Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Chiêu Khải

Con đã được tròn một tháng tuổi rồi. Tên của con là Nguyễn Chiêu Khải (昭凱). 



(1) Chữ Chiêu 昭 

Chữ Chiêu trong tên của con có nghĩa là chiếu sáng, rạng rỡ. Trong chữ Chiêu có bộ Nhật 日, nghĩa là mặt trời. Tên của ba là Hiển 顯, mang nghĩa là sáng rõ, cũng có chứa thành phần bộ Nhật. Tên lót của con cùng một trường nghĩa và tiếp nối với tên của ba. 

Con sinh năm Bính Ngọ, chủ mệnh là Thiên hà thủy, nghĩa là Nước trên trời. Còn thiên can và địa chi của năm Bính Ngọ thì lại đều là Hỏa. Nghĩa là mệnh của con là mệnh Nước trên trời, nhưng sinh vào năm Trùng Hỏa, một năm có tính hỏa mạnh. Bộ Nhật trong chữ Chiêu vì thế cũng phù hợp, vì mặt trời là hỏa, và ánh sáng mặt trời chiếu qua làn mưa trên trời thì tạo thành cầu vồng.

“Chiêu chiêu hồ nhược yết nhật nguyệt nhi hành dã.” 

[Sáng rỡ như giơ cao mặt trời mặt trăng mà đi]

— Nam Hoa kinh 

“Mục chi kiến dã, tạ ư chiêu; tâm chi tri dã, tạ ư lý.” 

[Mắt thấy được là nhờ sáng; Tâm biết được là nhờ lý.]

— Lã Thị Xuân Thu

(2) Chữ Khải 凱 có nghĩa là bài nhạc mà đoàn quân thắng trận tấu lên khi hành quân trở về (khúc khải hoàn). Khải không đơn giản có nghĩa là “thắng trận”, mà nó là niềm vui và danh dự của sự trở về trong bình an, sau khi trải qua gian khó. 

Chữ Khải cũng có liên hệ một chút đến tên mẹ. Tên của mẹ là Quỳnh 瓊, bộ Ngọc, chỉ thứ ngọc đẹp màu đỏ. Chữ Khải không có bộ Ngọc, tuy nhiên có nét của chữ Sơn. Nói cho đúng thì nét Sơn này là một phần của tự hình cái trống trận trong nghĩa bài quân nhạc của chữ Khải, chứ không phải chữ “núi”, nhưng mình cứ gượng ép nói vậy cho nó thi ca biểu tượng. Trong núi thì có Ngọc. 

Khải còn có nghĩa phái sinh là niềm vui. Khi tìm tên cho con, ba đọc được bài luận “Âm nhạc không có vui buồn” (Thanh vô ai lạc luận) của Kê Khang (“Kê Khang này khúc Quảng Lăng”, Nguyễn Du có vẻ rất thích Kê Khang). Trong đoạn kết của bài luận, Kê Khang dùng từ “khải lạc”.

“Khi lòng hòa hợp đủ đầy bên trong, thì khí hòa hiện ra bên ngoài. Vì vậy, con người dùng lời ca để kể về chí hướng (tự chí), dùng điệu múa để bày tỏ nỗi lòng (tuyên tình). Sau đó, người ta mới dùng văn chương rực rỡ để tô điểm, dùng kinh Phong, kinh Nhã để soi chiếu, dùng tám loại nhạc khí (bát âm) để phổ biến, và dùng sự thái hòa để cảm hóa. Từ đó dẫn dắt thần khí, nuôi dưỡng tâm hồn; đón lấy tình tính mà làm cho sáng tỏ, khiến cho tâm và lý thuận nhau, khí và thanh ứng với nhau, hòa hợp thông suốt để đạt đến cái đẹp. Thế nên, tình cảm vui tươi hòa hợp (khải lạc) mới thấy được ở trong tiếng chuông (kim) tiếng khánh (thạch), và sự rộng lớn rực rỡ mới hiển hiện rõ ràng qua âm thanh vậy.”

Và cuối cùng, cũng tình cờ, mẹ mang thai con khi ba dịch đến phần Julius Caesar của quyển Lịch sử La Mã. Trong tiếng Hán hiện đại, người ta dùng chữ Khải để phiên âm chữ “Cae” trong tên Caesar (凱撒, kǎisā). Tên con là Khải như một dấu nhắc kỷ niệm đáng nhớ, là những ngày cuối cùng của chuỗi 6 năm dịch bộ sách này.

(3)

Chiêu Khải có thể được hình dung như hình ảnh đẹp: một làn nước giữa trời, nơi ánh sáng hiện ra, chiếu qua màn mưa để tạo thành cầu vồng, mở đầu cho một khúc ca tốt lành, hòa lạc.

Nhưng sau tất cả những ý nghĩa, điển tích và sự gửi gắm trong tên gọi, điều ba mẹ mong muốn nhất vẫn là con được sống một cuộc đời đáng sống: bình an, tự do, biết yêu thương và tìm thấy thật nhiều ý nghĩa cho riêng mình.

“Trong tối tăm vây bủa

Sao không tìm ánh sáng?”

— Pháp cú 146

Lumen in te ipso invenias

Mong con tìm thấy ánh sáng bên trong mình.