiếp cận của ông Keown trong cuốn này vẫn rất thú vị. Vốn dĩ là một cuốn Dẫn nhập, sau khi tóm lại vài ý chính về đạo Phật, ông nói sơ lược về nền luân lý học / đạo đức học (nghĩa là triết học về đạo đức) của phương Tây: việc bộ môn Ethics này được chia làm 3 phân môn: đạo đức học mô tả, đạo đức học chuẩn tắc / quy phạm và metaethics, rồi nói lại về các lý thuyết đạo đức học tiêu biểu ở phương tây của Aristotles, Kant và John Stuart Mill. Nói một thôi một hồi ông bắt đầu vào việc so sánh vài khía cạnh trong nền đạo đức Phật giáo và phân loại sắp đặt nền đạo đức này vào các lý thuyết của Tây.

Rồi trước khi phân tích từng khía cạnh, ông Keown nêu ra những quy tắc hệ thống khi "xét duyệt" những ý tưởng được cho là thể hiện quan điểm của Phật giáo về các vấn đề đạo đức / luân lý. Ví dụ như: (i) quan điểm phải được chép trong kinh điển Phật giáo rõ ràng, (ii) phải được thể hiện trong các văn bản phi-kinh điển hoặc văn bản diễn giải, vân vân...

Sau đó là tới phần phân tích từng khía cạnh luân lý. Nếu hồi nãy bạn có bấm vô link tôi quảng cáo giùm Nxb Tri thức thì chắc cũng đọc được các khía cạnh đó. Ông Keown trình bày, phân tích, so sánh và nhận định quan điểm của Phật giáo lần lượt về:
i. Thú vật và Môi trường
ii. Tính dục (ở một khía cạnh nào đó còn nói về Nữ quyền và Misogynism)
iii. Chiến tranh và Chủ nghĩa Khủng bố (hay còn nói về bất bạo động, bất hại, về chiến tranh chính nghĩa): Chương này có một ý rất hay về sự khác biệt giữa violence và force. Violence bao hàm sân giận, trong khi force trung tính hơn rất nhiều. Nó làm tôi nghĩ tới việc muốn làm quay bánh xe Pháp cũng cần phải có lực. Lực / Sức mạnh không mang nghĩa bạo động.
iv. Vấn đề phá thai
v. Suicide and Euthanasia (bản tiếng Việt của Tri thức sẽ dịch là Tự tử và Cái chết tự nguyện): bàn về cái chết của ngài Thích Quảng Đức trên đường phố Sài Gòn, có một đoạn trích trong cuốn "Hoa sen trong biển lửa" của thầy Nhất Hạnh. Đây là một chương rất hay (ơ, thực ra chương nào tôi thấy cũng hay cả).
vi. Cloning (bản tiếng Việt sắp ra dịch là Sinh sản vô tính, nhưng cá nhân tôi nghĩ cụm "Nhân bản vô tính" sẽ hợp hơn rất nhiều, vì ở đây không chỉ gói gọn trong việc clone nhằm mục đích sinh sản).








Trong phần phá thai có nói về tục Mizuko Kuyoo của người Nhật làm chay cho đứa trẻ bị từ bỏ. Đứa trẻ được gọi là thủy tử (con nước - mizuko). Chữ con nước gần với khái niệm đứa trẻ còn trong trứng nước trong tiếng Việt. Đứa trẻ được cung dưỡng (kuyoo) dưới hình tượng Bồ tát Địa tạng cùng với nhiều đồ chơi với niềm tin rằng những đứa trẻ chưa ra đời sẽ trở lại đâu đó ngồi chơi trên bờ nước tiếp tục chờ đản sinh. Tới khi tối trời, lúc gió lạnh nổi lên, Bồ tát Địa tạng sẽ tới và che chở cho bọn trẻ bằng áo cà sa của Ngài, lắc những cái vòng leng keng trên thiền trượng của ngài và ru bọn trẻ ngủ.

Ông Keown chép lại một bài hát thường hay hát trong lễ chay cho thủy tử. Tôi không tìm ra bản gốc bằng tiếng Nhật hay gì cả. Dưới đây tôi tạm dịch từ tiếng Anh của ông Keown.





A hymn to Jizō often used in the mizuko kuyō liturgy
Bài hát tụng Địa tạng vương Bồ tát thường được cử trong lễ cúng thủy tử

Be not afraid, little dear ones,
You were so little to come here,
All the long journey to Meido!
(Đừng sợ, này hài tử,
Đường tới Minh Thổ còn dài
Mà con còn bé bỏng biết mấy!)

I will be Father and Mother,
Father and Mother and Playmate,
To all the children in Meido!
(Ta sẽ làm Cha làm Mẹ con
Làm Cha, làm Mẹ và làm Bạn chơi cùng
Với tất cả hài tử trong cõi Minh Thổ.)

Then he caresses them kindly,
Folding his shining robes around them,
Lifting the smallest and frailest
Into his bosom, and holding
His staff for the stumblers to clutch.
(Rồi Ngài vuốt ve các con thật dịu dàng
Gấp nếp quang y che chở các con
Ngài bồng đứa nhỏ nhất yếu nhất
Đặt vào lòng Ngài và giơ thiền trượng
Cho những đứa trẻ bất hạnh đưa tay bắt lấy.)

To his long sleeves cling the infants,
Smile in response to his smiling,
Glad to his beauteous compassion.
(Các hài tử bám lấy tay áo Bồ tát
Cười cùng với Ngài
Hân hoan trong niềm từ bi đại hạnh.)

__________________________________

Minh Thổ (Meido) chỉ là cách nói nhẹ nhàng hơn để chỉ Địa ngục.


Nói chung tôi thấy cuốn sách này vẫn có khuyết điểm đó là do nó vốn chỉ là một cuốn Dẫn nhập, tôi đọc xong vẫn thấy chưa đã. Nếu muốn đã chắc phải tìm những cuốn bự hơn. Thêm nữa, như ông Keown nhận xét rằng ổng chủ yếu nghiên cứu về Theravada, tôi thấy cuốn này vẫn chưa đề cập nhiều tới vài quan điểm từ góc nhìn Đại thừa. Thêm nữa, ông Keown (hoặc ai đó) cũng có nói đâu đó rằng vẫn phải xem xét về sự hòa trộn giữa Phật giáo và các nguyên lý văn hóa bản địa. Tuy trong sách có bàn về vài vấn đề (ví dụ chiến tranh chính nghĩa) từ nhiều góc nhìn văn hóa (dẫn chứng về cuộc chiến tranh ở Tích Lan, rồi vụ vua Asoka ở Ấn Độ, rồi các giáo phái Thiền tông Nhật trong Thế chiến II), nhưng tôi vẫn cảm thấy vẫn chưa nhiều. Đó là lý do tôi nói "chưa đã".

Tôi hy vọng Nxb Tri thức sẽ có một bản Việt dịch thật hay của cuốn Dẫn nhập này.

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

Cái đầu kia nó gắn vô thứ gì?

- Cái máy dấm dớ này gắn vào cái đồ quỷ gì mà bay lên trời được vậy? - bà nội Josephine lầm bầm.
- Dạ thưa bà - ông Wonka nói - cái này không còn là cái thang máy bình thường nữa. Thang máy thường thì chỉ chạy lên chạy xuống ở trong nhà thôi. Nhưng mà giờ thì cái này đang bay lên trời, nó trở thành CÁI THANG MÁY BỰ BẰNG KÍNH.
- Vậy cái gì kéo nó lên? - bà nội Josephine hỏi.
- Cái móc ở trên trời. - ông Woka đáp.
- Thật à? Tôi rất ngạc nhiên đấy! - bà nội Josephine nói.
- Thưa bà - ông Wonka nói - bà mới lên sàn thôi. Nếu bà đi với tụi tôi một lúc nữa, chẳng còn gì sẽ làm bà ngạc nhiên nữa.
- Mấy cái đồ móc trên trời đó - bà nội Josephine nói - Một đầu nó gắn vô cái đồ dấm dớ này, phải vậy hông?
- Đúng rồi - ông Wonka đáp.
- Vậy cái đầu kia nó gắn vô cái thứ gì? - bà nội Josephine nói.
- Càng ngày - ông Wonka liền nói - tôi thấy tai tôi càng điếc. Lát mình về nhớ nhắc tôi gọi điện cho bác sĩ khám tai nha.

(Roald Dahl - Charlie and the Great Glass Elevator - QH dịch)

__________________

Có một đoạn nhỏ này mà tôi với ông Bruce cười nguyên buổi tối. Cái từ skyhooks phát ra đột ngột từ miệng ông Wonka, đọc bằng tiếng Anh, có sức gây cười rất lớn. Rồi đoạn ông Wonka bó tay không biết trả lời câu hỏi kia như thế nào bèn giả điếc nữa. Tôi đọc trong đầu câu "You amaze me" của bà Josephine bằng cái giọng lè nhè của mấy bà già người Anh thân thiện hay gặp lúc đứng chờ xe bus, thấy mới thực tức cười. Mấy bà già người Anh ở trạm xe bus rất hay hỏi han cháu ơi biết chừng nào xe bus tới hông, bữa ni trời đẹp quá ha, hôm qua mưa suốt thiệt là chán, cháu học ở đại học phải hông, ngành gì vậy, con bà hồi đó cũng học ở đó đó, giờ nó làm trên Luân Đôn, cháu ơi dòm giùm bà cái xe nào đang tới vậy, cháu ơi vân va vân vân...

Ông Bruce bảo ổng sẽ học trò giả điếc của ông Wonka. Ổng kể hôm bữa vô nghe hòa nhạc ở trong trường có ông kia ngồi kế bên hỏi ổng là ổng có học nhạc không. Ông Bruce liền bảo có, thế là ông kia bảo là ổng hỏi một câu được hông. Ông Bruce cứ tưởng là ổng hỏi câu gì hoành tráng lắm. Ai dè ông kia hỏi tại sao trên đàn piano, giữa nốt Mi với nốt Fa và giữa nốt Si với nốt Đô lại không có phím màu đen. Ông Bruce bảo tại vì trong âm giai, từ nốt Mi lên nốt Fa và nốt Si lên nốt Đô chỉ có nửa cung thôi. Ông kia lại hỏi nhưng mà tại sao. Ông Bruce: nửa cung thì làm gì có phím đen xen vào được. Ông kia lại vẫn hỏi, nhưng mà tại sao lại vậy. Ông Bruce bảo lúc đó ổng mà có trò giả điếc như Willy Wonka ổng sẽ bảo tai tui càng ngày càng điếc, lát nhớ nhắc tui đi bác sĩ khám tai nha.

Đúng là những cuốn sách như thế này, phải đọc đi đọc lại ở nhiều giai đoạn trong cuộc đời của chính mình. Ông Bruce bảo, mỗi lần đọc lại mấy cuốn như thế này, nó như là một cuốn sách mới vậy, mới nhưng mà vẫn quen thuộc lắm.

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Nỗi lòng

Còn lỗi lầm thì vẫn cứ phất phơ trong gió
QH

Tôi phát hiện việc Phương Nam ra cuốn Kokoro của Sōseki vào mùa hè năm nay (hôm nay là ngày chót của năm 2012 nên tôi vẫn gọi là năm nay) trên giá sách của cái nhà sách Phương Nam thanh nhã nằm kế đại học Dược gần Sở Thú kêu bằng cái tên mĩ miều Thư quán Sinh viên. Cái tựa đập vào mắt tối khiến tôi không thể ngớt trầm trồ, ai mà lại có thể dịch cái tựa tiếng Nhật của Sōseki ra hay tới như vậy. Chữ Tâm (心 kokoro) dịch thành cái tựa tiếng Việt "Nỗi lòng". Tôi lấy làm thích thú vô cùng.

(Cái tựa tiếng Nhật in ở phần thông tin phía trong cuốn sách ghi đầy đủ là Kokoro: Sensei no Isho - Nỗi lòng: Di thư của Tiên sinh. Mặc dầu có tựa đủ đầy như vậy, nhưng thường người quan tâm tới Sōseki biết cuốn này dưới tên Kokoro hơn. Bản tiếng Anh của Tuttle để nguyên là Kokoro, hình như tôi cũng đã thấy có bản dịch ra là The Heart.)

Đó là một bản dịch ở miền Nam từ trước năm 1975 của hai ông Đỗ Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh. Ông Đỗ Khánh Hoan tôi đã từng biết qua tên nhờ bản dịch "Lời dâng" (Tagore) của ông. Hình như tôi cũng có từng đọc một bản dịch nữa của một trong hai ông này cuốn "Tiếng sóng" của Mishima cách đây vài năm. Không chỉ cái tựa mà cả bản dịch cũng làm tôi rất "đẹp lòng". Đó là bản dịch từ tiếng Nhật, ở miền Nam trước 1975 nên hàng lô hàng lốc những từ ngữ nay ít còn dùng, nhất là từ Hán Việt, được phô bày ra trước mắt tôi, như vừa được đào bới từ đâu lên vậy. Chữ "đẹp lòng" lần cuối cùng tôi thấy được dùng là trong cuốn Kinh Thánh (có ai đó bảo cuốn Kinh Thánh như là một kho tàng bảo lưu từ Hán Việt cổ rất nhiều trong đó), giờ lại thấy trong cuốn sách này.

Tôi đã đọc 3 cuốn của Sōseki, "Mộng thập dạ" (Mười đêm mộng), "Gối đầu lên cỏ" và cuốn "Nỗi lòng". Đây là cuốn tôi thích nhất, rồi tới "Mười đêm mộng". Có bài điểm sách trên mạng viết rằng cuốn sách này là cuốn sách về cái chết và nỗi cô đơn. Nỗi cô đơn kéo dài trong cuốt hành trình chiêm nghiệm bản thân, rồi cái chết là điểm đến cuối cùng. Tôi thấy lời văn và cách phân tích trong bài điểm sách đó rất hay, nhưng đối với tôi, nó vô hình trung hạ thấp tầm vóc của cuốn sách này xuống, hạ thấp Sōseki xuống ngàng hàng với nhiều cuốn sách nhan nhản hiện giờ, cứ suốt ngày nỗi cô đơn của con người trong thế giới hiện đại, quẫn bách, lạc lõng, bế tắc, tìm đến cái chết như một sự giải thoát, ối giồi ôi yếm thế, ối giồi ôi nổi loạn, vân vẩn vân vân.

Đối với tôi, Sōseki che giấu những gì ông muốn nói xuyên suốt cả quyển sách. Tới tận những chương cuối cùng, người ta mới bỗng nhìn ra ông đang muốn nói về điều gì. Ông muốn kể về một, chỉ một thôi, thân phận của một con người. Tôi không nghĩ ông muốn lôi nhân vật Tiên sinh ra làm tiêu biểu cho cả một thế hệ của mình, thế hệ mà những giá trị của đất nước Nhật Bản bỗng trở nên đổi khác vào thời Minh Trị. Ông kể một câu chuyện đời của Tiên sinh, nổi bật trên đó là tội lỗi. Tôi suy nghĩ về việc liệu có nên gọi lầm lỗi của Tiên sinh là tội ác, cái ác thì càng không phải. Chỉ là tội lỗi thôi. Tội lỗi, không phải nỗi cô đơn, mới là thứ ám ảnh Tiên sinh suốt phần đời còn lại, làm ông đau khổ khi nhận ra rốt cục mình không khác gì những con người đã lường gạt mình, những con người mà mình căm ghét khinh khi. Cô đơn cũng chỉ là một phần của câu chuyện, Tiên sinh chọn lấy sự cô đơn vì tình yêu dành cho người vợ. Ông không bị đẩy vào chốn cô đơn với hai tay trói chặt.

Già nửa cuốn sách, tôi mới cảm thấy được lý do Sōseki đặt tựa cuốn sách này bằng chữ Tâm (mà như đã nói ở trên được dịch ra rất hay thành Nỗi lòng). Tôi đọc được những câu trong bức di thư mà Tiên sinh gửi cho nhân vật Tôi:

Nhưng bây giờ tư tay tôi, tôi sắp sửa moi móc, mổ phanh trái tim tôi ra và ấn đầu chú xuống vũng máu chan hòa. Và nếu khi tim tôi ngừng đập mà có được một cuộc đời mới nảy sinh trong lồng ngực chú, thực tôi mãn nguyện vô cùng.

___________________

Sōseki Natsume - cái băng màu đen là băng tang Thiên Hoàng Minh Trị.

Như đã được viết nhiều chỗ khác, trong lời tựa cuốn sách lẫn vài bài điểm sách trên mạng, cuốn sách của Sōseki có đề cập tới và bàng bạc một không khí của khoảng thời gian Minh Trị Thiên Hoàng băng hà. Có lần tôi đã ngồi trò chuyện với cô Miwa về thời Minh Trị. Tôi bảo đó là một thời kỳ của nước Nhật mà tôi rất thích, phải là một vị hoàng đế rất tuyệt mới có thể dũng cảm cải cách một đất nước theo kiểu như vậy, từ việc theo Tây lịch, việc ăn mặc, nhà cửa cho tới nhiều việc hệ trọng hơn, vĩ mô hơn như chính trị, giáo dục... Cô Miwa bảo thế nhưng đó là một thời kỳ khó khăn, đúng là không dễ cho người Nhật khi phải từ bỏ và thay đổi nhiều thói quen, tập tục của mình.

Đọc xong quyển sách, tôi thấy hiểu hơn phần nào về việc đổi thay những giá trị mà cô Miwa đã nói.

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Một cỗ máy liệu có thể suy nghĩ không? (2)

xem tiếp từ phần (1). Phần này, Emit nói rằng nó thuộc dòng máy Brain-O-Matic. Đây là một chữ nhại từ Automatic (tự động). Gốc từ auto- có thể hiểu là "tự bản thân", gốc -maton/-matos là "hoạt động". Brain-O-Matic hiểu đại khái là hoạt động dựa vào một bộ não.
_____________________________

Nguyên tác: Could a machine think? (The Philosophy Gym - Stephen Law)


Thứ vật liệu đúng
Giờ tới lượt Emit hỏi nếu nó không hiểu, thì liệu có một điều kiện cần nào cao hơn cho sự hiểu này không.

Emit: Vậy thì có cái gì khác giữa tôi và bạn mà bạn thì hiểu còn tôi thì không?
Kimberley: Điều cậu thiếu, theo Searle, là cậu thiếu một thứ chất liệu đúng.
Emit: Chất liệu đúng?
Kimberley: Đúng. Cậu được làm ra từ những loại vật liệu sai. Thật ra Searle không khẳng định rằng máy không thể suy nghĩ. Nói cho cùng thì con người cũng là những cỗ máy theo một cách nào đó thôi. Con người chúng tôi là những cỗ máy sinh học đã tiến hóa một cách tự nhiên. Giờ đây, nếu một cỗ máy sinh học như vậy có thể được phát triển và lắp ghép lại một cách nhân tạo - như làm một cái xe hơi - thì chúng ta sẽ tạo ra được một cỗ máy biết tri giác. Nhưng cậu, Emit, cậu không phải là một cỗ máy sinh học như vậy. Cậu chỉ là một máy điện toán đóng trong một cơ thể bằng nhựa và hợp kim.

Não nhân tạo của Emit
Thí nghiệm tưởng tượng của Searle có vẻ cho thấy không một cái máy được lập trình nào có thể hiểu. Nhưng có hẳn một cỗ máy bằng kim loại, silicon và nhựa như Emit phải là một cái máy như vậy? Không, Emit sẽ giải thích.

Emit: Tôi e rằng tôi phải chỉnh bạn một chút về những gì đang diễn ra bên trong tôi.
Kimberley: Vậy à?
Emit: Ừ. Cái cuốn hướng dẫn đó lỗi thời rồi. Hoàn toàn không có một máy tính xáo trộn ký hiệu gì trong người tôi cả. Thực ra tôi là một máy vi tính thế hệ mới dòng Brain-O-Matic.
Kimberley: Brain-O-Matic?
Emit: Ừ. Trong đầu tôi là một bộ não nhân tạo, bằng kim loại và silicon. Tôi cho rằng bạn cũng biết trong đầu bạn là một bộ não tạo ra bởi hàng tỉ neuron thần kinh quấn vào nhau tạo thành một mạng lưới phức tạp.
Kimberley: Dĩ nhiên tôi biết.
Emit: Trong đầu tôi cũng có một mạng lưới hệt như vậy. Chỉ có điều neuron của tôi không làm bằng chất liệu hữu cơ như bạn mà bằng kim loại và silicon. Mỗi một neuron nhân tạo của tôi được thiết kế để vận hành hệt như một neuron bình thường. Những neuron này cũng được kết nối với nhau hệt như trong não người.
Kimberley: Tôi hiểu rồi.
Emit: Rồi giờ, bộ não hữu cơ của bạn được kết nối với cơ thể bằng một hệ thần kinh.
Kimberley: Đúng vậy. Những xung điện từ các cơ quan thụ cảm của tôi: lưỡi, mũi, tai, mắt và da, đi tới não. Não tôi phản ứng lại bằng những xung điện làm điều khiển các cơ của tôi, giúp cho tôi đi được, nói được.
Emit: Ừ. Não của tôi cũng kết nối với cơ thể tôi y chang như vậy. Và bởi vì nó có một kiến trúc giống y như não người bình thường, não tôi cũng hoạt động y như vậy.
Kimberley: Tôi hiểu rồi. Tôi không biết máy tính dòng Brain-O-Matic đã được phát triển.
Emit: Giờ thì bạn đã biết tôi hoạt động ra sao, suy nghĩ của bạn có thay đổi chút nào không? Bạn có chấp nhận rằng tôi có suy nghĩ và cảm xúc không?
Kimberley: Không. Cậu vẫn được tạo ra từ thứ vật liệu sai. Cậu cần phải có một bộ não làm từ vật liệu hữu cơ như tôi để có thể tri giác thực sự.
Emit: Tôi thấy việc não tôi làm bằng gì chẳng liên quan gì cả. Đằng nào thì cũng chẳng có cái máy xáo ký hiệu nào trong đầu tôi cả.
Kimberley: Hừm. Tôi thấy thế cũng đúng. Cậu không phải là một máy vi tính theo nghĩa đó. Cậu không được lập trình. Vậy tôi cũng cho rằng thí nghiệm của Searle không áp dụng cho cậu. Nhưng đối với tôi cậu vẫn là một cỗ máy.
Emit: Nhưng xin nhớ cho: bạn cũng là một cỗ máy. Thay vì bằng kim loại và silicon, bạn là một cỗ máy bằng thịt.
Kimberley: Nhưng cậu chỉ bắt chước tri giác, trí tuệ và tất cả mọi thứ.
Emit: Lập luận nào của bạn chỉ ra điều đó vậy? Tôi cho rằng bạn sai. Trong thâm tâm tôi cho rằng tôi thực sự hiểu. Tôi biết tôi thực sự có cảm xúc. Tôi không chỉ bắt chước những thứ đó. Nhưng dĩ nhiên, rất khó để chứng minh cho bạn thấy được.
Kimberley: Tôi không nghĩ cậu có thể chứng minh được.
Emit: Đúng. Nhưng vậy thì bạn cũng không thể chứng minh cho tôi thấy bạn có thể tri giác hay có cảm xúc.
Kimberley: Tôi cũng nghĩ là tôi không thể.

Thay thế các neuron của Kimberley
Emit: Tưởng tượng rằng chúng ta từng bước một thay thế các neuron hữu cơ trong não bạn bằng các neuron nhân tạo bằng kim loại và silicon như của tôi. Sau khoảng một năm, bạn sẽ có một bộ não Brain-O-Machine như tôi. Bạn cho rằng điều gì sẽ xảy đến với bạn?
Kimberley: À, càng nhiều neuron nhân tạo được đưa vào, tôi càng từ từ mất khả năng tri giác. Cảm xúc và tư duy của tôi ngày càng cạn dần, cuối cùng bên trong tôi dường như chết, như cậu vậy. Vì neuron nhân tạo của tôi được làm từ thứ vật liệu sai. Một bộ não Brain-O-Matic chỉ là một bộ não bắt chước thôi.
Emit: Nhưng những người xung quanh sẽ không ai để ý thấy điều gì khác biệt bên ngoài của bạn?
Kimberley: Không. Tôi vẫn sẽ cư xử theo cách như cũ, vì những neuron nhân tạo vẫn hoạt động như neuron bình thường.
Emit: Đúng. Nhưng vậy liệu chính bạn có để ý thấy bất kỳ sự suy giảm tri giác hay cảm xúc khi các neuron của bạn được thay thế?
Kimberley: Sao cậu lại hỏi vậy?
Emit: Nếu bạn cảm nhận được tri giác và cảm xúc của bạn suy giảm, có lẽ bạn sẽ nói với mọi người. Bạn sẽ nói đại loại như là: "Ôi trời ơi, điều gì lạ quá đang xảy ra. Mấy tháng nay trí óc tôi hình như suy giảm dần dần."
Kimberley: Tôi hình dung ra tôi sẽ nói như vậy.
Emit: Nhưng bạn sẽ không nói gì cả, vì hành vi bên ngoài của bạn vẫn y như cũ.
Kimberley: Ồ, đúng vậy.
Emit: Theo như vậy thì dù cho tri giác và cảm xúc của bạn suy thoái dần dần, bạn vẫn không hay biết chút nào về sự suy giảm đó.
Kimberley: Ơ. Tôi nghĩ vậy.
Emit: Vậy thì lập luận của tôi đây: Bạn nghĩ rằng bạn cảm thấy bên trong mình, bạn có một thứ gì đó - tri giác, cảm xúc, gì đó - mà tôi, bạn cho rằng là một cái máy, không có. Nhưng xem ra bạn cũng không cảm thấy được cái thứ bên trong đó. Cái thứ gì đó bên trong ma thuật đó thực ra chỉ là một ảo tưởng.
Kimberley: Nhưng tôi chỉ biết rằng tri giác, tư duy, cảm xúc của tôi có gì đó hơn so với thứ được tạo ra bằng cách dán vài mảnh nhựa, kim loại và silicon lại với nhau.

Kimberley nói đúng rằng hầu hết chúng ta nghĩ rằng chúng ta cảm được bên trong mình có một "cái thứ gì đó" ma thuật và huyền bí mà chúng ta chỉ đơn giản biết rằng một đống kim loại, silicon và nhựa không thể nào có được. Nhưng để nhắc cho bạn, chắc gì một đống chất liệu hữu cơ, như một bộ não chẳng hạn, cũng có được "cái thứ gì đó"? Liệu bạn có thể tạo ra ý thức từ mấy tảng thịt không? Vậy thì, những thứ Kimberley thú nhận cho thấy rằng tri giác, hiểu biết, cảm xúc vân vân hoàn toàn phi vật chất.

Nhưng như Emit vừa chỉ ra, "cái thứ gì đó" ma thuật mà Kimberley nghĩ cô cảm được từ bên trong mà không một cái máy nào có thể có được xem ra là một ảo tưởng khi xét trường hợp Emit nêu ra ở trên. Vì nó cho thấy "cái thứ gì đó" bên trong đó là thứ Kimberley không thể cảm được. Tồi tệ hơn, thứ đó cũng không có ảnh hưởng gì tới hành vi cử chỉ bên ngoài của cô. Cô chỉ biết được những ảnh hưởng của tri giác và cảm xúc đến hành vi cử chỉ của mình nên xem ra Kimberley đã lầm. Vậy thì có vẻ, ít nhất là về nguyên tắc, một cái máy không phải hữu cơ cũng có thể có các trạng thái tâm thần như vậy.

Nhưng Kimberley vẫn chưa được thuyết phục là Emit có thể tri giác được.

Kimberley: Rồi, tôi sẽ vui vẻ giả vờ rằng cậu hiểu tôi, vì cậu được thiết kế để hoạt động như vậy. Nhưng cậu vẫn chỉ là một đống kim loại và mạch điện. Con người thực sự đáng được quan tâm và quý mến. Tôi đồng cảm với con người thực. Nhưng tôi không thể đồng cảm với một cỗ máy làm việc nhà tối tân như cậu.

Emit cúi mặt nhìn xuống tấm thảm.

Emit: Tôi vẫn chỉ là một món đồ của bạn sao?
Kimberley: Dĩ nhiên, làm sao tôi có thể làm bạn với một cái máy rửa chén - quét nhà - nấu cơm vân vân...
Emit: Brain-O-Matic chúng tôi cảm thấy bị từ chối thế này là rất buồn.
Kimberley: Ừ. Nhớ nhắc tôi chúc mừng những người đã chế tạo ra cậu đã làm ra một cái máy giả lập cảm xúc rất tuyệt vời. Giờ thì hút bụi cái thảm đi.

Một vẻ tuyệt vọng ánh lên trên mặt Emit.

Emit: Chờ một chút...

Nó đứng im một lúc rồi đổ gục xuống.Một làn khói nhẹ bốc lên từ phía cổ Emit.

Kimberley: Emit? Emit? Giờ thì thành đống sắt vụn rồi...