Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Hiển thị các bài đăng có nhãn haiku. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn haiku. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Kiều hạ xuân ba lục

Mình đang là fan Mai Trung Thứ nên blog mình sắp tới rất có thể sẽ ngập tranh Mai Trung Thứ


傷心橋下春波綠,
曾是驚鴻照影來。
Thương tâm kiều hạ xuân ba lục,
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai.

Đọc thấy hai câu của Lục Du này trong chú thích bản Kiều của ông Nguyễn Thạch Giang, là bản Kiều khoa học nhất mình từng đọc. Google thì ra một loạt ngôn tình trích lấy 5 chữ "kiều hạ xuân ba lục". Đúng là năm chữ này vừa có chất ngôn tình vừa mang chất của một vế haiku.

Bài này dịch ra tiếng Việt nhiều lắm rồi, đây mình dịch ra tiếng Anh:
Heartbroken when I look down the bridge, where the spring waves are still green;
This place once reflected the shadow of a frightened swan [the girl he loves].

_____________________________

Hôm nay (tiếp tục) đi xe bít, mình nhìn thấy một bạn gái. Ngay lúc đó mình chợt có một cảm giác rất Cây Xuân mà mình không thể diễn tả được. Thậm chí mình còn không thấy được mặt bạn kia vì bạn bịt khẩu trang, nhưng mà cảm giác đó hướng về mình nhiều hơn là hướng về bạn. Đột ngột mình thấy mình đang suy nghĩ về những thứ mình đã mất đi, những thứ mình đã đánh đổi suốt 5 năm qua, 5 năm mình xa nhà, để lấy những thứ khác. Lỡ từ lạc bước bước ra. Suốt thời gian bạn ở trên bít mình không thể đọc sách được. Bạn bước xuống xe bít sau mấy nốt nhạc. Việc bạn liên quan và xúc tác thế nào với suy nghĩ của mình, mình vẫn không rõ.

Giống như hồi mình đi thi lớp 10 về (cứ như mấy chục năm trước), hình như lúc đó thi môn cuối, và mình đã biết là mình đậu Năng Khiếu rồi (nên mình không quan tâm lắm nữa). Hôm đó mình cũng đi xe bít, và cũng ngồi đối diện với một gái. Mình cũng đã không rõ mình có quen bạn này không, nhưng mình cứ suy nghĩ rất lung. Lúc đó cảm giác dĩ nhiên hoàn toàn khác. Nhưng giống như bạn kia, bạn này cũng là một kiểu xúc tác thần bí.

_____________________________

Trên lỡ nói haiku thì haiku luôn. Ngữ pháp mình còn đang rất tệ, nên hãy xửa ngử pháp tro mình nhé.

Hashi no shita
Midori shunpa wa
Kari no kage

Dưới cầu
Sóng xuân xanh biếc
Bóng nhạn

(Dùng chữ kari/gan tức là con nhạn vì mình không biết con hồng tiếng Nhật kêu là gì. Chữ 鴻 thì trong tiếng Nhật lại ra cái con nhìn không giống con hồng của tiếng Hán.)

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Về bản chất của nắng ngày

   冬   の 日 や  馬上  に  氷る    影   法師
Fuyu no hi ya  bajō   ni  kōru kage bōshi

Nắng mùa đông
Thầy tu trên lưng ngựa
Cái bóng đóng thành băng
-Bashō (Ghi chép trong tráp)

Ở đây fuyu no hi (đông nhật – ngày đông, mặt trời mùa đông) là quý ngữ. Ở đây dịch là "nắng mùa đông". Cái ánh nắng nhẹ mùa đông hiếm hoi ló ra càng làm rõ thêm nỗi lạnh mà người ngồi trên ngựa đang trải qua. Kage là ảnh, tức cái bóng. Bōshi là từ Hán Nhật "pháp sư", tức ông thầy chùa, ở đây chỉ Bashō. 


Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Im lặng

Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bả cây.
(Ngôn chí số 10 - Nguyễn Trãi)

Tôi thấy hai câu này của Nguyễn Trãi, xét về tinh thần, nó rất gần với một bài thơ haiku 17 chữ. Cảm giác khi đọc lên là rất nhẹ và rất tĩnh. Đêm lặng, khẽ nghiêng chén, hớp cả ánh nguyệt. Ngày vắng, nhẹ nâng cành, xem được sắc hoa. Không thấy chủ thể đâu cả. Chủ thể biến mất trong cái vắng lặng.

Nguyễn Trãi có lẽ làm bài Ngôn chí số 10 này trong một cái chùa nào đó, nói trong câu đề đầu tiên "Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy". Người ta không uống rượu trong chùa, mà hơi rượu bén vào hai câu "bài cú" trên cũng làm mất đi cái tĩnh. Chén nghiêng để uống đó, có thể là chén trà, hoặc một chén nước. 

Cái vắng lặng hiện ra rõ hơn bằng những âm thanh nhẹ và lọt thỏm giữa không gian. Đó là tiếng nghiêng nước hớp trăng giữa đêm, đó là tiếng rẽ lá thưởng hoa lúc ban ngày. Bài bài cú của Buson dưới đây cũng là những âm thanh vẫy vùng giữa không gian để làm nên cái tĩnh mịch:

 雁   行きて  門田   も   遠く    おもはるる
Kari yukite kadota mo tooku omowaruru
(与謝 蕪村 Yosa Buson)

Đàn ngỗng bay qua
Đồng lúa trước nhà
Trông dường như xa
(QH dịch)

Chữ Hán dùng cho kari ở trên là chữ 雁 nhạn. Chim Nhạn trong tiếng Hán là chỉ loài ngỗng thiên di, bay về từ phương Bắc hàng năm vào mùa thu. Vì vậy đây là quý ngữ chỉ mùa thu của haiku. Tiếng Việt lại gọi con chim én, con swallow là chim Nhạn. Nếu không tra quý ngữ và xem lại chữ 雁, đọc bản dịch của thầy Nhật Chiêu (đàn nhạn đi rồi, cánh đồng trước cửa, dường như xa xôi) tôi đã tưởng ở đây nói con chim én bay trú rét. Đàn ngỗng bay sẽ khác đàn én liệng. Đàn ngỗng ồn ào hơn, nhưng một khi những tiếng kêu chìm khuất trong thinh không, khi sóng âm bị hiệu ứng Doppler kéo dãn ra, thì cái ồn ào đó quay trở về tịch mịch. Cái còn sót lại là im lặng.

Tôi đang cần im lặng.

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015

Tsubaki

日 の 目  見ぬ   冬  の     椿     の  咲  に  けり
hi no me minu fuyu no tsubaki no saki ni keri

Chẳng thấy mặt trời
Hoa trà mùa đông
Vẫn nở
Issa

Hồi tôi còn nhỏ, chừng 7-8 tuổi, nhà tôi có một chai dầu gội đầu không nhớ ở đâu ra. Đó là chai mùi hoa trà tsubaki của Shiseido. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được ngửi một mùi hương tuyệt vời như vậy. Tôi rất thích cái mùi đó, nên không chỉ dùng để gội đầu, tôi còn lấy để rửa tay. Đó là một cái mùi ngọt lịm, một cái mùi mê mẩn đối với tôi lúc còn nhỏ. Lớn lên, tôi vẫn còn nhớ cái mùi, vẫn còn nhớ cái cảm giác lúc nhỏ. Sau này lâu lâu mẹ vẫn có chai đó trong nhà, tôi vẫn thích cái mùi đó.

Đi khắp nơi, đôi khi tôi vẫn thấy hoa trà. Dĩ nhiên cái loài camellia japonica này không phải hiếm, người ta trồng khắp nơi. Nhưng đứng cạnh bông hoa, tôi chưa bao giờ ngửi thấy cái mùi ở trong dầu gội đầu của Shiseido. Cái mùi của Shiseido chỉ có trong chai dầu gội đầu của mẹ, và vài lần trên tóc của vài đứa con gái ở lớp (PTNK). Tôi chưa hề gặp trong tự nhiên.

Cái mùi đó vẫn là một bí ẩn.


Hình ở trên là bông hoa trà tôi chụp ở vườn thực vật trường Berkeley ở trên núi, vào mùa đông năm 2014. HN nói cái bông nhìn như cái trứng devil egg

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Samidare

   五月雨  や    蠶        煩ふ     桑   の   畑
Samidare ya kaiko wazurau kuwa no hata
-- Bashô --

Tháng năm mưa dầm
Con tằm bệnh
Nương dâu
-- Bashô -- 





Sa-midare là tên riêng để chỉ những cơn mưa vào tháng Sa (tháng Sa-tsuki, từ tsuki nghĩa là trăng-tháng rồi), vốn là tháng thứ năm trong âm lịch cũ của Nhật Bản (sau Minh Trị thì dẹp lịch âm). Samidare vì vậy là quý ngữ trong haiku để chỉ mùa đầu mùa hè.

Mưa Samidare là mưa đầu mùa hè, là những cơn mưa dài, và dai dẳng. Khi chuyển ngữ thơ haiku có samidare (Bashô có một đống các bài khác bắt đầu bằng samidare), các sách tiếng Anh thường dịch là "constant rain" - mưa dầm, hay "first summer rain" - mưa đầu hạ, ...

Ở Việt Nam, mùa mưa kéo dài từ khoảng tháng 5 tới tháng 10 âm lịch. Nhưng chúng ta không có cái tên đặc biệt nào cho mưa đầu mùa hạ (đầu mùa mưa) như samidare. Dĩ nhiên tôi có thể bắt chước bản dịch tiếng Anh và dịch là "Mưa dầm đầu hạ", thay vì "Tháng năm mưa dầm", như thế có vẻ cũng hay hơn:

Mưa dầm đầu hạ
Con tằm bệnh
Nương dâu
--Bashô--


Ở Việt Nam, có mưa đầu tháng Bảy gọi là mưa Ngâu, gắn với truyền thuyết đêm Thất tịch (7/7 âm lịch), Ngưu lang - Chức nữ gặp nhau khóc lóc trên trời làm mưa rớt xuống. Đó là tên riêng duy nhất dành cho mưa trong tiếng Việt mà tôi nhớ được ở thời điểm này. Nếu đi hỏi nông dân, chắc họ rành hơn tôi. Ở Nhật thì lễ Thất tịch Tanabata (bây giờ diễn ra vào đêm 7/7 Dương lịch) không có mưa nhiều (đọc trên mạng thấy người ta thường cầu cho không mưa vào đêm này), chắc thế nên không thấy có tên riêng hay quý ngữ cho mưa vào dịp này.


Tôi nghĩ linh tinh, thế là dùng chữ mưa ngâu để dịch, dùng như vậy hóa ra lại là hay nhất, nhưng nó làm lệch bản gốc mất.

Tháng bảy mưa ngâu
Con tằm bệnh
Nương dâu
--(dựa theo) Bashô --


___________________________

Ngoài ra còn một chữ nữa, đó là chữ hat畑. Ai học kanji theo cuốn Basic Kanji Book chắc đều gặp chữ này ngay mấy bài đầu. Chữ này là kokuji (quốc tự), nghĩa là chữ cho người Nhật chế ra chứ không được người Hán xài, do đó không có âm Hán (dĩ nhiên cũng không có âm Hán Việt). 

Chữ hata vốn là chữ điền 田 có thêm bộ Hỏa. Người Tàu nửa trên sông Dương Tử trồng lúa mì, nửa dưới trồng lúa nước, dùng chữ điền để chỉ cả ruộng lúa mì lẫn ruộng lúa nước. Người Nhật trồng lúa nước, nên chữ điền 田 nó mang nghĩa khá ướt (kiểu chữ ruộng trong tiếng Việt). Khi thêm bộ hỏa vào, chữ hata 畑 mang nghĩa khô hơn, và để chỉ nơi trồng cây trái khô, không ngập nước. Tương tự trong tiếng Việt có chữ đồng hoặc chữ nương, hoặc chữ rẫy mang nghĩa khá khô ráo hơn chữ ruộng, mặc dầu người ta vẫn kêu đồng lúa nhưng chữ đồng trong này nó chỉ khoảng không gian nhiều hơn là chỉ vật thể.

Và cũng giống tiếng Việt có các từ ghép ruộng đồng, ruộng nương, ruộng rẫy (có từ này nha, google đê) tiếng Nhật cũng có từ ghép 田畑, đọc là tahata, tahatake, hoặc đọc chữ điền bằng âm Hán denbata.

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

Furusato



ふるさと や 寄る も 障る も 茨の花
小林 一茶

Furusato ya yoru mo sawaru mo ibara no hana
Kobayashi Issa

Sáng nay chị Bò tag mình vô một bức hình chị Bò chụp một khu vườn đẹp, kèm với một bài thơ haiku của Issa do ông Thái Bá Tân dịch.

Tôi chạm nhẹ nhàng
vào mọi cái
Thế mà luôn bị
gai châm.

Thú thật là mình rất thích cái phong điệu của bài haiku này. Nhưng mình ngờ là ông Thái Bá Tân dịch từ bài gốc ở trên của Issa mà mình tìm được trên mạng. Nếu là vậy thực thì bản dịch trên dịch rất tầm bậy tầm bạ. Mà cũng không phải chuyện bất ngờ vì thơ haiku ông Thái Bá Tân dịch trước giờ đã rất tầm bậy rồi.

Một vài chữ:
ふるさと (furusato) hay được viết bằng kanji với hai chữ cố hương hoặc cố lý, tùy vào bản mình tìm được trên mạng.
や (ya) theo Jisho.org là từ đệm ngắt quãng hay dùng trong hài cú, liên ca,...
茨の花 (ibara no hana) (bụi) hoa gai, nhiều trang tiếng Nhật có chú thích ibara là bara (hoa hồng).

Và mình dịch là
Quê cũ về đây
mấy bụi hoa gai
cũng xòe chắn lối

Mình thích cả hai bản. Bản nghi là bị chế ở trên cũng rất hay, nhưng nói thật nó không hợp kiểu haiku lắm. 

Nói thêm, bài này từ tập Thất phiên Nhật ký của Issa.

Hình là con đường mòn trên đồi trong chuyến đi với chú Olivier năm 2012, ở gần Dorset, người trong hình là chú Olivier. Cũng đã hai năm rồi, không gặp lại chú Olivier nữa.