Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Hiển thị các bài đăng có nhãn dịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2020

Cô nhạn – Đỗ Phủ

Bài thơ chép tặng anh Shouguo về Từ Châu (tháng 12 năm 2019).
Anh bay đi một mình.
Ai là con nhạn lẻ.



孤雁
杜甫
孤雁不飲啄,
飛鳴聲念群。
誰憐一片影,
相失萬重雲。
望盡似猶見,
哀多如更聞。
野鴉無意緒,
鳴噪自紛紛。

Cô nhạn
Đỗ Phủ
Cô nhạn bất ẩm trác, 
Phi minh thanh niệm quần. 
Thuỳ liên nhất phiến ảnh, 
Tương thất vạn trùng vân. 
Vọng tận tự do hiện, 
Ai đa như cánh văn.
 Dã nha vô ý tự, 
Minh táo tự phân phân.

Nhạn lẻ không ăn uống
Bay kêu tiếng nhớ bầy
Thương thay một ảnh nhạn
Lẫn vào ngàn lớp mây
Nhìn mãi như vẫn thấy
Tiếng sầu vẳng bên tai
Bọn quạ hoang vô ý
Oang oang kêu quấy rầy.


Thứ Hai, 9 tháng 12, 2019

Đỗ thuyền bến Dương Tử (Tổ Vịnh)


泊扬子津
祖咏

才入維揚郡,
鄉關此路遥。
林藏初霽雨,
風退欲歸潮。
江火明沙岸,
雲帆碍浦橋。
客衣今正薄,
寒氣近來饒。

Bạc Dương Tử tân 

Tài nhập Duy Dương quận, 
Hương quan thử lộ diêu. 
Lâm tàng sơ tễ vũ, 
Phong thoái dục quy triều. 
Giang hoả minh sa ngạn, 
Vân phàm ngại phổ kiều. 
Khách y kim chính bạc, 
Hàn khí cận lai nhiêu.

Nghĩa:
Vừa tới quận Duy Dương, 
Đường về quê ấy còn xa. 
Rừng che cơn mưa vừa tạnh, 
Gió đẩy con nước sắp rút. 
Lửa trên sông chiếu sáng bờ cát, 
Buồm mây chắn chiếc cầu ở cửa sông. 
Áo khách nay đã mỏng, 
Khí lạnh bỗng về nhiều.


Đỗ thuyền bến Dương Tử
(Tổ Vịnh)

Thuyền vừa vào Duy Dương quận, 
Vẫn còn xa đường tới quê. 
Rừng che cơn mưa vừa tạnh, 
Gió đẩy con nước sắp về. 
Lửa sông rọi sáng bờ cát, 
Buồm mây chắn lối ra đê. 
Áo khách mặc nay đà mỏng, 
Khí lạnh bỗng đến tràn trề.


__________________

Tôi thích hai câu cuối, đọc được 2 câu này trong Nguyễn Trãi quốc âm từ điển của Trần Trọng Dương, dịch bằng 5 chữ hay hơn và sát hơn như thế này:

Áo khách nay đà mỏng
Khí lạnh bỗng về nhiều.

Bản tôi dịch phải bẻ vần cuối thành vần ê, vì không thể tìm được chữ nào có nghĩa là "xa" để dịch chữ diêu mà giữ vần iêu. 

Cặp đối "Rừng che/Gió đẩy" (Lâm tàng/Phong thoái) rất hay.


Khi đi trong trời lạnh, lúc nào cũng có cảm giác tê tái và cô đơn. Đây có thể là bài thơ làm trong một chuyến về quê lúc cuối năm, thời xưa hay thời nay đều có thể cảm được. Thuyền vào bến lúc ban chiều, đường về nhà vẫn còn dằng dặc. Mưa vừa mới tạnh, triều sắp sửa rút, lửa đã thắp sáng dọc bờ cát ở bến tàu, buồm căng chắn cả lối đi dưới chiếc cầu bắc qua cửa sông. Người thời nay không đi thuyền về quê nữa mà đi máy bay transit mấy chặng, vẫn có thể hiểu được cảm giác này. Bến thuyền cũng như cửa ra máy bay lúc nào cũng tấp nập, ồn ào, nhưng người về quê chỉ thấy được cảnh, thấy được "cơn mưa", "ánh lửa", "luồng gió". Người về quê kéo vội manh áo che người vì trời trở lạnh, hoặc ngược lại, nếu đi từ xứ lạnh về xứ nóng thì áo khách nay đà dày quá, bèn vội vã cởi nút ra mà thở.

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2018

xuyên qua ráng chiều


"Lòng đầy thương nhớ
Mắt dõi trông về
Phương trời xa kia
Xuyên qua ráng chiều
Mưa xuân rơi xuống"

Thơ của Fujiwara no Shunzei trong Tân cổ kim tập.

(Omoiamari 
Sonata no sora wo 
Nagamureba 
Kasumi wo wakete 
Harusame zo kuru)

Tranh của Kawase Hasui, Mưa ở Maekawa vùng Tương Châu (Sagami).

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2018

Mua mưa thâu mây tan mệnh bạc

Đi mãi trên tuyết tôi tìm
Một dấu chân em để lại
Khi tay em nắm tay tôi
Băng qua đồng xanh cỏ dại



Trong phim gió có đoạn nói về chuyến đi qua Đức thăm hãng Junkers của ông Jiro và ông bạn bán than. Đoạn này có một cảnh nói về việc Jiro khi đi dạo trong đêm mùa đông với ông bạn thì nghe tiếng nhạc phát ra từ một ngôi nhà bên đường. Bản nhạc đó là một đoạn của liên khúc Winterreise của Schubert. Mình nghĩ bài Winterreise tượng trưng cho cả một phân đoạn phim này. Winterreise là "hành trình mùa đông". Có thể gọi đoạn này là đoạn Hành trình mùa đông của Jiro. Ngay sau đoạn này là cảnh Jiro lại mơ thấy Caproni (cậu thích sống trong thế giới có kim tự tháp hay không có kim tự tháp?), và cảnh lập tức chuyển sang mùa xuân, chấm dứt hành trình mùa đông.

Mình không biết đoạn Winterreise trong phim hát là đoạn nào, vì mình không rành nhạc Schubert và tiếng Đức của mình thì trừ mấy câu vớ vẩn linh tinh tụi trong lab dạy thì mình chẳng biết gì thêm nhiều. Nhưng đại loại là bài này sặc mùi lãng mạn chủ nghĩa thế kỉ 19 của Schubert, kể về một anh có hẹn với người yêu trong mùa đông xong bị cô này gạt, xong anh buồn quá đi lang thang trong mùa đông để tìm người yêu. Có vậy thôi. Một khổ tượng trưng cho liên khúc này mình đã dịch ở đầu bài kìa, quay lại đọc đi.

Hành trình mùa đông của ông Jiro cũng chính là hành trình đi tìm tình yêu của ổng, tức là cái máy bay. Và ổng đã gặp tình yêu của ổng trong giấc mơ, chính trong trời tuyết. Tình yêu của ổng, lúc này chưa mang hình dạng chiếc Zero, đang lao từ trên trời xuống và bốc cháy. Còn mặt Jiro thì đù ra như kiểu không biết chuyện gì đang xảy ra.

Lúc này Jiro chưa gặp lại Naoko, và mặt ổng vẫn còn non và rất đù. Đoạn này liên hệ mật thiết với đoạn Caproni kim tự tháp sau đó, nói về cuộc đời sáng tạo và lời khuyên "mười năm đời sáng tạo của cậu, hãy đổ hết sức lực ra mà làm nhé". Tình yêu của Jiro lúc này chưa thành hình, nó mang hình dáng tượng trưng là cái máy bay giấy, xuất hiện khi Jiro với Caproni đứng trên cánh máy bay của Caproni. Máy bay giấy, nghe quen không, đó chính là cái mà vài cảnh sau đó, Jiro dùng để tán Naoko. Rõ ràng thêm một bằng chứng cho thấy Miyazaki ngấm ngầm muốn nói Naoko chính là cái máy bay của Jiro.

Tình yêu của ổng chết từ lúc ổng còn chưa gặp, từ lúc nó còn chưa có hình dạng cụ thể và ổng còn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Điềm báo quá. Sau này khi nó dần dần thành hình, cụ thể hóa thành hình dạng Naoko và chiếc Zero, thì lại càng nhiều điềm báo cho thấy cả hai tình yêu đều sắp lên đĩa. Naoko thì đóng vai nữ chính truyện Núi thần phiên bản Nhật còn cái Zero thì bay giữa trời hoa anh đào nở tung, như kiểu samurai viết thơ từ thế dưới tán anh đào đang rơi. Về sau đúng là khi mấy chiếc Zero chuẩn bị đi kamikaze, thiếu nhi ra chào tạm biệt còn vẫy hoa anh đào với tặng cành anh đào cho các chiến sĩ đem lên máy bay. Bi thảm quá.

Còn cái phim này thì mệt ghê, càng coi càng phát hiện ra tùm lum thứ.

___________________

Hãy nghe Ru con mùa đông bản cũ của Ái Vân cho đỡ mệt:

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Nào chốn nào chẳng gió xuân

Trong phim Gió, lần cuối cùng ông Jiro gặp Naoko là trước khi ra sân bay để cho bay thử mẫu prototype bay được đầu tiên của chiếc Zero. Trong phim, lúc đó là mùa xuân. Miyazaki cho vẽ rất nhiều hoa anh đào, nhưng lồng ghép rất khéo, mãi mình mới nhận ra được.

Lúc Naoko trốn từ trên núi trở về thì là cuối mùa đông. Lúc làm đám cưới thì đã có anh đào đầu mùa bay lả tả trong gió. Lúc Jiro về nhà gặp vợ lần cuối, tức là cảnh Naoko nói: "Nó nhất định sẽ bay mà. Anh Jiro, thương anh nhiều", là anh đào đã nở rộ cả cây. Lúc chiếc Zero đầu tiên bay lên trời, anh đào đã ở tràn hai bên bờ sông.


Naoko gắn liền với cái máy bay của Jiro. Ông Jiro yêu vợ ổng hơn hay yêu cái máy bay của ổng hơn? Hay là não ổng tự liên hệ hai đối tượng này lại rồi yêu hai cái cùng lúc. Lúc hai người gặp nhau khi đã lớn, ông Jiro chơi máy bay giấy với Naoko, có khi lúc này não ổng đã tự tạo liên kết liên hệ giữa người ổng yêu với cái máy bay.

Ở đoạn cuối, Miyazaki đưa ra một biểu tượng mới: hoa anh đào, để gắn liền cả hai đối tượng: Naoko và máy bay lại. Hoa anh đào tượng trưng cho cái đẹp chóng tàn, cho nỗi u buồn man mác về cái đẹp vô thường, về niềm vui và hạnh phúc vô thường. Nói cách khác thì hoa anh đào ý nói rằng Naoko sắp chết rồi, và cái Zero cũng sắp chết. Ở cảnh trước khi về nhà, ông Jiro nói chuyện với ông bạn chuyên than thở của mình. Ông bạn bán than nói về cái máy bay ném bom của ổng thiết kế ("Tụi mình đâu phải dân bán vũ khí, tụi mình chỉ muốn làm ra máy bay đẹp thôi"). Miyazaki cho vẽ cảnh một phi đội máy bay ném bom đi rải bom ở Trung Quốc bị không lực Trung Hoa Dân Quốc (coi kĩ sẽ thấy có hình bạch nhật thanh thiên trên máy bay tiêm kích) bắn vào bình xăng và nổ tan tành. Cảnh đầu tiên chiếc Zero bay ban đầu ngỡ trái ngược với cảnh nguyên phi đội bị ăn hành trước đó, nhưng lại được trộn lẫn với cảnh Naoko ra đi, và như đã nói, được gắn kết chặt chẽ với hoa anh đào. Sau niềm vui là ngay lập tức tới cảnh ông Jiro đi ra một nghĩa địa máy bay. Trong phim, Naoko không có mộ, chỉ có hàng hàng xác những chiếc Zero mang cờ thái dương nằm chết trong lửa đạn.

Đúng là Naoko chính là cái máy bay của Jiro. Chiện thật buồn. Hay đúng hơn Naoko chính là cái máy bay của Miyazaki.

__________________

Sách Mitsubishi A6M Zero của Osprey viết về vụ thử prototype đầu tiên của chiếc Zero như sau. Ghi ra đây để thấy phim của Miyazaki tuy bịa về ông Jiro và vợ ổng nhưng theo sát thực tế lịch sử về cái máy bay Zero tình yêu đích thực của Miyazaki đến mức nào.

"Mẫu prototype bay được đầu tiên đã được gỡ ra và vận chuyển đến sân bay Kakamigahara bằng xe bò (y hệt trong phim). Sau khi được lắp ghép lại, chiếc máy bay được xét duyệt và kiểm tra sơ bộ lần cuối. Chuyến bay đầu tiên của prototype Zero diễn ra vào ngày 1/4 năm 1940 (chính là giữa mùa xuân sang có hoa anh đào). Thời tiết vào ngày bay thử đầu tiên rất thuận lợi, có gió nhẹ. Sân bay Kakamigahara, nằm ở thành phố Gifu, do Không lực Đế quốc Nhật Bản quản lí, nên chuyến bay thử phải chờ đến khi quân đội tập luyện xong mới được diễn ra. Lúc này, chiếc máy bay được kéo ra và chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến bay thử.

"Phi công chính cho chuyến bay thử là Shima Katsumo [...] Vào lúc 17h30, chiếc A6M1 cất cánh. Phi công thực hiện một loạt các bài kiểm tra tốc độ thấp. Shima Katsumo và Aratani Harumi tường trình lại rằng máy bay A6M1 có cách điều khiển tương tự chiếc A5M, nhưng cả hai phi công đều cảm nhận được rung động rất lớn khi cho máy bay tăng độ cao, và khi động cơ ở trạng thái nghỉ. [...]"

Sau chuyến bay thử đầu, chiếc A6M1 Zero đã được chỉnh sửa lại nhiều lần, cho bay thử suốt một tháng ròng. Rồi mẫu prototype số 2 được đưa ra. Khi bay thử mẫu A6M2, một phi công đã thiệt mạng. Lúc cho bay mẫu thứ 2, ông Jiro thật ngoài đời không có mặt, mà lúc đó đang ở Mitsubishi tại Nagoya. Tiếp tục sau nhiều chỉnh sửa tới prototype 12, cuối tháng 7 năm 1940, thì Không lực Đế quốc mới chấp nhận chiếc A6M, và đặt tên là máy bay Zero.

Tên chiếc Zero là A6M Type 00, rồi gắn kèm số model, như A6M2a chẳng hạn. Ý nghĩa mỗi chữ và số như sau:
- A: dùng để gọi máy bay tiêm kích (chiến đấu cơ) đặt trên mẫu hạm (tiếng Nhật ghi chữ Hán là hạm thượng chiến đấu cơ).
- 6: thế hệ máy bay thứ 6 của Không lực Đế quốc.
- M: Mitsubishi
- Type 00: tiếng Nhật ghi là "linh thức". Linh = 0, thức = type. Đặt theo năm của lịch cũ là năm 2600 (tức năm 1940).

___________________
Tựa đề là thơ Nguyễn Trãi.

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Dạ lai u mộng

Đêm rồi mộng ảo chợt về nhà
Bên song cửa
Đang điểm trang
Nhìn nhau không nói
Chỉ ngàn lệ tuôn tràn
Giá hàng năm ta đến được nơi đau lòng ấy [mộ vợ]
Đêm trăng tỏ
Đồi thông non


Đoạn trên là phần đuôi của bài từ theo điệu Giang thành tử của Tô Thức. Bài có tựa nhỏ là Đêm 20 tháng Giêng ghi lại giấc mộng.

Bài này mình nghĩ là một trong những bài thơ tình cổ buồn nhất của Trung Quốc. Tô Thức viết về giấc mộng gặp lại người vợ chết trẻ của mình. Trong giấc mơ, trở về quê cũ, ông thấy mình đứng bên song cửa xưa. Bên kia song là vợ vẫn đang trang điểm như ngày nào. Bốn mắt nhìn nhau không nói nên lời chỉ có lệ chảy tràn xuống áo (bị nhiễm thập ngũ tòng quân chinh rồi nên có cụm này dùng hoài).

Bài từ còn lời 1, nhưng mình thích lời 2 hơn vì nó thảm hơn. Lời 1 mang tính chất kể lể âm dương đôi ngả.

Tranh Mai Trung Thứ lần trước xem bán đấu giá nhưng tiền kinh quá mua không nổi.

夜來幽夢忽還鄉
小軒窗
正梳妝
相顧無言
惟有淚千行
料得年年腸斷處
明月夜
短松崗

Dạ lai u mộng hốt hoàn hương
Tiểu hiên song
Chính sơ trang
Tương cố vô ngôn
Duy hữu lệ thiên hàng.
Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ
Minh nguyệt dạ
Đoản tùng cương



  
(bản thu cuối cùng của du Pré trước khi mất dần khả năng kéo cello rồi qua đời chính là cái bản nhạc này, bài nhạc nghe như u mộng của César Franck.)

Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2016

Au pays où se fait la guerre



Người em yêu giã từ em ra trận
Đến mảnh đất người ta đang đánh nhau
Này tim em đớn đau vô cùng tận
Dường chỉ em xót lại trên tinh cầu
Phút chia ly, anh hôn em từ biệt
Từ nụ hôn, hồn em ứ đầy môi
Mải ngóng tin, mà anh cứ biền biệt
Hoàng hôn kia đã tắt nắng bên trời
Đỉnh tháp cao, đây một mình em đợi
Anh chưa về, lòng cứ mãi chờ thôi.

Đôi chim cu vẫn còn gù trên mái
Tiếng kêu buồn và da diết khôn nguôi
Dưới tơ liễu, nước bên cầu chảy mãi
Chỉ có em ngồi khóc suốt bên trời
Này tim em như bông hoa nở rộ
Sáng óng lên dưới ánh bạc trăng trôi
Này thân em một mình trong tháp cổ
Anh chưa về, lòng cứ mãi chờ thôi.

Có dáng ai đang trèo lên đỉnh dốc
Phải anh không, người em mãi mong chờ
Chẳng phải anh, mà chỉ là tưởng tượng
Này tờ bồi, này ánh đèn lẻ loi
Ơi gió đêm, đến bên anh nói khẽ
Với em đây, anh hóa chiêm bao rồi
Anh là hoan lạc, anh là nhung nhớ
Bình minh kia đang rạng rỡ bên trời
Và em vẫn một mình trong tháp nhỏ
Anh chưa về, lòng cứ mãi chờ thôi.

Tranh 満月の紅葉にみみずく (Chim cú với lá đỏ dưới trăng tròn) của Hiroshige.

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Kiều hạ xuân ba lục

Mình đang là fan Mai Trung Thứ nên blog mình sắp tới rất có thể sẽ ngập tranh Mai Trung Thứ


傷心橋下春波綠,
曾是驚鴻照影來。
Thương tâm kiều hạ xuân ba lục,
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai.

Đọc thấy hai câu của Lục Du này trong chú thích bản Kiều của ông Nguyễn Thạch Giang, là bản Kiều khoa học nhất mình từng đọc. Google thì ra một loạt ngôn tình trích lấy 5 chữ "kiều hạ xuân ba lục". Đúng là năm chữ này vừa có chất ngôn tình vừa mang chất của một vế haiku.

Bài này dịch ra tiếng Việt nhiều lắm rồi, đây mình dịch ra tiếng Anh:
Heartbroken when I look down the bridge, where the spring waves are still green;
This place once reflected the shadow of a frightened swan [the girl he loves].

_____________________________

Hôm nay (tiếp tục) đi xe bít, mình nhìn thấy một bạn gái. Ngay lúc đó mình chợt có một cảm giác rất Cây Xuân mà mình không thể diễn tả được. Thậm chí mình còn không thấy được mặt bạn kia vì bạn bịt khẩu trang, nhưng mà cảm giác đó hướng về mình nhiều hơn là hướng về bạn. Đột ngột mình thấy mình đang suy nghĩ về những thứ mình đã mất đi, những thứ mình đã đánh đổi suốt 5 năm qua, 5 năm mình xa nhà, để lấy những thứ khác. Lỡ từ lạc bước bước ra. Suốt thời gian bạn ở trên bít mình không thể đọc sách được. Bạn bước xuống xe bít sau mấy nốt nhạc. Việc bạn liên quan và xúc tác thế nào với suy nghĩ của mình, mình vẫn không rõ.

Giống như hồi mình đi thi lớp 10 về (cứ như mấy chục năm trước), hình như lúc đó thi môn cuối, và mình đã biết là mình đậu Năng Khiếu rồi (nên mình không quan tâm lắm nữa). Hôm đó mình cũng đi xe bít, và cũng ngồi đối diện với một gái. Mình cũng đã không rõ mình có quen bạn này không, nhưng mình cứ suy nghĩ rất lung. Lúc đó cảm giác dĩ nhiên hoàn toàn khác. Nhưng giống như bạn kia, bạn này cũng là một kiểu xúc tác thần bí.

_____________________________

Trên lỡ nói haiku thì haiku luôn. Ngữ pháp mình còn đang rất tệ, nên hãy xửa ngử pháp tro mình nhé.

Hashi no shita
Midori shunpa wa
Kari no kage

Dưới cầu
Sóng xuân xanh biếc
Bóng nhạn

(Dùng chữ kari/gan tức là con nhạn vì mình không biết con hồng tiếng Nhật kêu là gì. Chữ 鴻 thì trong tiếng Nhật lại ra cái con nhìn không giống con hồng của tiếng Hán.)

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016

"A Study in Scarlet" nên được dịch thế nào?

Tựa "A Study in Scarlet" của cuốn Sherlock Holmes đầu tiên nên được dịch như thế nào?

Có một bản dịch tiếng Việt đổi luôn tựa đề này thành "Chiếc nhẫn tình cờ", có lẽ do người dịch lúng túng về tựa đề, hoặc cảm thấy nếu dịch tựa đề thì người đọc không hiểu.

Học tiếng Anh qua mức trung cấp, chúng ta sẽ biết rằng "study" không chỉ có nghĩa là "học". Nó có nghĩa sâu hơn "learn", và mang nghĩa là suy ngẫm, nghĩ ngợi về một vấn đề nào đó. 

[Mở link trước khi đọc tiếp: link]




Bài viết ở link trích từ cuốn "East Wind Coming: A Sherlockian Study Book" của Yuichi Hirayama và John Hall, bàn về Sherlock Holmes ở Nhật, nơi có fanbase hùng hậu và lâu đời bậc nhất Á Đông (đơn giản do văn học Anh Victoria có ảnh hưởng rất sớm tới Nhật). Trong bài viết, tác giả cho biết cái tít đã được dịch trong bản tiếng Nhật năm 1931 là "Hiiro no kenkyuu", với hiiro là màu đỏ (hi = lửa, iro = màu), kenkyuu là Hán-Nhật cho "nghiên cứu". Tít này chuyển ra tiếng Việt có thể thành "Nghiên cứu (nghiền ngẫm) về màu đỏ" - cái tít khá vô nghĩa trong tiếng Việt.

Nếu mà tinh ý hơn, sẽ để ý thấy chữ "study" còn vài nghĩa khác. Trong âm nhạc, nó là các bản étude, tức là khúc luyện tập cho người chơi nhạc. Trong hội họa, nó là bản vẽ nháp trước khi họa sĩ cho lên tranh lớn. Theo bài, một vài người dịch tiếng Nhật cũng dùng nghĩa "tranh nháp" để dịch "A Study in Scarlet" thành "Hiiro no shuusaku", với "shuusaku" là "tập tác" = bản nháp. Mặc cho nhiều người tán thành, cộng với một tên nào đó trên wikipedia tiếng Anh cổ xúy cho việc hiểu "study" theo nghĩa "tranh nháp", mình vẫn thấy vụ "Bản nháp màu đỏ" hoàn toàn vô nghĩa nếu xét về nội dung của truyện: chả có bản nháp nào ở đây, cũng chả có màu đỏ gì luôn.

Có lẽ nên trở lại với nghĩa "nghiền ngẫm" của chữ study. Cái tựa thật ra bắt nguồn từ câu nói của Sherlock: "Có môt sợi chỉ đỏ giết người len lỏi trong cuốn len vô sắc của cuộc đời, và nhiệm vụ của chúng ta là gỡ mối nó, cô lập nó và vạch trần từng phân từng khúc cái sợi chỉ đỏ này" (QH dịch). Trong link cũng dẫn ra phân tích của Owen Edwards trong The Oxford Sherlock Holmes, chỉ ra rằng ở ngay đầu truyện, lúc bác sỹ John Watson được giới thiệu đến gặp Sherlock, người bạn giới thiệu đã nhận xét rằng "đây là một con người khác thường. Anh sẽ phải "study" anh ta thật kỹ". Theo mình, study nên được hiểu theo nghĩa "nghiền ngẫm/tìm tòi" như ở đây, John quan sát, tìm hiểu về con người Sherlock; Sherlock quan sát, lần mối cái sợi chỉ đỏ ẩn dụ. 

Trên mạng, một số người cũng đề xuất chữ "vụ án màu đỏ" để dịch tựa này sang tiếng Việt. Trong các bản tiếng Nhật cũng có dịch theo kiểu study thành jiken = "sự kiện" (Hán-Nhật jiken và Hán-Việt "sự kiện" có sắc thái hơi khác nhau, jiken mang nghĩa scandal hơn cái sắc thái trung tính của "sự kiện").

Bài viết trong link cuối cùng đưa ra kết luận rằng cái tựa tiếng Nhật "hiiro no kenkyuu" (nghiên cứu màu đỏ) vẫn là cái tựa hợp nhất (trong tiếng Nhật). Mình không nhận xét về việc người Nhật thích cái tựa này hay có hiểu cái tựa này không, nhưng nếu tiếng Việt dịch theo kiểu này thì lại rõ ràng vô nghĩa. Có lẽ cái tựa tiếng Việt thích hợp nhất mà mình nghĩ ra được phải nên là "Truy tìm sợi chỉ đỏ", một cái tựa rất siêu hình, nhưng (có thể) theo đúng ý của Doyle khi đề cho cuốn Sherlock Holmes đầu tay. 



Pê ét: để tham khảo, bản dịch tiếng Tàu tra trên wiki thấy ghi là "Huyết tự đích nghiên cứu" = "Nghiên cứu những con chữ máu". Hẳn cái tựa này nói về các chữ Rache viết bằng máu trong vụ này. Nhưng cái tựa này dịch sai bét, vì các chữ này không đóng vai trò gì lớn ngoài việc gây hoang mang cho Scotland Yard và Sherlock cũng không bỏ nhiều thời gian coi các chữ này. Suy ra nó không đủ ảnh hưởng để được đưa lên tít.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

Nhà hóa học tổng hợp thì làm gì

Tác giả: Dr. Michael Edmonds
Dịch: QH

___________________________________



Theo kiểu truyền thống thì ở các năm đầu bậc đại học, sinh viên được dạy cho làm các thí nghiệm tổng hợp hữu cơ, tức là đem trộn hai hay nhiều hóa chất lại với nhau trong một khoảng thời gian nhất định, ở các điều kiện nhất định, để tạo ra một hợp chất mới. Sinh viên làm các thí nghiệm này tuân theo "công thức" có trong tài liệu hướng dẫn. Dưới góc nhìn của một người không chuyên thì đúng là tổng hợp hữu cơ kiểu này giông giống như học nấu ăn. Thực tế thì hai việc lại cực kỳ khác xa nhau (không chỉ ở chỗ trong phòng lab hóa học thì người ta không cho phép liếm muỗng như dưới bếp).

Khi sinh viên bắt đầu vào bậc sau đại học, hóa tổng hợp trở thành việc dùng những kiến thức về phản ứng hóa học để tạo ra một hợp chất hoặc một phân tử cụ thể. Lắm khi cái hợp chất đó lại là một phân tử chưa bao giờ tồn tại, nhưng người ta dự đoán nó có thể có những tính chất hữu ích nào đó. Lắm khi khác, nó lại là một phân tử có sẵn trong thiên nhiên, nhưng chúng ta cần tìm ra cách tốt hơn để tái tạo (ví dụ như là các phân tử dùng trong dược phẩm tìm thấy trong một vài loài thực vật hiếm).

Nhà hóa học tổng hợp sẽ xem xét cái phân tử mà mình muốn làm, xem xem làm thế nào để tạo ra nó. Bằng kiến thức của mình, nhà hóa học sẽ xác định các liên kết nào dễ tạo và tiến hành giải cấu trúc toàn bộ phân tử cho tới khi có thể gắn nó lại từ các phân tử nhỏ hơn mà nhà hóa học có thể đi mua ở các công ty hóa chất (hoặc đôi khi từ nguồn tự nhiên). Nhà hóa học sẽ thẩm định từng cách ghép các mảnh này để xem cách nào thuận lợi hay dễ thành công hơn. Giáo sư hướng dẫn của tôi gọi việc này là một trò đánh cờ phân tử – cá nhân tôi thì nghĩ chơi cờ dễ hơn cái này nhiều.

Một khi đã vạch được hướng đi khả dĩ tới phân tử đích, nhà hóa học sẽ gom các mảnh vật liệu nguồn lại, bắt đầu tráo đổi và kết hợp chúng lại với nhau. Tôi từng miêu tả việc này giống như ghép các mảnh LEGO, nhưng thường thì phức tạp hơn ghép LEGO nhiều. Nhiều khi một phản ứng không chỉ biến đổi cái phần của phân tử mà bạn muốn nó đổi, mà còn phá luôn một phần khác. Để giải quyết điều này, thường thì nhà hóa học cho thêm các nhóm bảo vệ vào để che phần phân tử cần được giữ nguyên, không cho nó phản ứng.

Hướng đi tới phân tử đích bao gồm một chuỗi phản ứng. Có khi chuỗi này có khoảng 4 hay 5 phản ứng. Có khi lại là hơn 5 chục. Trong hầu hết trường hợp, sản phẩm của mỗi phản ứng phải được tinh lọc và kiếm tra xác nhận đủ kiểu để chứng minh nó là sản phẩm trung gian cần tìm, rồi mới đi tiếp các bước sau *(ngoại lệ xem ở phần ghi chú). Quá trình tinh lọc gồm có chưng cất, kết tinh, hoặc dùng phương pháp sắc ký rất tốn thời gian nhưng rất hữu hiệu. Bước xác minh cấu trúc hóa học của chất trung gian dùng một loạt các kỹ thuật phân tích, lấy vài ví dụ như phương pháp Cộng hưởng từ hạt nhân (NMR), khối phổ (MS), hay đo độ triền quang của chất (xem góc xoay của ánh sáng phân cực khi đi qua chất như thế nào).

Sau khi đã lập kế hoạch tới phân tử đích, nhà hóa học sẽ dựa vào văn liệu hóa học đã được đăng trên tạp chí chuyên ngành để xác định xem từng phản ứng có xảy ra hay không. Tuy vậy, chỉ cần 1 thay đổi nhỏ trên cấu trúc phân tử cũng khiến cho kết quả thu được thực tế khác xa kết quả đã được công bố. Nhà hóa học phải luôn thủ sẵn những phương án mới, ngay cả khi phải lần ngược lại quy trình, có lúc bỏ rất nhiều phản ứng, để đi theo đường khác.

Phản ứng được làm thử lần đầu tiên thường không cho kết quả tốt nhất. Vậy nên mỗi phản ứng phải được tiến hành nhiều lần để tối ưu hóa. Nhà hóa học sẽ thay đổi thời gian phản ứng, cũng như thử các nhiệt độ khác nhau. Nhiều chất xúc tác có thể sẽ được thử nghiệm, cũng như thay đổi tỉ lệ các chất phản ứng. Phản ứng có thể được tiến hành dưới áp suất cao, hoặc trong môi trường khí trơ. Bước tối ưu hóa này có lẽ là phần chán nhất của quá trình nghiên cứu, tuy nhiên dù sao cũng còn đỡ hơn là khi đã thử mọi cách mà vẫn không làm phản ứng xảy ra được.

Làm nhà hóa học tổng hợp hữu cơ rất dễ nản. Nhiều phản ứng đáng lẽ phải xảy ra, đôi khi không thèm xảy ra. Nhà hóa học lắm lúc cần đến lab từ sáng tinh mơ và về nhà lúc gần nửa đêm, vì phải ngồi canh chừng những phản ứng chậm và thất thường như trông em bé. Tuy nhiên, lúc cầm trên tay chiếc lọ thủy tinh đựng một vài giọt hợp chất mới chưa từng được tạo ra là lúc nhà hóa học cảm thấy một cảm giác thỏa mãn dạt dào nhất trong lòng. Vì lúc đó, nhà hóa học biết được rằng tất cả máu, mồ hôi và nước mắt của mình đổ ra đã được đền đáp, và có thể, chỉ có thể thôi, cái hợp chất mới này, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, sẽ mở ra một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân loại.

*Ghi chú  – trong khi hầu hết các quá trình tổng hợp hữu cơ đều cần bước tinh lọc mỗi hợp chất mới tạo ra, hiện giờ đã có nhiều bước tiến mới trong việc áp dụng các quy trình tổng hợp "one-pot" (một bình) (hai hoặc nhiều hơn hai phản ứng hóa học xảy ra trong cùng một bình phản ứng mà không cần tinh lọc chất tạo ra trung gian) và các quy trình tổng hợp liên tục nhiều bước (continuous flow multi-step syntheses) (sản phẩm tạo ra sẽ di chuyển từ bình phản ứng này sang bình phản ứng kế tiếp với bước tinh lọc diễn ra tại chỗ (in situ)), một cách tiếp cận hứa hẹn sẽ làm một cuộc cách mạng hóa tổng hợp trong thập kỷ tới.



Bản gốc từ http://sciblogs.co.nz/molecular-matters/2012/10/08/what-does-a-synthetic-organic-chemist-do/

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Im lặng

Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bả cây.
(Ngôn chí số 10 - Nguyễn Trãi)

Tôi thấy hai câu này của Nguyễn Trãi, xét về tinh thần, nó rất gần với một bài thơ haiku 17 chữ. Cảm giác khi đọc lên là rất nhẹ và rất tĩnh. Đêm lặng, khẽ nghiêng chén, hớp cả ánh nguyệt. Ngày vắng, nhẹ nâng cành, xem được sắc hoa. Không thấy chủ thể đâu cả. Chủ thể biến mất trong cái vắng lặng.

Nguyễn Trãi có lẽ làm bài Ngôn chí số 10 này trong một cái chùa nào đó, nói trong câu đề đầu tiên "Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy". Người ta không uống rượu trong chùa, mà hơi rượu bén vào hai câu "bài cú" trên cũng làm mất đi cái tĩnh. Chén nghiêng để uống đó, có thể là chén trà, hoặc một chén nước. 

Cái vắng lặng hiện ra rõ hơn bằng những âm thanh nhẹ và lọt thỏm giữa không gian. Đó là tiếng nghiêng nước hớp trăng giữa đêm, đó là tiếng rẽ lá thưởng hoa lúc ban ngày. Bài bài cú của Buson dưới đây cũng là những âm thanh vẫy vùng giữa không gian để làm nên cái tĩnh mịch:

 雁   行きて  門田   も   遠く    おもはるる
Kari yukite kadota mo tooku omowaruru
(与謝 蕪村 Yosa Buson)

Đàn ngỗng bay qua
Đồng lúa trước nhà
Trông dường như xa
(QH dịch)

Chữ Hán dùng cho kari ở trên là chữ 雁 nhạn. Chim Nhạn trong tiếng Hán là chỉ loài ngỗng thiên di, bay về từ phương Bắc hàng năm vào mùa thu. Vì vậy đây là quý ngữ chỉ mùa thu của haiku. Tiếng Việt lại gọi con chim én, con swallow là chim Nhạn. Nếu không tra quý ngữ và xem lại chữ 雁, đọc bản dịch của thầy Nhật Chiêu (đàn nhạn đi rồi, cánh đồng trước cửa, dường như xa xôi) tôi đã tưởng ở đây nói con chim én bay trú rét. Đàn ngỗng bay sẽ khác đàn én liệng. Đàn ngỗng ồn ào hơn, nhưng một khi những tiếng kêu chìm khuất trong thinh không, khi sóng âm bị hiệu ứng Doppler kéo dãn ra, thì cái ồn ào đó quay trở về tịch mịch. Cái còn sót lại là im lặng.

Tôi đang cần im lặng.

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015

Tsubaki

日 の 目  見ぬ   冬  の     椿     の  咲  に  けり
hi no me minu fuyu no tsubaki no saki ni keri

Chẳng thấy mặt trời
Hoa trà mùa đông
Vẫn nở
Issa

Hồi tôi còn nhỏ, chừng 7-8 tuổi, nhà tôi có một chai dầu gội đầu không nhớ ở đâu ra. Đó là chai mùi hoa trà tsubaki của Shiseido. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được ngửi một mùi hương tuyệt vời như vậy. Tôi rất thích cái mùi đó, nên không chỉ dùng để gội đầu, tôi còn lấy để rửa tay. Đó là một cái mùi ngọt lịm, một cái mùi mê mẩn đối với tôi lúc còn nhỏ. Lớn lên, tôi vẫn còn nhớ cái mùi, vẫn còn nhớ cái cảm giác lúc nhỏ. Sau này lâu lâu mẹ vẫn có chai đó trong nhà, tôi vẫn thích cái mùi đó.

Đi khắp nơi, đôi khi tôi vẫn thấy hoa trà. Dĩ nhiên cái loài camellia japonica này không phải hiếm, người ta trồng khắp nơi. Nhưng đứng cạnh bông hoa, tôi chưa bao giờ ngửi thấy cái mùi ở trong dầu gội đầu của Shiseido. Cái mùi của Shiseido chỉ có trong chai dầu gội đầu của mẹ, và vài lần trên tóc của vài đứa con gái ở lớp (PTNK). Tôi chưa hề gặp trong tự nhiên.

Cái mùi đó vẫn là một bí ẩn.


Hình ở trên là bông hoa trà tôi chụp ở vườn thực vật trường Berkeley ở trên núi, vào mùa đông năm 2014. HN nói cái bông nhìn như cái trứng devil egg

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Khoảng cách tới trăng

Trong 'Cosmicomics' (tiếng Ý: Le Cosmicomiche) của Italo Calvino
QH dịch (từ bản tiếng Anh của William Weaver)

Chú thích tí: Cosmicomics là một từ không có trong tiếng Anh, cũng như Cosmicomiche không có trong tiếng Ý mà là từ do Calvino tự chế ra, dĩ nhiên là ghép giữa cosmi (sing. cosmo) = vũ trụ, và comiche (sing. comica) = chuyện vui. Cosmicomics trong tiếng Anh do đó là một từ Latin được Anh hóa, và nó có nghĩa là chuyện vui vũ trụ = vũ trụ hí đàm  nếu để Hán Việt cho sang trọng.

Hầu hết các truyện ngắn trong bộ Vũ trụ hí đàm  đều được kể bởi một nhân vật có tên là Qfwfq (thích đọc thế nào là tùy bạn). Mỗi truyện ngắn là một câu chuyện về một thời kỳ của vũ trụ, vũ trụ trong tưởng tượng của Calvino, dựa trên vũ trụ của Newton, của Einstein, của Gamow, của Hawking, nhưng không nhất thiết phải là vũ trụ của những người đó. Qfwfq sống qua tất cả những thời kỳ đó, dưới nhiều hình thái khác nhau, lúc thì là người chèo xuồng đi lấy sữa trăng, khi thì là con trùng amoeba bơi giữa đại dương thái cổ, có bận lại trở thành những sinh vật biển đang tiến hóa dần thành lưỡng cư để bò lên cạn. Qfwfq đã sống, đã chứng kiến hết thảy thăng trầm của vũ trụ, kiểu như ông ngư tiều đầu bạc của Dương Thận sống trên bãi bồi Trường Giang, đã quen nhìn trăng thu gió xuân, nhìn sóng cuốn hết anh hùng theo sóng theo nước. Ý tưởng về Qfwfq cũng tương tự như Saruta trong bộ Chim lửa của Tezuka, một nhân vật vì một lỗi lầm gây ra ở một thời điểm ở thế kỷ 26 mà cứ phải tái sinh lại làm người mãi, để kinh qua bao nhiêu khổ ải, bao nhiêu đắng cay, bao nhiêu đau khổ, lúc thì là nhà khoa học cô đơn, mãi không tìm ra được cách nào để tái sinh loài người, lúc thì là tên cướp cùng đường ở thế kỷ 8, trở thành nhà sư mù cụt tay, vân vân...

Ô kê, mời đọc truyện.

_______________________

credit: © 2010 Caroline Jones McKay


Ngày xưa, theo lời ngài George H. Darwin kể lại, Mặt Trăng nằm rất gần với Trái Đất. Rồi dần dần thủy triều đẩy nàng ra xa: là ta đang nói tới những đợt thủy triều mà chính Trăng tạo nên trên mặt nước ở Trái Đất ấy, những đợt thủy triều làm Trái Đất mất dần mất dần năng lượng của mình.   

Ôi ta nhớ rõ lắm! – ông già Qfwfq kêu lên – mấy người thì không nhớ đâu, nhưng ta thì vẫn nhớ. Nàng ở trên đầu bọn ta suốt, ta đang nói nàng Trăng khổng lồ ấy: cứ tới kỳ nàng tròn thì ban đêm sáng như ban ngày, có điều là có màu như vàng bơ thôi – nhìn cứ như nàng sắp đâm vào bọn ta vậy; còn tới kỳ trăng non, nàng lại cuộn quanh bầu trời trông như một cái ô đen bị gió thổi bạt; rồi khi nàng tròn dần trở lại, nàng chìa hai chiếc sừng xuống thấp trông như muốn đụng vào mỏm đá chìa ra biển và mắc kẹt ở đó luôn. Nhưng ngày xưa các pha mặt trăng khác bây giờ lắm, vì khoảng cách từ Mặt Trời cũng khác, và quỹ đạo nữa, và mấy cái góc ghiếc giữa cái này với cái kia gì đó, thôi ta quên rồi. Vì Trái Đất và Mặt Trăng ở sát kề nhau, bọn ta có nhật thực mỗi phút, tự nhiên thôi, hai con quái khổng lồ đó cứ liên tục chen vào bóng của nhau, lần lượt hết cái này xong tới cái kia.

Quỹ đạo à? Ừ, dĩ nhiên là vẫn hình elip: có lúc Trăng lao đến gần bọn ta, có lúc nàng lại bay đi xa. Còn thủy triều, lúc Trăng tới gần, dâng cao tới nỗi không ai ngăn nó được. Có những đêm Trăng rất tròn và rất gần, gần lắm, khiến thủy triều dâng cao tới nỗi Trăng chỉ còn cách mặt biển độ chừng một sợi tóc: thôi được, ta cường điệu đấy, nhưng chỉ độ vài mét thôi. Thế nào, cònvụ trèo lên Mặt Trăng à? Dĩ nhiên bọn ta làm chuyện đó rồi chứ. Chỉ cần chèo một cái thuyền ra biển, tới dưới chân Trăng, rồi bắc một cái thang, trèo lên, vậy là tới.

Vị trí trên Trái Đất gần Trăng nhất là ngoài khơi mỏm đá Kẽm. Bọn ta từng bơi xuồng chèo ra đó, cái kiểu xuồng nhỏ nhỏ bọn ta có thời đó, tròn và dẹp, làm bằng gỗ bần. Xuồng chứa được vài đứa bọn ta, gồm có: ta, Thuyền trưởng Vhd Vhd, vợ Thuyền trưởng, cậu em họ bị điếc của ta, và đôi khi có cả bé Xlthlx nữa – lúc đó bé độ mười hai tuổi gì đó. Những đêm đó, mặt nước rất lặng, bàng bạc nhìn chẳng khác gì thủy ngân cả, và đàn cá thì bơi lội bên dưới, màu tím, chúng không cưỡng nổi sức hút của mặt trăng nên bị nổi hết lên gần mặt nước, cả bọn bạch tuộc và sứa cũng bị như vậy. Lúc nào cũng có những đàn sinh vật tí hon – cua nhỏ, mực nhỏ, có cả rong biển, mỏng tang nhẹ tênh, và san hô – bay lên khỏi mặt nước và dính vào Mặt Trăng, treo rủ xuống từ cái trần màu trắng như vôi, hoặc không thì lơ lửng giữa không trung, làm thành một đám lúc nhúc tỏa ra ánh lân quang, khiến bọn ta phải lấy lá chuối quạt sang một bên mới đi qua được.

Đây là cách bọn ta trèo lên Trăng đây: trên xuồng bọn ta có một cái thang: một người đứng vịn, người thứ hai trèo lên, và người thứ ba ngồi ở mái chèo, chèo tới khi nào bọn ta ở ngay bên dưới Trăng; đó là lý do vì sao bọn ta cần nhiều người như vậy (ta chỉ mới nói tới những nhân vật chính yếu thôi đấy). Người đứng trên thang, khi xuồng tiến tới gần Trăng, sẽ hốt hoảng la lên: “Dừng lại! Dừng lại! Tôi sắp đâm đầu vào Trăng rồi!” Đó là ấn tượng đầu tiên mình thấy khi nhìn vào Trăng, một khối khổng lồ, gồ ghề đầy gai nhọn và lởm chởm những răng cưa. Giờ có lẽ khác rồi, nhưng hồi xưa, Trăng, nói đúng hơn là phần dưới của Trăng, bụng Trăng, phần sượt ngang qua Trái Đất, là như vậy đấy, phủ bằng một lớp vỏ đầy vảy nhọn. Trông nó giống như bụng cá vậy, mùi cũng vậy nữa, ta mang máng nhớ thế, không phải ta bảo chính xác là mùi cá đâu, mà thoang thoảng giống thôi, tựa như mùi cá hồi hun khói vậy.

Từ đỉnh cái thang, đứng thẳng lên trên nấc cuối cùng, mình có thể chạm được vào trăng nếu mình vươn dài tay ra. Bọn ta đã đo đạc cẩn thận (lúc đó, bọn ta chẳng mảy may ngờ rằng nàng Trăng mỗi ngày một rời xa hơn); điều duy nhất mình phải lưu ý là chỗ đặt tay khi với lên chạm vào Mặt Trăng. Ta luôn chọn mảnh vảy nào trông chắc chắn (bọn ta trèo lên thường theo nhóm năm hay sáu người một lúc), rồi ta bám một tay lấy, rồi bám luôn tay kia, và ngay tức thì ta sẽ cảm thấy cái thang và cái xuồng bỗng chốc rời xa bên dưới ta, và chuyển động của Trăng sẽ kéo ta ra khỏi lực hút của Trái Đất. Ừ, vậy đấy, Trăng mạnh lắm, Trăng kéo được cả mình lên; mình sẽ nhận ra điều này ngay khi mình chuyển từ lực hút của Trái Đất sang lực hút của Trăng: rằng mình phải nhảy lên lộn nhào một cái thật đột ngột, nắm chắc lấy cái vảy, giơ chân lên đằng đầu, cho tới khi chân ta đứng trên bề mặt Trăng. Nhìn từ Trái Đất, mình trông giống như mình bị treo ngược đầu lên vậy, nhưng với mình thì trông vẫn rất bình thường, điều lạ duy nhất với mình sẽ là khi mình ngước đầu nhìn trời, mình trông thấy biển bên trên, sáng lóng lánh, có chiếc xuồng và những người kia lộn ngược, nhìn giống như những chùm nho trên giàn vậy.
Cậu em họ ta là anh chàng điếc ấy, tỏ ra rất có năng khiếu trong việc lộn mèo này. Đôi tay vụng về của chú ấy, cứ tới khi chạm lên bề mặt Trăng (chú này luôn là người đầu tiên nhảy ra khỏi thang) là đột ngột trở nên thật khéo léo và nhạy cảm. Đôi tay này ngay lập tức tìm ra vị trí để anh chàng có thể kéo mình lên; nói cho đúng thì chỉ cần lực ép từ lòng bàn tay là cậu em ta có thể dính lên bề mặt của cái vệ tinh này rồi. Một lần, ta còn trộm nghĩ hình như Trăng bay về phía cậu em, khi chú ta giơ tay lên.

Chú cũng điệu nghệ y như vậy lúc trở xuống Trái Đất, dù thao tác lần này khó hơn. Đối với bọn ta, quá trình đi trở xuống bao gồm nhảy lên, càng cao càng tốt, tay giơ thật cao (nhìn từ Mặt Trăng thì như vậy nha, chứ nhìn từ Đất thì thấy bọn ta giống như đang lặn, hay là giống như đang bơi xuống, hai tay hai bên), nói cách khác là giống như nhảy lên ở trên mặt Đất vậy, có điều giờ không còn thang nữa, vì trên Trăng không có chỗ nào để kê thang cả. Nhưng thay vì nhảy giơ tay, cậu em họ gập người, cúi đầu xuống như thể sắp lộn nhào, rồi nhảy một phát, đẩy hai tay ra. Từ dưới xuồng, bọn ta quan sát cậu đứng thẳng giữa không trung giống như đang đỡ lấy quả cầu Trăng khổng lồ rồi bất thình lình dùng lòng bàn tay đẩy nó đi; rồi khi chân cậu em đến vừa tầm với, bọn ta sẽ cố túm lấy mắt cá và kéo xuống thuyền.

Rồi, giờ các người hỏi ta lên trên Mặt Trăng làm cái thứ gì phải không; để ta trả lời luôn. Bọn ta đi lấy sữa, bằng một cái muỗng lớn với một cái xô. Sữa Trăng rất đặc, giống kiểu phô mai mềm đó. Sữa được tạo ra ở các khe giữa hai vảy Trăng, bằng quá trình lên men của các sinh vật và khoáng chất có nguồn gốc Trái Đất, đã bay lên Mặt Trăng từ những thảo nguyên và rừng rậm mỗi khi Trăng lướt ngang những vùng này. Sữa Trăng phần lớn gồm nước ép cây cỏ, nòng nọc, hắc ín, đậu lăng, mật ong, tinh thể tinh bột, trứng cá tầm, mốc, phấn hoa, chất gelatin, giun, nhựa cây, tiêu, muối khoáng, bã của quá trình đốt. Mình chỉ cần đút muỗng xuống dưới lớp vảy phủ trên bề mặt Trăng, rồi mình múc lên đầy một muỗng cái chất quý giá đó. Dĩ nhiên sữa Trăng này không phải là loại tinh khiết rồi, còn nhiều tạp chất trong đó lắm. Trong quá trình lên men (diễn ra lúc Trăng bay ngang vùng sa mạc tỏa ra hơi nóng), không phải tất cả thành phần đều chảy ra; vẫn còn có thứ nằm kẹt lại trong cái hỗn hợp sữa như là: móng tay, sụn, bu lông, cá ngựa, quả hạch và cuống hoa, mảnh sành, móc câu, có lúc có cả lược nữa. Vì thế cái chất sữa này, sau khi thu về phải đem lọc tinh lại. Nhưng việc này không khó, cái khó nằm ở chỗ làm sao chuyển sữa về mặt Đất. Đây là cách bọn ta đã làm: bọn ta hất từng muỗng sữa lên trời bằng hai tay, dùng muỗng làm đòn bẩy. Cái chất sữa đặc như phô mai bay lên, nếu bọn ta ném đủ mạnh nó sẽ dính lên trên trần, nghĩa là dính lên mặt biển Trái Đất. Một khi rơi xuống biển rồi, chúng sẽ nổi lềnh bềnh, bọn ta chỉ việc kéo lên xuồng thôi. Cậu em điếc cũng rất có năng khiếu trong việc này; chú có lực tay mạnh, mà nhắm cũng tốt nữa; chỉ cần một cú ném mạnh, chú có thể hất miếng phô mai vào thẳng trong cái xô bọn ta đang giơ lên. Ta thì hay ném hụt; muỗng sữa không thắng được lực hút của Trăng và rơi thẳng lại xuống mặt ta.

Ta chưa kể hết cho mấy người rằng cậu em họ của ta còn giỏi những gì nữa đâu. Cái công việc múc sữa từ vảy Trăng ấy chỉ là trò trẻ con với chú ấy: đôi khi thay vì phải dùng muỗng, chú chỉ cần thọc tay xuống dưới lớp vảy, có lúc chỉ cần một ngón tay là đủ. Chú ấy không làm theo trật tự gì cả, mà cứ hay đi ra chỗ vắng, nhảy tới nhảy lui, như thể là đang trêu ghẹo Trăng, làm Trăng giật mình, hoặc có lẽ là cù cho nàng bật cười. Và bất kể nơi nào chú ấy đặt tay xuống là sữa lại vọt ra như là vắt từ vú dê vậy đấy. Thế là đám còn lại bọn ta chỉ việc lò dò đi theo và lấy muỗng múc hết sữa chú em vừa vắt ra, lúc thì chỗ này, lúc thì chỗ kia, nhưng rất hên xui may rủi, vì anh chàng Điếc này đúng là làm việc chẳng có theo trật tự gì cả. Ví dụ như là, có chỗ thì chú ây sờ vào hoàn toàn chỉ để sờ cho vui vậy thôi: là những khoảng hở giữa hai cái vảy Trăng, là những nếp gấp trần trụi và mềm mại của da thịt Trăng. Đôi khi cậu em họ ta không chỉ ấn ngón tay xuống, mà còn nhảy nhót rất nhẹ nhàng đúng mực rồi ấn ngón chân to của mình vào da thịt Trăng (chú ấy đi chân không lên mặt Trăng mà). Có vẻ như đây là trò vui nhất của chú ấy, nếu như bọn ta có thể đánh giá thông qua cái âm thanh líu lo vang ra từ cổ họng của chú khi tiếp tục nhảy nhót qua lại. 

Bề mặt của Trăng không chỉ phủ đều vảy, mà còn phô ra đôi chỗ có đất trơn và nhạt màu. Cậu em Điếc rất thích lộn nhào ở những chỗ đất mềm này, hoặc là thích bay lên như chim, cứ như là chú ấy muốn ấn hết cả cơ thể mình ngập vào phần thịt da mềm mại của Trăng. Khi cậu em lang thang ngày một xa, tới một lúc bọn ta không còn trông thấy chú ấy nữa. Trên mặt Trăng có nhiều khu vực rộng lớn mà bọn ta chưa từng có bất kỳ lý do hay mảy may tò mò nào để mà lần ra đấy, và đó chính là nơi cậu em ta biến mất. Ta ngờ ngợ rằng phải chăng những cú lộn nhào với huých đẩy diễn ra trước mắt bọn ta chỉ là để che mắt, là phần dạo đầu để cho âm mưu bí mật của chú muốn đi xa tới những phần còn ẩn dấu kia.

Bọn ta đã ở trong một tâm trạng rất đặc biệt vào những đêm rời khỏi mỏm đá Kẽm: vui vẻ, phấn khích nhưng đượm một chút hồi hộp, giống như ở trong hộp sọ của mình, thay vì não, bọn ta cảm thấy có một con cá, lơ lửng, bị Trăng nhè nhẹ hút lên. Bọn ta lái xuồng, đùa giỡn và ca hát. Vợ của Thuyền trưởng chơi chiếc đàn harp; nàng có đôi tay rất dài, óng ánh bạc như những con lươn dưới biển những đêm đấy, với khe nách phần cuối cánh tay ẩn trong bóng tối và huyền hoặc như bầy nhím biển; và tiếng đàn harp thì ngọt ngào và xuyên thấu lòng, ngọt và nhọn tới nỗi gần như khôn kham, và bọn ta buộc phải thốt lên lời cảm thán, không phải để hòa cùng âm nhạc mà chính là để bảo vệ lấy đôi tai của mình. 

Những con sứa trong suốt nhô lên khỏi mặt biển, co đập một khoảnh khắc, rồi bay về phía Trăng. Bé Xlthlx thích thú thò tay ra cố tóm lấy chúng giữa không trung. Có lúc bé vươn cánh tay nhỏ lên để bắt một con sứa, bé nhảy nhẹ lên và thế là bị Trăng hút rồi bay lơ lửng. Bé nhẹ quá, còn thiếu mấy chục gram trọng lượng nữa để Trái đất có thể thắng được lực hút của Trăng, thế là bé lơ lửng giữa trời cùng với bầy sứa, bồng bềnh trên mặt biển. Bé hoảng sợ, thét lên, rồi sau đó cười nắc nẻ và bắt đầu đùa giỡn, tóm lấy mấy con sò và cá con cũng đang lơ lửng, cho vào miệng và nhai. Bọn ta chèo cật lực để đuổi theo bé: Trăng vẫn chạy theo quỹ đạo elip của mình, cuốn đi theo bầy sinh vật biển, gồm cả những dải rong biến quấn lấy vào nhau và Xlthlx bập bềnh ở giữa. Hai bím tóc mỏng của bé như đang tự ý bay lượn, vươn về phía mặt Trăng; nhưng sau một hồi, bé vùng vẫy và đá vào không khí như muốn chống lại sức hút đó, giày của bé đã tuột khỏi chân trong khi bay, giờ thì đôi tất cũng trượt ra và đu đưa, vì bị Trái đất hút. Ở trên thang, bọn ta cố đưa tay tóm lấy.

Ý tưởng tóm lấy bầy sinh vật nhỏ mà ăn đúng là hay, càng ăn thì Xlthlx càng nặng và càng chìm xuống Trái đất; đúng ra mà nói thì trong bầy sinh vật lửng lơ đó, những con thân mềm, rong biển và phù du to nhất bắt đầu bị hấp dẫn hút về xung quanh bé, và một lúc sau bé đã phủ đầy vỏ sò silic, giáp tôm kitin, và rong biển sợi. Bé càng bị phủ thì càng thoát ra khỏi ảnh hưởng của Trăng và bắt đầu sượt qua làn nước biển và chìm xuống.

Bọn ta chèo nhanh tới để kéo bé lên, người bé vẫn còn rất hút, bọn ta phải vất vả lắm mới gỡ hết đám sinh vật ra vây lấy bé. Những nhánh san hô mềm vướng vào tóc bé, và mỗi lần bọn ta chải tóc là hàng đống tôm với cá mòi ủa ra. Mi mắt bé bị mấy con sao sao bu vào kéo xuống, xúc tu mực thì quấn lấy tay và cổ, áo đầm thì trông như dệt bằng rong và bọt biển. Bọn ta gỡ gần hết mọi thứ ra, nhưng trong nhiều tuần sau, lâu lâu bé lại rút ra từ đâu đó khi thi cái vảy cá, khi thì miếng vỏ sò, còn da bé thì lấm chấm những tảo cát, ai mà nhìn không kỹ thì cứ tưởng chỉ là tàn nhang trên mặt bé mà thôi.

Nói như vậy chắc mấy người đủ thấy Trái đất và Trăng hút lẫn nhau như thế nào, hai lực hầu như ngang bằng, đánh nhau ở cái khoảng không ở giữa. Để ta nói thêm với mấy người cái này nữa: một vật từ Trăng hạ xuống Trái đất cũng bị lực Trăng hút một lúc, chống lại cái hấp dẫn của mặt đất. Ngay cả ta, to và nặng thế này, lần nào ta từ trên đó xuống, ta cũng phải mất một lúc để quen với bên trên bên dưới của Trái đất, còn những người kia thì phải nắm lấy tay ta, giữ lấy ta mà kéo trên chiếc xuồng bập bềnh theo sóng trong khi đầu ta vẫn lơ lửng còn chân ta vẫn duỗi thẳng lên trời.

"Nắm lấy này! Nắm lấy chúng tôi!", họ la lên như vậy, và trong lúc dò dẫm, đôi lần tay ta nắm phải bầu ngực của vợ thuyền trưởng Vhd Vhd, bầu ngực tròn và chắc, dễ chụp lấy và có một lực hấp dẫn cũng mạnh như Trăng, có khi còn mạnh hơn, đặc biệt là khi ta cố lao xuống, vòng tay ôm lấy eo của nàng, và như thế ta trượt trở lại Trái đất, ngã rầm xuống lòng xuồng, với Thuyền trưởng Vhd Vhd kéo ta dậy và dội một xô nước vào mặt ta.

Đây chính là bắt đầu câu chuyện tình của ta với vợ thuyền trưởng Vhd Vhd và cũng là bắt đầu cho niềm đau khổ của ta. Vì không lâu sau ta nhận ra người mà nàng luôn nhìn đắm đuối chính là cậu em họ Điếc, mỗi khi bàn tay của cậu em ghì chặt lấy Trăng là ta lại lén nhìn nàng, và trong đôi mắt nàng ta đọc được rằng tình cảm thân thiết giữa chàng Điếc và Trăng khiến nàng bị khuấy động ra sao; và khi chú ấy biến mất sau những chuyến thám hiểm Trăng của mình, ta thấy nàng bồn chồn không yên, như đang ngồi trên lửa nóng, và rồi tất cả chợt hiện rõ lên với ta, nàng Vhd Vhd đang ghen với Trăng còn ta thì ghen với cậu em họ của mình. Mắt nàng làm bằng kim cương, nàng Vhd Vhd ấy; đôi mắt rực sáng lên khi nàng nhìn Trăng, gần như thách thức, như thể nàng muốn nói: "Trăng, người không thể có chàng cho riêng mình được!". Và ta cảm thấy như ta là một người ngoài cuộc.

Người chẳng hề biết chút gì về tất cả chuyện này chính là cậu em họ Điếc. Khi bọn ta kéo chú ấy xuống - như ta đã kể ở trên - bằng cách nắm lấy chân mà kéo, nàng Vhd Vhd mất hết cả tự chủ, nàng làm mọi cách để kéo hết sức chú ấy bằng sức nặng của mình, quấn lấy đôi tay dài của nàng quanh chú em; ta cảm thấy một cơn nhói đau trong ngực (khi ta nắm lấy nàng, cơ thể nàng mềm mại và êm dịu, chứ không căng lên và mạnh mẽ như khi nàng kéo cậu em. Trong khi đó, cậu Điếc vẫn cứ lãnh đạm, ngập chìm niềm hạnh phúc với Trăng của mình.

Ta nhìn sang Thuyền trưởng, tự hỏi không biết ông có thấy gì qua cử chỉ của vợ mình, nhưng không bao giờ có chút xúc cảm nào biểu lộ ra trên mặt ông, khuôn mặt bị muối ăn mòn, hằn những nếp nhăn như hắc ín. Vì cậu Điếc luôn là người cuối cùng xuống khỏi trăng, xuồng luôn bắt đầu nhổ neo khi chú ấy chạm đất. Rồi với một cử chỉ lịch thiệp, thuyền trưởng Vhd Vhd nhặt lấy chiếc đàn harp ở lòng xuồng, đưa cho vợ mình. Nàng buộc phải nhận và chơi một vài nốt. Không gì chia cắt nàng khỏi cậu Điếc bằng âm thanh chiếc đàn. Ta âm ư hát bằng giọng thấp một bài hát buồn như thế này: 

"Này đàn cá óng ánh đang trôi, đang trôi;
Và này đàn cá thẫm chìm ở đáy, chìm ở đáy đại dương..."

Tất cả mọi người, trừ cậu em Điếc, đều hát theo từng chữ của ta.

Bình thường, lúc chưa tới kỳ Trăng cậu Điếc lại về làm con người cô độc tách rời khỏi thế giới; chỉ khi Trăng sắp sửa tròn là chú em ta mới trở nên hăng hái khác lạ. Lần đó ta đã sắp xếp mọi thứ để sao cho không phải tới lượt mình phải trèo lên Trăng, để ta được ở trên xuồng cùng với vợ Thuyền trưởng. Nhưng rồi, tới khi cậu em trèo lên thang, nàng Vhd Vhd nói: "Lần này em cũng muốn trèo lên Trăng!".

Điều này chưa bao giờ xảy ra; vợ Thuyền trưởng chưa từng đặt chân lên mặt Trăng. Nhưng Thuyền trưởng Vhd Vhd không phản đối, ông còn đẩy nàng lên thang và kêu lên: "Vậy thì đi đi!", rồi bọn ta cùng giúp đưa nàng lên. Ta đỡ nàng từ phía sau, cảm thấy sự tròn trịa và mềm mại của nàng trên cánh tay ta, và để đưa nàng lên, ta bắt đầu áp mặt mình và lòng bàn tay mình lên nàng, rồi khi ta cảm thấy nàng bắt đầu bay lên mặt Trăng, ta chợt u sầu vô cùng ngay giây phút ta không còn chạm vào nàng nữa, thế là ta đuổi theo nàng, và la lên: "Tôi cũng sẽ đi lên đó phụ mọi người một lúc!"

Nhưng ta bỗng bị Thuyền trưởng giữ lại, hệt như ông cố dùng một cái kẹp để níu lấy ta. "Cậu ở lại đây; cậu còn việc phải làm", Thuyền trưởng ra lệnh, giọng ông bình thản.

Ngay lúc đó, ý định của từng người đã hiển hiện rõ ràng. Thế mà ta lại không hiểu ra; ngay cả bây giờ ta cũng không chắc liệu ta có hiểu rõ ràng hay không nữa. Chắc chắn vợ Thuyền trưởng đã từ lâu nung nấu ý định muốn cùng đi với cậu em ta tới một chốn riêng tư chỉ có hai người (hay ít nhất ngăn không cho cậu chạy trốn một mình với Trăng), nhưng có lẽ nàng còn một kế hoạch táo tợn hơn, đó là thuyết phục cậu em đồng ý, để mà hai người họ cùng trốn đi, không về xuồng và trú lại ở trên Trăng trong vòng một tháng, cho tới kỳ trăng tiếp theo. Nhưng có lẽ cậu em ta, vì điếc nên không hiểu những gì nàng cố gắng nói với chú, hoặc có lẽ chú ấy còn chưa nhận ra rằng mình chính là đối tượng thèm khát của nàng. Còn Thuyền trưởng? Ông chẳng muốn gì hơn việc tống khứ được vợ mình đi; đúng ra, ngay khi nàng đã yên vị ở trên Trăng, ông mới hiện ra mặt ý định độc ác của mình, và rồi bọn ta hiểu ra tại sao ông chẳng hề làm gì để giữ nàng ở lại. Nhưng ông có biết rằng quỹ đạo của Trăng đang ngày một nới rộng ra hay không?
Chẳng ai có thể ngờ chuyện ấy lại xảy ra. Cậu Điếc thì có lẽ, nhưng chỉ mình cậu ấy thôi: chắc bằng cái nhận thức mù mờ của mình, chú em ta đã có một dự cảm mơ hồ rằng chú sẽ phải nói lời vĩnh biệt với Trăng chính vào đêm ấy. Vì thế mà chú trốn biệt vào cái góc bí mật của mình, ở lì trong đó với Trăng cho tới tận lúc sắp sửa về thuyền với xuất hiện trở lại. Vợ Thuyền trưởng chẳng có cách nào tìm ra chú: bọn ta thấy nàng chạy đôn chạy đáo khắp nơi trên cái bề mặt đầy vảy của Trăng, bất thần dừng lại, nhìn về phía bọn ta như hỏi có thấy chàng Điếc về thuyền chưa.

Nghĩ lại mà nói, đêm ấy quả là có phần kỳ lạ. Mặt biển thay vì căng ra như chão mỗi đêm Trăng tròn, có khi thành một vòng cung hướng về phía bầu trời, nay lại ủ rũ, chùng xuống, cứ như lực hút của Trăng không còn chút sức nào nữa. Còn ánh Trăng nữa, không còn giống như ánh Trăng tròn mọi khi; bóng đêm hôm ấy như đậm đặc hơn. Những người lên mặt Trăng hôm ấy chắc cũng nhận ra là có chuyện gì đó không bình thường đang diễn ra. Họ ngước nhìn lên phía bọn ta đang ở dưới mặt đất với ánh mắt kinh hãi. Rồi từ miệng của họ lẫn của chúng ta, vang lên cùng một lúc tiếng la thất thanh: "Trăng đang trôi ra xa!"

Tiếng kêu vẫn còn vang vọng khi cậu Điếc đột ngột xuất hiện và chạy. Cậu trông không có vẻ gì hoảng sợ, hay ngạc nhiên: cậu chống hai tay xuống đất, lộn nhào một cái như thường làm, nhưng lần này khi cậu bắn lên không trung, cậu đột ngột bị giữ khựng lại như bé Xlthlx lần trước. Cậu lơ lửng giữa trời trong một khoảnh khắc, rồi huơ tay cật lực, như một người đang cố bơi ngược nước, cậu dần tiến về phía trái đất bằng một tốc độ chậm chạp chưa từng thấy trước đây.

Từ phía Trăng, các thủy thủ khác vội vã làm theo cậu Điếc. Không ai nán lại vớt vát chút sữa Trăng nào để mang về xuồng, mà Thuyền trưởng cũng không la rầy ai vì điều này cả. Họ đã chần chừ hơi lâu, khoảng cách giờ đây trở nên khó mà vượt qua hơn; họ bắt chước cách nhảy và cách bơi của cậu Điếc, nhưng đều bị giữ lại, dò dẫm trên không trung. "Nắm lấy nhau! Khờ quá! Bám lấy nhau mà nắm!", Thuyền trưởng la lên. Nghe thấy lệnh, các thủy thủ cố tạo thành một khối, để đẩy lẫn nhau cho tới khi họ rơi vào vùng hấp dẫn của trái đất: bất thình lình, cả khối cơ thể rơi xuống mặt biển vang lên một tiếng ùm to.

Bọn ta phải chèo xuồng ra để vớt họ lên. "Chờ đã! Còn thiếu vợ Thuyền trưởng!", ta kêu lên. Vợ Thuyền trưởng cũng đã cố nhảy lên, nhưng nàng vẫn còn đang trôi lơ lửng cách mặt Trăng vài mét, chầm chậm huơ đôi tay dài lấp lánh bạc của nàng trong không trung. Ta trèo lên thang, cố gắng trong vô vọng đưa cho nàng đàn harp để nắm. "Tôi không với tới cô ấy! Chúng ta phải chèo về phía cô ấy!" và ta bắt đầu nhảy lên, khua khua cái đàn. Trên đầu ta, cái đĩa mặt Trăng không còn như cũ nữa: nó đã nhỏ hơn nhiều và vẫn tiếp tục nhỏ lại, như thể ánh nhìn của ta khiến cho nó trôi ngày một xa, còn bầu trời ngày càng mở rộng ra như khe vực thẳm, để lộ ra dưới đáy vô vàn vì sao, và đêm tối khiến ta ngập tràn trong hư vô, nhấn chìm ta trong cơn choáng váng và hoảng loạn.

"Mình sợ," ta nghĩ, "mình sợ quá không thể nhảy được. Mình là đứa hèn!" và ngay lúc đó, ta nhảy lên. Ta bơi dữ dội trên nền trời, đưa chiếc đàn về phía nàng, và thay vì tiến về phía ta, nàng cứ lộn nhào, lộn nhào, làm ta đầu tiên trông thấy khuôn mặt điềm tĩnh của, rồi sau đó là tấm lưng nàng. 

"Nắm chặt lấy tôi!", ta la lớn, và ta đã bám lấy được nàng, quấn tay chân ta vào tay chân nàng. "Nếu chúng ta giữ chặt lấy nhau thế này, chúng ta sẽ xuống được!" và ta tập trung hết sức lực để khiến ta với nàng thành một khối, ta cũng tập trung hết cảm giác của mình để tận hưởng cái ôm thật chặt này. Quá đắm chìm trong cảm giác của mình, ta không nhận ra rằng thật ra ta đã kéo nàng ra khỏi trạng trái không trọng lượng, để rồi khiến nàng rơi ngược trở lại Trăng. Ta chẳng nhận ra ư? Hay đó chẳng qua chính là ý định của ta ngay từ ban đầu? Trước khi ta kịp suy nghĩ cho thấu đáo, một tiếng kêu đã dâng lên tới cổ họng ta. "Tôi sẽ là người ở với em trong một tháng!", à mà không đúng, "Bên em!", ta la lên, trong niềm háo hức: "Tôi sẽ ở bên em trong một tháng!" và đúng ngay lúc đó, ta và nàng bị dứt ra khỏi nhau khi cả hai cùng rơi ầm xuống Trăng, chúng ta lăn về hai ngả trên những chiếc vảy Trăng lạnh lẽo.

Ta ngẩng đầu lên như một thói quen mỗi khi ta chạm bề mặt Trăng, để nhìn cho chắc là trên đầu ta vẫn là mặt biển quen thuộc trải rộng ra như một cái trần nhà mênh mông vô hạn, và ta lại nhìn thấy biển, thật vậy, vẫn là biển, nhưng cao hơn nhiều và hẹp hơn nhiều, bị những bờ những bãi, những doi những vịnh, những vách đá bao lấy chung quanh, và những chiếc xuồng của chúng ta nữa, nhỏ làm sao, những khuôn mặt bạn bè ta mới xa lạ làm sao, tiếng kêu la của họ mới yếu ớt làm sao. Ta nghe một tiếng động ở gần mình: Nàng Vhd Vhd đã tìm ra chiếc đàn harp của nàng và đang mân mê nó, rồi kéo một tiếng tơ nghe não nùng như tiếng khóc. 

Một tháng dài bắt đầu. Trăng chầm chậm dịch chuyển quanh quả Đất. Chúng ta không còn nhìn thấy bờ biển quen thuộc của mình nữa, mà giờ là những dặm dài đại dương xa xôi, sâu thẳm như vực và những hoang mạc đầy những đá vụn lấp lánh, những lục địa phủ băng, những rừng rậm oằn mình dưới bầy bò sát, những rặng núi bị dòng sông chảy siết xẻ ngang, những thành thị lầy lội, những nghĩa địa đầy mộ đá, và những đế chế xây bằng đất sét và bùn. Khoảng cách vời vợi phủ một màu đơn điệu lên tất cả mọi thứ: cảnh tượng xa lạ khiến mọi hình ảnh đều xa lạ; tất cả đều trông như nhau, những đàn voi và những đàn châu chấu chạy khắp các bình nguyên, mênh mông, dày đặc, và rậm rạp một cách đều tăm tắp, y hệt như nhau.

Ta phải nên vui mới đúng: giờ thì như ta hằng mơ, ta đã được ở một mình bên nàng, ở thật gần theo đúng cái kiểu cậu em Điếc thân thiết với Trăng khiến ta luôn ghen tị, và nàng Vhd Vhd giờ là của riêng ta, những ngày những đêm ròng một tháng trời trôi qua không gì gián đoạn, vỏ Trăng nuôi sống chúng ta bằng thứ sữa Trăng có cái vị chua chua mà ta ăn đã quen, chúng ta ngước mắt nhìn lên, nhìn lên cái hành tinh mà chúng ta đã sinh ra, chúng ta đã được trông thấy tất cả mọi miền đất, được nhìn hết những phong cảnh chưa một người Trái Đất nào được chứng kiến qua, nếu không thì chúng ta cũng đã ngắm những vì sao xa hơn Trăng, to như quả mọng, làm bằng ánh sáng, lơ lửng trên cành cong của bầu trời, tất cả mọi thứ đều vượt quá những hy vọng, những mơ tưởng hão huyền nhất của ta ngày trước, thế nhưng, thế nhưng, hoàn cảnh này, đối với ta giờ đây thực chẳng khác nào một cuộc đày ải, một hình phạt tha hương.

Ta chỉ nghĩ về Trái Đất. Chính Trái Đất đã khiến chúng ta trở thành chúng ta như ngày hôm nay; ở trên này, cách Trái Đất vời vợi, cứ như mọi thứ đổi khác, ta không còn là ta, nàng cũng không còn là nàng. Ta chỉ mong mỏi vô cùng được trở về Trái Đất, và ta run rẩy mỗi khi nghĩ tới việc phải rời ra nó mãi mãi. Giấc mơ tình yêu của ta đã thỏa mãn ngay cái khoảnh khắc chúng ta ôm lấy nhau ở giữa Đất và Trăng; bị tách rời khỏi đất, ta giờ chỉ còn biết tới nỗi nhớ nhà quặn thắt lấy tim, nỗi nhớ man mác về cái nơi chốn, cái bắt đầu, cái kết thúc không còn nữa.

Đây là những điều ta cảm thấy. Còn nàng? Khi ta tự hỏi mình điều đó, nỗi sợ như xé ta rách làm đôi. Bởi vì nếu nàng cũng chỉ nghĩ về Trái Đất, đó là một điềm tốt với ta, nó cho thấy nàng cuối cùng cũng đã hiểu ta, nhưng cũng có thể tất cả mọi thứ đều là công cốc, vì những nỗi nhớ của nàng đều vẫn và chỉ hướng về cậu em Điếc. Thay vì thế, nàng chẳng cảm thấy gì cả. Nàng chẳng bao giờ ngước mắt nhìn lên hành tinh cũ, nàng cứ thơ thẩn, trông tái nhợt, loanh quanh những vùng đất trống, lầm bầm những bài ca buồn, và gảy chiếc đàn của mình, như thể muốn tạm thời (ta nghĩ thế) hoàn toàn làm quen với tình cảnh lúc này của mình. Thế có phải là ta đã thắng tình địch của mình không? Không; ta đã thua: một thất bại vô vọng. Vì nàng đã nhận ra rằng cậu em ta chỉ yêu mỗi Trăng, điều duy nhất nàng muốn bây giờ là trở thành Trăng, được hòa làm một với Trăng, với thứ tình yêu kỳ lạ của cậu em ta.

Khi Trăng đã đi trọn một vòng quanh Trái Đất, chúng ta lại trở về ở trên Mỏm đá Kẽm. Ta bần thần nhận ra khung cảnh quen thuộc: chưa bao giờ, dù trong những mường tượng tăm tối nhất, ta có thể hình dung ra cảnh mình đứng nhìn về Mỏm đá ở một khoảng cách vời vợi thế này. Giữa biển khơi lầy lội như vũng bùn, các bạn ta vẫn đang cố gắng, nhưng lần này không dùng thang nữa. Từ dưới xuồng mọc lên một rừng những cây gậy dài, mỗi người đều vung lên một cây, cây nào cũng có gắn móc ở đầu, có lẽ nhằm mục đích vớt vát chút sữa Trăng cuối cùng, cũng như cố giúp bọn ta trèo xuống. Nhưng rồi, mọi người mau chóng nhận ra rằng không có cây gậy nào đủ dài để với tới Trăng, và thể là họ bỏ cuộc, những cây gậy ngắn ngủn nực cười, nổi lềnh bềnh trên mặt biển; trong cơn bối rối, vài chiếc xuồng mất cân bằng, lật nhào xuống nước. Thế mà, lại ngay lúc đó, từ một xuồng khác, một chiếc gậy dài hơn, gắn lại từ những chiếc gậy ngắn mới đây thôi vẫn còn lềnh bềnh trên sóng nước, bắt đầu huơ về phía Trăng. Chiếc gậy hẳn phải làm bằng tre, nhiều gây tre nhỏ, nhiều lắm, gắn lại vào nhau, thế nên để đưa nó lên cao, họ phải nâng thật châm, vì gậy tre mỏng manh như vậy, chỉ cần lỡ tay là nó sẽ gãy ngay. Họ cũng phải nâng gậy thật cẩn thận, nếu không muốn làm lật thuyền.

Lập tức, bọn ta nhận ra rằng đầu gậy lần này sẽ chạm vào Mặt Trăng, rồi thấy nó sượt qua bề mặt, ấn vào nền đất Trăng đầy vảy, ngừng một chút, rồi đẩy nhẹ, không phải, đẩy mạnh thì đúng hơn, làm cho gậy nảy ra, rồi bật trở lại đập vào đúng điểm đó, rồi lại nảy trở ra. Rồi ta nhận ra, cả hai ta - vợ Thuyền trưởng và ta - đều nhận ra, đó chính là chú em ta, không thể là ai khác, đang chơi đùa lần cuối cùng với Trăng của mình, bằng cách dùng gậy cù Trăng, như thể chú vẫn thường đùa với nàng. Và bọn ta nhận ra rằng chú em ta không hề có một chủ đích nào cả, mấy người có thể nói rằng chú ấy đang cố giúp đẩy Trăng ra xa, cố cho Trăng thấy được quỹ đạo rộng hơn của nàng. Chính là kiểu chú ấy chứ không lẫn vào đâu được, chú hoàn toàn không hề có bất kỳ mong muốn nào đi ngược lại ý thích của Trăng, hành trình và số phận của Trăng, nếu Trăng muốn trôi ra xa, thì chú sẽ vui lòng giúp Trăng đạt ý nguyện, hệt như, cho tới mới đây, chú vẫn hạnh phúc ở cùng Trăng gần bên mình.

Nàng Vhd Vhd sẽ làm gì, khi chứng kiến tất cả cảnh này? Chính lúc này, nàng lại chứng tỏ rằng tình yêu của mình với cậu Điếc là một lời thề nguyện bất khả bội, hoàn toàn không phải là thứ tình cảm nhẹ dạ nhất thời. Nếu chú em ta hết lòng hết dạ với Trăng cách xa thăm thẳm, thì nàng cũng sẽ một mực nguyện ở trên Trăng thăm thẳm cách xa. Ta nhận ra điều này, khi không thấy nàng bước tới đầu gậy tre, mà chỉ xoay chiếc đàn harp về phía Trái Đất, cao cao trên trời, buông vài tiếng tơ. Ta nói ta thấy nàng, nhưng thật ra bóng dàng nàng chỉ sượt bên góc mắt ta mà thôi, vì ngay khi gậy chạm vào Trăng, ta đã buông hết tốc lực chay tới, bám ngay lấy nó, và giờ đây, nhanh như con rắn bò, ta đang trèo theo từ mấu tre, tay chân thoăn thoắt tiến về phía trước, ta thấy nhẹ bẫng trong phần không gian loãng giữa hai thiên thể, ta được cái sức mạnh tự nhiên điều khiển, sai khiến ta phải trở về Trái Đất, ta hiểu rõ, ta nhận ra cái ý định ban đầu đã mang ta lên Trăng, nhận ra cái kết cục không hay ho gì của nó; và cuối cùng, nỗ lực của ta cũng khiến ta trèo tới được điểm mà ta không còn cần phải cố gắng gì nữa, lực hút từ Trái đất khiến ta chỉ cần để mình tự trượt, đầu chúi xuống, cho tới khi chiếc gậy gãy ra làm nhiều mảnh, còn ta thì rơi xuống biển, giữa những chiếc xuồng.

Ta đã trở về trong ngọt ngào, đã tìm lại được nhà của mình, nhưng tâm trí ta vẫn ngập tràn nuối tiếc vì đã đánh mất người con gái ta yêu, và khi muốn tìm nàng, ta lại nhìn về phía Trăng, giờ đây hoàn toàn ngoài tầm với. Ta thấy nàng. Nàng vẫn ở lại nơi ta đánh mất nàng. Nàng ngồi trên một bờ biển ngay trên đầu ta, và nàng im lặng. Nàng tiệp cùng màu với Trăng; nàng nâng chiếc đàn harp, rải vài hợp âm chậm. Ta vẫn nhìn ra được dáng hình bờ ngực nàng, cánh tay nàng, đùi nàng, hệt như trong trí nhớ. Tới giờ ta ta vẫn còn nhớ, tới tận bây giờ, khi mà Trăng đã trở thành cái hình tròn bẹp, xa xăm trên bầu trời, và ta vẫn tìm kiếm nàng như vậy mỗi khi mảnh trăng đầu tiên hiện ra. Trăng càng già, ta càng thấy nàng rõ nét hơn, thấy nàng hay thấy bất kể thứ gì của nàng, nhưng chỉ nàng mà thôi, trong hàng trăm, hàng ngàn viễn tượng, chính nàng người ta làm Trăng trở thành Trăng, chính nàng, mỗi khi tròn, lại khiến bầy chó hú gào thâu đêm, và có cả ta cùng nhập cuộc.

[Hết]