Trong cuốn Chim lửa tập Tái sinh (Resurrection hay tựa tiếng Nhật là 復活 - fukkatsu Phục hoạt), Tezuka làm hai cuộc giải phẫu giả tưởng: ghép não của bà trùm mafia vào xác cậu thanh niên và sao ghép thông tin từ não cậu thanh niên và từ "não" con robot vào một bộ não nhân tạo để tạo ra Robita. Kết quả là bà trùm mafia sống dậy trong xác cậu thanh niên, còn cậu thanh niên nhập vào làm một với tình yêu là con robot Chihiro của mình.
Ở đây tôi hiểu rằng Tezuka áp dụng cái thuyết "não tôi ở đâu thì cái gọi là tôi ở đó". Trong phần đầu bài luận Where am I? (Tôi ở đâu?) của Daniel Dennett, ông kể một câu chuyện tưởng tượng: ông được chính quyền Mỹ mời làm một dự án khoa học. Trong dự án này, ông phải tiếp xúc với một loại tia, tia này gây tổn thương tới một loại mô não nhất định, ngoài ra không ảnh hưởng gì các bộ phận khác. Do đó, ông được làm một cuộc giải phẫu đưa não ra khỏi hộp sọ của ông, nuôi trong bể kính, và truyền thông tin tới cơ thể ông thông qua sóng điện từ nhận bởi ăng-ten trên hộp sọ. Sau cuộc phẫu thuật, ông đi đến phòng nuôi não của mình, nhìn vào cái não đang nổi lềnh bềnh trong lồng kính, tự hỏi mình đang ở đâu. Liệu ông có thể nghĩ mình đang nằm trong lồng kính đối diện với đôi mắt của chính mình hay không. Rồi ông đưa ra ba giả thuyết:
1. Não tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
2. Thân tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
3. Cái gọi là "tôi" ở bất kỳ nơi nào mà nó đang nghĩ tới.
Giả sử chúng ta có thể hoán đổi não như trong truyện Chim lửa, A và B làm một cuộc đổi não. Não của A ghép vào người B, não B ghép vào người A. Kịch bản mà ai cũng hình dung ra trong đầu là khi tỉnh dậy, A sẽ thấy mình trong xác B, và B thấy mình trong xác A. Ở đây chúng ta đang bỏ qua cái "linh hồn", kiểu tráo đổi hồn phách này nọ như kiểu hồn Trương Ba da hàng thịt. Đó là chúng ta đang mặc định áp dụng thuyết "não tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng áp vào trường hợp tách não như của Dennett, ta mới thấy rõ ràng thuyết này hơi kỳ. Theo như Dennett, thì ta thấy mình có vẻ ở trong cái xác không não thì đúng hơn, nghĩa là theo cái thuyết "thân tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng thuyết này khi áp dụng vào trường hợp ghép não lại bị kỳ cục, thân người B chứa não người A sẽ tự nhận mình là A (theo não) chứ không phải người B (theo thân).
Như vậy, có thể cả hai giả thuyết 1 và 2 đều có vấn đề. Tôi nghĩ vấn đề nằm ở ý niệm "ở đây". Khi nói "tôi ở đây" nghĩa là tôi tương tác với môi trường xung quanh thông qua các giác quan (thọ tưởng hành thức gì đó). Nói một kiểu rất sáo rỗng (tôi thấy sáo) là ý thức về thực tại có được do não tương tác với giác quan. Đây có lẽ là một kiểu chỉnh sửa cho thuyết "não". Trong trường hợp ghép não, rõ ràng não A có ý thức rằng nó đang ở trong cơ thể B là nhờ nó tương tác với các giác quan của B. Trong trường hợp Dennett, rõ ràng não có ý thức nó ở trong cơ thể không não là nhờ nó các giác quan báo với nó qua sóng điện từ.
__________________
Ê, nhưng những trường hợp trên đều là giả tưởng. Giả tưởng nghĩa là tất cả những cái như là não A thấy mình trong xác B đều là kịch bản tưởng tượng. Dù nghe có đúng hay tất lẽ thế nào thì dù sao cũng chỉ là giả tưởng. Biết đâu được nếu một ngày người ta ghép não được, như là ghép tim hiện nay vậy, ông B sau khi ghép tim ông A vẫn tự nhận mình là B, thì khi ghép não ông A sẽ vận tự nhận mình là B. Não có gì đặc biệt hơn toàn bộ phần còn lại của cơ thể con người để mà cho rằng nó chứa đựng cái gọi là "tôi". Người ta cho rằng não chứa đựng ký ức của con người, mà ký ức (phần nào) quy định cái tự nhận là "tôi".
Sau đây là một thí nghiệm giả tưởng nữa của Stephen Law. Giả sử có một cái máy, tôi bước vào hộp 1, nhấn nút, toàn bộ thông tin về từng nguyên tử cấu tạo nên cơ thể tôi sẽ được chuyển sang hộp 2 để tái tạo lại một bản sao y chang con người tôi, và cơ thể ở hộp 1 sẽ bị phân rã hoàn toàn. Chúng ta không xét về mặt cơ học lượng tử phức tạp này nọ rằng liệu thông tin có chính xác không hay là sẽ có sai số và vì vậy, bản sao có thực sự giống không, ở đây ta giả sử bản sao giống y hệt. Nghĩa là bản sao A' của ông A có ký ức y hệt, tư duy y hệt bản gốc ông A. Vậy có thể nào xem như ông A đã được "dịch chuyển" tức thời từ hộp 1 sang hộp 2 không? Vậy người bước ra từ hộp 2 có thể nào xem là ông A không, hay chỉ là một bản sao A'? Nếu A' suy nghĩ và có ký ức giống hệt A, vậy A' có tự nhận mình là A không? Nếu tôi là A', tôi sẽ nhớ mình đã đứng ở hộp 1 vài giây trước, nhấn nút và biến sang hộp 2, vì não (ký ức) của tôi được tái tạo giống hoàn toàn, nhưng tôi có dám nói mình chính là "tôi" không?
Lại tiếp tục giả sử có một trục trặc gì đó với cái máy, sau khi bấm nút, tôi trong hộp 1 không biến mất, nhưng tôi trong hộp 2 vẫn được tạo ra. Khi đó, bước ra khỏi hộp 1 là tôi, còn bước ra khỏi hộp 2 có phải là "tôi" không? Vậy tôi ở đâu? Có thể nào cả hai đều là tôi không?
_________________
Mấy hôm gần đây tôi bỗng tập nhìn thực tại theo kiểu một chuỗi continuum. Continuum là một chuỗi liên tục. Hãy hình dung một bộ phim, thực chất nó là một chuỗi những hình ảnh ngắt quãng được xếp liên tục nhau, 24 hình một giây.
Bụt dạy ta là tổng thể của năm cái hợp lại: sắc thọ tưởng hành thức. Năm yếu tố, một cái sắc là thân xác vật lý, bốn cái kia là thuộc tâm (lý). Năm cái này hợp lại gây ra cái gọi là "tôi", ngoài năm cái ra, không tìm được tôi ở đâu cả.
Khi bơi trong hồ tôi lại nghĩ đến những lát cắt ngắt quãng, ở tại mỗi điểm của thời gian, tất cả những nguyên tử trong tôi, lẫn những nguyên tử trong hồ bơi, đều có một giá trị tọa độ kỳ vọng nhất định. Các giá trị ấy, ở mỗi thời điểm là mỗi khác. Ứng với mỗi cái "sắc", tôi lại được khuyến mãi thêm bốn cái "thọ tưởng hành thức" đi kèm.
Tôi cũng nghĩ đến dòng nghiệp như một sợi chỉ, hay một vector, để khi năm uẩn tạo nên ta bị hoại rữa, năm uẩn khác lại tạo ra. Như mộng huyễn bào ảnh, như lộ, diệc như điện. Chuỗi continuum tiếp tục khi ta chết đi. Năm uẩn mới lại được tạo ra ở từng lát cắt không-thời gian khác. Không thể nói là "tôi" tái sinh, mà là dòng nghiệp vẫn tuôn chảy.
Bài luận Tôi ở đâu? của Daniel Dennett:
www.lehigh.edu/~mhb0/Dennett-WhereAmI.pdf
Trang
Mây và sóng
Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013
Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013
Chùa nơi đâu một tiếng chuông rơi
Tôi tìm thấy clip giới thiệu về bài Tây Hồ hoài cổ của Nguyễn Công Trứ do ca nương Nguyễn Kiều Anh hát. Nhân tiện chép về để sau này dễ tìm.
Tôi thích bốn câu:
Mà cỏ hoa man mác dấu thương đài
Để khách rượu làng thơ ngơ ngẩn
Hương tiêu Nam quốc mỹ nhân tận
Oán nhập Đông phong phương thảo đa.
Dấu thương đài là dấu rêu xanh. Thương (滄) là xanh, Đài (苔) là rêu.
Còn hai câu chữ Hán ở dưới, theo Bách độ Bách khoa (Baidu Baike) của TQ (http://baike.baidu.com/view/621509.htm?fromTaglist) thì là trong bài thơ Kinh Dạng đế hành cung, của Lưu Thương đời Đường, nghĩa là:
Hương tàn mỹ nhân Nam quốc hết
Giận vào gió Đông nhiều cỏ thơm.
Nhân tiện chép nguyên bài thơ Đường kia ra (bản chép là chữ giản thể theo trang Baidu của TQ), vì tôi thấy cũng không quá khó hiểu.
Thử địa tằng kinh thúy liễn qua,
Phù vân lưu thủy cánh như hà?
Hương tiêu Nam quốc mỹ nhân tận
Oán nhập Đông phong phương thảo đa.
Tàn liễu cung tiền không lộ diệp
Tịch dương xuyên thượng hạo yên ba
Hành nhân diêu khởi Quảng Lăng tứ
Cổ độ nguyệt minh vấn trạo ca.
Dịch:
Tựa đề: Qua hành cung của Dạng đế
Đất này từng thấy thúy liễn (xe vua, green chariot) qua
Mây trôi nước chảy rốt cuộc như thế nào?
Hương tàn mỹ nhân Nam quốc hết
Giận vào gió Đông cỏ thơm nhiều.
Liễu tàn trước cung không một lá ướt sương
Tịch dương trên sông mênh mông khói sóng.
Người đi thức dậy nhớ Quảng Lăng
Đò cũ trăng sáng nghe bài hát chèo thuyền.
Cuối cùng, xin kết thúc bằng 4 câu của Nguyễn Công Trứ trong bài ca trù:
Bóng kỳ đài giăng mặt nước như in,
Tàn thảo thụ lum xum toà cổ sát.
Chiếc cô vụ, mảnh lạc hà bát ngát
Hỏi năm nao vũ quán điếu đài.
Cổ sát là cái chùa cũ. Sát là từ Hán mượn từ tiếng Phạn, theo từ điển Thiều Chửu là cái cột trước cửa cái chùa để đánh dấu "đây là nhà chùa".
Cô vụ (hay cô phụ): con cò lẻ. Lạc hà: ráng chiều. Để ý tiếng Việt của Nguyễn Công Trứ rất hay: "chiếc cò lẻ" và "mảnh ráng chiều".
Vũ quán: quán múa, điếu đài: đài câu.
Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013
Cơ mà đằng trước, cơ mà đằng sau
Dạo 7, 8 năm gần đây tôi thấy người ta phát triển cái lối nói dùng chữ cơ mà thay cho chữ nhưng mà. Cái lối này xuất hiện đủ chỗ từ truyện ngắn của thầy Nhật Chiêu cho tới lên trên báo mạng, rồi lan ra cả mấy cái status facebook. Tôi luôn cảm thấy cái cách dùng này có chi không đúng đắn, nên không bao giờ dùng cả. Ở đây tôi sẽ thử phân tích chút xem sao.
Chữ cơ mà vốn được dùng tương tự chữ kia mà. Khi đó nó nằm ở cuối câu. Người ta có thể bảo rằng cụm này mang hàm ý nhấn mạnh điều vừa được nói tới.
Tôi ngồi nghiệm một lúc thì thấy ngoài cách lý giải lớt phớt hời hợt trên, chính xác mà nói, cụm này mang hàm ý trả lời cho câu hỏi tự đặt ra "Vì sao tôi nói cái ý vừa nói?"
Khái quát lên sẽ như vầy:
Khi chế biến nó lại tương đương nghĩa với nhưng mà, người ta vứt chữ cơ mà lên đầu câu hoặc nhét vào giữa hai vế, và xài y chang nhưng mà. Tôi lấy vài ví dụ:
Tôi không biết gốc gác của sự phát triển lối nói này. Có thể nó là một phương ngữ của một vùng nào đó, đột ngột phát triển thành một lối nói thông dụng được các bạn trẻ (và vài bạn già) dùng. Có thể bất chợt nó nảy ra từ một cộng đồng, một cá nhân nào đó, rồi nhiều người khác nhắm mắt nói theo. Tôi không và không muốn phản đối tiến trình phát triển của ngôn ngữ. Nhưng tôi thấy chúng ta nên có một cái nhìn phê phán hơn, để ý hơn trong lời nói của mình. Chúng ta có thể tôn vinh những thứ sáng tạo, nhưng đừng a dua và làm theo những cách nói sai của một vài cộng đồng nào đó.
Chữ cơ mà vốn được dùng tương tự chữ kia mà. Khi đó nó nằm ở cuối câu. Người ta có thể bảo rằng cụm này mang hàm ý nhấn mạnh điều vừa được nói tới.
Ví dụ: - Con không ăn bánh mì nữa đâu. Con vừa ăn cơm rồi cơ (kia) mà.
Tôi ngồi nghiệm một lúc thì thấy ngoài cách lý giải lớt phớt hời hợt trên, chính xác mà nói, cụm này mang hàm ý trả lời cho câu hỏi tự đặt ra "Vì sao tôi nói cái ý vừa nói?"
Lấy cái ví dụ trên, lời phát biểu trên có thể hiểu là mang hàm ý như sau: Con không ăn bánh mì nữa đâu, vì sao con nói như vậy, đó là vì con vừa ăn cơm rồi.
Lấy thêm ví dụ số hai: - Trời hôm nay đẹp nhỉ! Tối qua còn mới mưa cơ mà.
Câu này mang hàm ý: Trời hôm nay đẹp nhỉ! Vì sao tôi phải thốt lên như vậy, vì tối qua còn mới mưa, thế mà hôm nay đã đẹp thế này rồi.
Lấy ví dụ số ba nữa cho tăng độ tin cậy: - Ê, bỏ cái ví đó xuống! Của tao cơ mà!
Lại như cách phân tích cũ, câu này hàm ý: Ê, bỏ cái ví đó xuống. Vì sao tao phải hét lên như vậy, vì cái ví đó của tao [không phải của mày].
Khái quát lên sẽ như vầy:
[Phát biểu A]. [Phát biểu B] cơ mà.
= Tôi nói A. Vì sao tôi lại nói A, vì B.Đấy, cách dùng cơ mà tôi vốn biết là như thế.
Khi chế biến nó lại tương đương nghĩa với nhưng mà, người ta vứt chữ cơ mà lên đầu câu hoặc nhét vào giữa hai vế, và xài y chang nhưng mà. Tôi lấy vài ví dụ:
Vd4: Một đêm luyện hết đống season 8 của How I Met Your Mother hôm rày bỏ giữa chừng. Quá đã. Cơ mà vợ Ted sao xấu thế :( ---- status facebook của Le Minh Dao.
Vd5: Hôm nay đi chơi thật đã. Mệt cơ mà vui.Đại để là như thế. Tuy nhiên, xét kĩ một chút thì có thể thấy được cách dùng cơ mà này có sắc thái khác với nhưng mà. Nó thể hiện phần nào sự ngập ngừng của người nói. Chỉ thế thôi, tôi chưa thấy được chỗ nào khác nữa.
Tôi không biết gốc gác của sự phát triển lối nói này. Có thể nó là một phương ngữ của một vùng nào đó, đột ngột phát triển thành một lối nói thông dụng được các bạn trẻ (và vài bạn già) dùng. Có thể bất chợt nó nảy ra từ một cộng đồng, một cá nhân nào đó, rồi nhiều người khác nhắm mắt nói theo. Tôi không và không muốn phản đối tiến trình phát triển của ngôn ngữ. Nhưng tôi thấy chúng ta nên có một cái nhìn phê phán hơn, để ý hơn trong lời nói của mình. Chúng ta có thể tôn vinh những thứ sáng tạo, nhưng đừng a dua và làm theo những cách nói sai của một vài cộng đồng nào đó.
Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013
Đóa hồng có tên
Quả thật, "Tên của đóa hồng" là một bản dịch cực kỳ công phu của ông Lê Chu Cầu. Umberto Eco viết nên một cuốn sách đồ sộ, còn ông Chu Cầu hẳn cũng phải lao động rất mệt mỏi để chuyển cuốn sách tiếng Tây sang thành một bản Việt dịch tuyệt hảo.
Là một học giả semiotics (dịch là ký hiệu học chăng? tôi thấy hơi điêu) hàng đầu thế giới, cuốn tiểu thuyết đầu tay của Eco mang một tầm vóc (theo tôi là) lớn hơn so với những kiến thức về ký hiệu học giải trí của Robert Langdon trong truyện của Dan Brown (Langdon được miêu tả là giáo sư về symbology: cái quỷ này mới là ký hiệu học nè). Quyển sách thực sự khiến tôi choáng, không biết diễn tả thế nào, nhưng không phải choáng theo cái kiểu hồi nhỏ dại đọc những cuốn sách đồ sộ mà không hiểu gì hết, bất khả tri giác. Cảm giác choáng giống như kiểu vừa phải vật lộn với những ngôn từ, tranh luận thần học liên miên, vừa để ý và tận hưởng những liên tưởng, tưởng tượng được từ những cái semiosis đem lại. Ô kê, ngừng vấn đề này lại ở đây, tốt nhất là tôi không nên múa rìu nữa, tôi chả có học hành, nghiên cứu gì về ba cái vụ này, ngay cả chữ semiosis tôi còn không biết dịch như thế nào. Tóm lại, ý tôi muốn nói là nếu mà so với Eco thì truyện của Dan Brown đọc giải trí giống như đọc Đôrêmon vậy*.
Ông Lê Chu Cầu đã tỉ mỉ dùng cả 3 bản dịch: nguyên gốc tiếng Ý, bản dịch tiếng Đức vừa dịch vừa phóng túng chế thêm, và bản dịch tiếng Anh sát nhất nhưng sứt sẹo cắt bỏ lung tung. Trong quá trình đọc cuốn sách, tôi nghiệm ra quan niệm cho rằng bản dịch tiếng Anh luôn là bản dịch chuẩn, tối thượng, kinh điển, canonical... là một quan niệm ấu trĩ và sai lầm. Ví dụ chính là cuốn này, bản dịch của William Weaver lược bỏ tùm lum tà la, được ông Cầu đánh dấu bằng những dấu ngoặc vuông [] trong bản Việt dịch. Cả bản tiếng Ý cũng có một lỗi về logic, có lẽ là lỗi biên tập viên. Ông Cầu phát hiện, chú lại, so sánh rằng bản Anh dịch theo bản Ý nên dịch sai y chang, còn bản Đức chỉnh sửa lại nên diễn đạt đúng về mặt logic.
Ông Cầu cũng tẩn mẩn chú giải đường hoàng từng tích Thánh Kinh và tích thần thoại, cổ tích Tây đầy đủ. Thiển nghĩ ai cũng hiểu rằng đọc sách Tây mà có chú thích tích tiếc đầy đủ cũng thú vị y hệt đọc Truyện Kiều chú đủ tích Tàu, thế nên tôi chẳng cần nói thêm. Ngoài vụ này, ông Cầu cũng đã biên phụ họa chung với Eco về lịch sử Tây thời Trung Cổ (thứ mà đối với dân không chuyên như tôi phần nhiều mù mờ). Nhiều phần ông biên rất hay và thú vị, ví dụ như nhờ ông mà tôi biết được Tòa thánh có vụ bán giấy xá tội sẵn, kiểu như vé giữ chỗ thiên đường hay vé bảo kê khỏi xuống Hỏa ngục, để lấy tiền xây Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô ở Vatican. Chính vụ này là một trong những giọt nước tràn ly khiến Martin Luther tức quá chống lại Tòa thánh.
Dưới đây tôi sẽ ngừng ca tụng ông Eco, ông Cầu và bản dịch của ông, để mà biên lại vài chỗ tôi rút tỉa trong quá trình đọc sách:
1. Trang 56: ông Cầu dịch đoạn miêu tả hình ảnh 24 vị niên lão ngồi dưới chân Chúa Trời trên cánh cổng tu viện có dùng chữ "đội mão triều thiên". Tôi đoán có lẽ chữ "mão triều thiên" là dịch từ cái tiara. Công giáo ở Việt Nam (hay Wiki Việt) dịch cái mão Giáo hoàng đội là "mão triều thiên ba tầng", dùng nhiều trở thành quen luôn. Việc ông Cầu dịch vậy nghĩ cũng chẳng có gì sai. Chẳng qua tôi sực nhớ tới "Mão triều thiên, Mão triều thiên / Ôi hoài vọng hoa niên" của Văn Cao với cơn sốt "Ngàn năm áo mũ" dạo này nên ngứa miệng nói chơi thôi. Tôi tra wiki tiếp thì biết TQ gọi cái papal tiara là Tam trùng miện và Nhật thì gọi là Giáo hoàng quan. Nói cho ra nhẽ thì cách gọi "mão triều thiên" là cách gọi kiểu lấy cái mình có để gọi cái chưa có trong tiếng Việt, nhưng truy tới gốc thì nó không chính xác. Nếu tôi, tôi sẽ dịch giản dị là "đội miện".
2. Trang 138: thầy William nói với Adso về việc người ta thời này (thời Trung cổ) cứ phải khăng khăng củng số niềm tin nơi người dân chất phác bằng cách suốt ngày đi rao giảng về nỗi đau khổ của Chúa Giêsu, của Đức mẹ, và đặc biệt là rao giảng về những đày ải nơi địa ngục. Tôi bất chợt thấy tình cảnh của châu Âu một thời cũng y hệt bên đạo Bụt ở châu Á trung đại, khi mà những quan niệm về địa ngục cũng xuất hiện và lan tỏa đầy rẫy trong dân gian. Bụt có giảng về phương tiện, rằng với từng loại chúng sinh có từng cách thức khác nhau để mà parasamgate (vượt qua bờ kia hoàn toàn), đạt cứu cánh cần đạt. Tôi nghĩ địa ngục cũng là một loại phương tiện để giáo dục một loại chúng sinh nào đó về đạo đức học Phật giáo. Tuy thế, cần phải xét kỹ lưỡng xem nó có liễu nghĩa hay không, có thỏa đủ ba cái ấn không, trước khi lạm dụng nó, in thành poster cỡ bự treo đầy tường đầy cổng chùa chiền để hù dọa người ta.
Thôi, tôi không nhiều lời về vụ này nữa. Lạc đề rồi.
3. Trang 430: ông Cầu chú về Hector, Achilles, Agamemnon và Priam, đụng trúng chỗ nên tôi ngứa miệng thôi. Ông chú thích sai bảo rằng đây là các nhân vật trong Odyssey của Homer. Thực ra trong Odyssey còn có mỗi Agamemnon thôi. Đúng ra phải nói rằng đây là các nhân vật trong Iliad.
4. Trang 475 chép lại đoạn trong phần hát bài thánh ca Dies irae (Ngày phán xét) và trang 525 chép lại đoạn Nuốt cuốn sách nhỏ.
Cả hai đoạn này đều quen thuộc với tôi. Phần lời Dies irae tiếng Latin tôi nghe và hát đi hát lại tới thuộc từ Lacrimosa trong các bản Requiem. Tôi lại cũng nhớ tới phần Dies irae trong Requiem của Verdi, phần nhạc dữ dội rất kinh điển, do Abbado chỉ huy:
Tự dưng gặp lại những dữ liệu quen thuộc, hẳn trong lòng phải bồi hồi, thêm phần thú vị và đẻ ra nhiều semiosis khác, chẳng phải ru?
5. Và cuối cùng, trang 537, thầy William nói với cậu chủng sinh Adso những lời cuối cùng của sách: "Chân lý duy nhất hữu ích là những công cụ; hãy quẳng chúng đi sau khi đạt mục đích". Tôi nghe thấy ở đây như một lời đồng vọng với dụ ngôn về cái bè của Bụt: Pháp của tôi dạy cũng giống chiếc bè, qua sông rồi thì bỏ lại ở bến, chứ vác theo sau lưng làm gì.
Quỷ không phải Satan. Quỷ chính là tính kiêu căng của tinh thần, là đức tin không chút mỉm cười, là sự thật chẳng hề bợn hoài nghi. Quỷ tàn nhẫn vì nó biết nó đi đâu, và khi đi nó luôn quay về nơi nó xuất phát. Huynh chính là Quỷ, và huynh sống trong bóng tối giống như Quỷ.
(Umberto Eco - Tên của đóa hồng, Lê Chu Cầu dịch)
_______________________
*Để khỏi bị chụp mũ, tôi cũng xin phép nói luôn là tôi không hề có ý chê truyện Dan Brown. Tôi cũng khoái bác Đen Nâu này lắm. Hồi tôi chê cuốn Kẻ trộm sách đọc nhây nhây, không hay bằng Dan Brown, tôi đã bị ném đá, chụp mũ nhiều rồi.
Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013
Những cây cầu đi qua
1.
Trong phim Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain có một cảnh rất nhanh chiếu một đoàn xe đạp chạy qua một chiếc cầu. Đó là cảnh tôi nhớ nhất. Nhớ từ lần tôi bất chợt xem qua cuốn phim ở đâu đó [trên mạng].
2.
3.
Trong phim Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain có một cảnh rất nhanh chiếu một đoàn xe đạp chạy qua một chiếc cầu. Đó là cảnh tôi nhớ nhất. Nhớ từ lần tôi bất chợt xem qua cuốn phim ở đâu đó [trên mạng].
Tôi nhớ vì cái hình ảnh một đoàn xe đạp chạy qua một chiếc cầu cứ tua đi tua lại trong tâm trí tôi, có lẽ vào cả giấc mơ. Tôi cũng không hiểu vì sao. Tôi không nghĩ tôi bị ám ảnh bởi xe đạp. Từ nhỏ, cứ dịp hè về, hay chả cần hè, cứ chiều đi học về, là tôi lang thang khắp nơi trên chiếc xe đạp nhỏ chạy trên lề đường. Trong chừng hai tiếng đồng hồ buổi chiều, tôi la cà khắp các ngõ hẻm ở vùng Gò Vấp, địa bàn đình An Nhơn mở rộng qua gần bên Xóm Mới. Những cuộc phiêu lưu như vậy diễn ra trong suốt thời kỳ tôi độ sáu tới tám chín tuổi gì đó, và kết thúc vào cái ngày bố biết tôi lén đi với ông anh chạy ra xa lộ xe tải chạy rầm rầm. Từ đó, tôi bị dẹp vụ xe đạp. Thế nhưng, tuy tuổi thơ gắn liền như vậy với chiếc xe đạp, kể cả thời kỳ học cấp hai tiếp tục đạp xe đi học cộng với những chuyến phiêu lưu bằng xe đạp bắt đầu mở rộng hơn, tôi hoàn toàn không có bất cứ một thôi thúc nào về chuyện phải được đạp xe. Nói vậy nghĩa là tôi hoàn toàn không bị ám ảnh bởi chiếc xe đạp.
2.
Vậy có lẽ tôi bị ám ảnh bởi những cây cầu.
3.
Những năm đầu đời, quãng đường thân thuộc nhất với tôi là quãng đường bốn cây số về nhà ngoại. Từ rìa đông bắc Gò Vấp chạy 4 cây số qua quận 12, tôi đi qua bốn cây cầu: cầu An Lộc, cầu Giao Khẩu, cầu Ba Thôn ở ngoài, và cây cầu Ba Thôn ngắn ở đường bên trong. Tôi lớn lên cùng với việc từng cây cầu (trừ cầu An Lộc qua sông Vàm Thuật) được đập ra và xây mới. Cây cầu Ba Thôn nối từ nhà ngoại qua chợ được đập ra, rồi con đường đất nhỏ bắt đầu được nâng lên và tráng nhựa. Tôi vẫn nhớ những buổi sáng bà ngoại dắt tôi len qua cây cầu nhỏ chưa hủy hoàn toàn để ra tới chợ phía bên kia cầu, và cả những buổi trưa leo cầu trốn nhà cùng mấy đứa anh em đi chơi điện tử. Ngày ngoại mất, năm tôi tám tuổi, cây cầu đập luôn, xe tang không qua được, phải đi vòng ra xa lộ. Tôi vẫn nhớ mình ngồi trên xe tang, và cứ mỗi lần đi qua một cây cầu là lại nói lên để cho ngoại nghe: "Mình qua cầu Giao Khẩu rồi nha ngoại!".
4.
Cứ vậy, dần lớn lên, danh sách những cây cầu thân thuộc trong thành phố càng mở rộng ra, những cây cầu Kiệu, cầu Công Lý, cầu Khánh Hội, vân vân. Tôi vẫn nhớ cảm giác của mình những năm cuối cấp hai đầu cấp ba khi chạy xe qua cây cầu Công Lý mới. Đỉnh cầu được nâng lên cao hơn cầu cũ nhiều. Trong thoáng chốc băng qua cái đỉnh parabol, nhìn chớp nhoáng xuống chùa Vĩnh Nghiêm, phóng mắt nhẹ ra phía trước thấy những cao ốc phía trung tâm thành phố, lòng tôi ngợp một niềm lâng lâng, như một kiểu khoái cảm nhẹ nhàng. Tôi đã miêu tả cảm giác này trong một bài blog hồi xa xưa đó.
Cứ vậy, dần lớn lên, danh sách những cây cầu thân thuộc trong thành phố càng mở rộng ra, những cây cầu Kiệu, cầu Công Lý, cầu Khánh Hội, vân vân. Tôi vẫn nhớ cảm giác của mình những năm cuối cấp hai đầu cấp ba khi chạy xe qua cây cầu Công Lý mới. Đỉnh cầu được nâng lên cao hơn cầu cũ nhiều. Trong thoáng chốc băng qua cái đỉnh parabol, nhìn chớp nhoáng xuống chùa Vĩnh Nghiêm, phóng mắt nhẹ ra phía trước thấy những cao ốc phía trung tâm thành phố, lòng tôi ngợp một niềm lâng lâng, như một kiểu khoái cảm nhẹ nhàng. Tôi đã miêu tả cảm giác này trong một bài blog hồi xa xưa đó.
Rồi khi đã đủ lớn để rong chơi [trời phương ngoại?] ra tới tận cây cầu Phú Mỹ khổng lồ, tôi dường trải qua lại niềm sung sướng cũ đã nhờn theo năm tháng. Mỗi lần bí chỗ đi chơi với mấy đứa bạn, tôi đều gợi ý hãy chạy ra cầu Phú Mỹ ở quận 7. Lúc đầu tôi chỉ cho đó là một ý tưởng bất chợt, nảy ra khi không còn chỗ nào khác để đi, rồi từ từ mới nhận ra tôi đã bị những cây cầu ám. Nói cho cùng, còn chỗ nào để ngắm Sài Gòn thú vị hơn việc chạy xe trên những nhịp to lớn, cao dần cao dần của cầu Phú Mỹ, nhìn xuống dòng sông Sài Gòn cuồn cuộn phía dưới, nhìn những bãi cát phía cảng, nhìn những con tàu bập bềnh, nhìn xưởng đóng tàu chất đầy gỗ...
5.
Tôi rất thích game pokemon phần thứ 5, nơi lấy bối cảnh là Unova, vùng đất của những cây cầu. Mỗi cây cầu là một nét đẹp, mỗi lần băng qua là một niềm vui. Cây cầu Làng [ビレッジブリッジ - Village Bridge] cổ kính, có những ngôi nhà bằng đá, và nền nhạc enka. Cây cầu Skyarrow lại là một cây cầu dây văng hoành tráng, nhìn xuống dòng sông rộng, trông ra được đô thị Castelia và thấy cả con tàu Royal Unova chạy bên dưới. Cây cầu Driftveil hay còn kêu là cầu Charizard là một cây cầu thanh nhã mang màu đỏ Charizard... Tôi yêu những cây cầu ở Unova cũng giống như yêu những cây cầu thực vậy.
Tôi rất thích game pokemon phần thứ 5, nơi lấy bối cảnh là Unova, vùng đất của những cây cầu. Mỗi cây cầu là một nét đẹp, mỗi lần băng qua là một niềm vui. Cây cầu Làng [ビレッジブリッジ - Village Bridge] cổ kính, có những ngôi nhà bằng đá, và nền nhạc enka. Cây cầu Skyarrow lại là một cây cầu dây văng hoành tráng, nhìn xuống dòng sông rộng, trông ra được đô thị Castelia và thấy cả con tàu Royal Unova chạy bên dưới. Cây cầu Driftveil hay còn kêu là cầu Charizard là một cây cầu thanh nhã mang màu đỏ Charizard... Tôi yêu những cây cầu ở Unova cũng giống như yêu những cây cầu thực vậy.
6.
Vậy thì, có gì nơi những cây cầu làm tôi mê mẩn? Phải chăng là cảm thức được kết nối? Hay là ảnh tượng dòng nước chảy phía dưới? Tôi nghĩ là vì nhiều lý do kiểu đó gộp lại. Có lẽ cũng là cái cảm giác nửa gần nửa xa. Cũng là cái đong đưa mơn man của lời ru ví dầu cầu ván đóng đinh tôi nghe từ thuở bé, từ thời bắt đầu biết nhớ, biết hỏi, biết phân biệt được tên của những cây cầu đầu tiên trên đường về nhà ngoại.
Vậy thì, có gì nơi những cây cầu làm tôi mê mẩn? Phải chăng là cảm thức được kết nối? Hay là ảnh tượng dòng nước chảy phía dưới? Tôi nghĩ là vì nhiều lý do kiểu đó gộp lại. Có lẽ cũng là cái cảm giác nửa gần nửa xa. Cũng là cái đong đưa mơn man của lời ru ví dầu cầu ván đóng đinh tôi nghe từ thuở bé, từ thời bắt đầu biết nhớ, biết hỏi, biết phân biệt được tên của những cây cầu đầu tiên trên đường về nhà ngoại.
Cầu Cobden bắc qua sông Itchen ở Southampton, nguồn discoversouthampton.co.uk
Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013
Bảy mươi lăm lời mỹ tán thần Ra
Kính dâng lạy ngài, ơi thần Ra, thần Sư Tử, thần Mèo chí tôn, đấng Phục Cừu của các thần và Phán Quan toàn thế, Tổng soái trong các đấng Minh quân và Thống lĩnh của Chu kỳ Thần thánh; thành kính cúi lạy Ngài trong thân xác thần Mèo chí tôn!
trích sách Bảy mươi lăm lời mỹ tán thần Ra, khoảng năm 1700 trước CN.
Hình trong cuốn sách này:
Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013
Motomezuka (求塚)
Kịch Nô loại bốn, nguyên tác của Kan'ami viết theo cốt truyện trong Yamato Monogatari (Đại Hòa vật ngữ).
Tóm tắt kịch bản bằng tiếng Anh của David Surtasky
nguồn: http://theatrenohgaku.wordpress.com/2013/04/30/motomezuka-%E6%B1%82%E5%A1%9A/
Dịch: QH
___________________
Nói trước mấy lời:
Trước hết, tôi xin nói luôn là giống như nhiều người, tôi không cổ xúy (đánh trống thổi kèn/sáo gì đó) cho việc dịch một văn bản tiếng Á Đông (ở đây là tiếng Nhật) qua ngôn ngữ trung gian phương Tây, cho dù hồi xưa tôi có lỡ tay dịch truyện "Người băng" của ông Haruki.
Nhưng ở đây tình hình lại khác. Đây không phải là một văn bản tiếng Nhật mà là bản tóm tắt trên mạng của trang Theatre Nohgaku Blog bằng tiếng Anh. Vả lại tôi dịch cũng chẳng để đem bán cho ai. Nhưng dù vậy, tôi cũng cố gắng hết sức để đem lại cho văn bản này một chút không khí phương đông bên cạnh việc văn phạm của nó (không tránh khỏi) bị đặc sệt mùi Tây. Sở dĩ tôi dịch cái tóm tắt này là do bài dịch trước tui dịch có nhắc tới vở Motomezuka này và tôi thấy đây là một vở hay, nên tôi đem dịch.
Motomezuka viết bằng hai chữ kanji là chữ Cầu và chữ Trủng. Cầu nghĩa là tìm (mưu cầu, tìm cầu, độc cô cầu bại, vân vân) và Trủng nghĩa là cái mộ. Chữ Motomezuka là kunyomi (âm Nhật), không phải onyomi của hai chữ Cầu Trủng, và bản thân nó nghĩa là gì thì tui không biết. Tui đoán zuka là cái mộ, còn motome là cái quỷ gì thì tui tra jisho.org nó không ra.
Trong văn bản sẽ nhắc tới cái Sought-for-Grave các bạn tiếng Anh dịch chữ Motomezuka ra. Tui sẽ tạm dịch là Ngôi Cầu mộ, nghĩa là ngôi mộ [mọi người] tìm [đến]. Hoàn toàn không phải cái mộ trên cầu, cũng không phải cái cầu trên mộ(?!). Xin đừng nhầm lẫn.
________________
Như nhiều kịch bản Nô khác, mở đầu có một đoàn các nhà sư từ phương Tây đang trên đường về Kinh Đô (Kyōto). Người quấn bộ du y, các sư trèo đèo vượt biển. Băng qua núi non cỏ cây trập trùng, bơi thuyền vượt biển, hướng về đích đến, cuối cùng các ngài cũng tới làng Ikuta, một ngôi làng ở vùng lâm tuyền [near the forest and the river]. Các ngài cũng chỉ biết tên vùng này thôi, chứ chẳng biết gì hơn cả. Khi đến nơi, các ngài trông thấy một toán thiếu nữ từ trong làng. Dù trời vẫn còn mang cái rét đầu xuân, toán thiếu nữ đang trên đường đi hái rau.
Những cây rau đầu tiên của mùa xuân đã nhú mầm trên những cánh đồng vùng Ikuta. Tay áo toán thiếu nữ bay phất phơ giữa gió xuân lồng lộng dưới bầu trời thiên thanh xanh ngắt. Trên rừng, chồi non đã bắt đầu đâm ra, nhưng sâu trong núi, tuyết vẫn còn đọng trên nhành thông. Các cô gái nghĩ, có lẽ lúc này ở Kinh Đô, tiết trời đã ấm hơn Ikuta nhiều. Thế nhưng số phận đã sắp đặt họ phải ở đây, trong tiết trời lạnh giá, ra đồng hái lá rau. Ngay cả nếu mà tuyết phủ đầy đường đi, toán thiếu nữ cũng biết lối mà lần ra tới đồng. Nếu họ đợi hết mùa tuyết, rau sẽ già không dùng được nữa. Thế là, tuy xuân chưa đến vẹn toàn, các thiếu nữ vẫn ra đồng hái rau.
Một nhà sư đến gần và hỏi một cô gái, mạn hỏi nơi này phải là Ikuta chăng? Vâng thưa đúng ạ, cô gái đáp, có lẽ thầy đã biết tên vùng này. Thưa, thầy không thấy cánh rừng phủ dày lối kia sao ạ? Dòng nước các thầy vừa lội qua chính là dòng Ikuta-gawa trong lành chảy từ rặng núi ra biển đấy ạ. Dòng sông đương xanh ngăn ngắt báo hiệu xuân về.
Thế là đến Ikuta rồi, nhà sư nói. Rừng cây này, dòng sông này, biển cả này. Toàn những địa danh nổi tiếng chúng ta đã nghe đến từ tít vùng miền tây xa xôi. Nhìn này - sương đang phủ đầy bãi cỏ kìa - nhưng thưa, chúng bần tăng muốn hỏi đường đến ngôi Cầu mộ.
Ngôi Cầu mộ ạ? Thưa, chúng tôi đã nghe qua nơi này, nhưng thú thực chúng tôi chẳng biết nhiều nhặn gì đâu ạ. Xin các thầy đừng nên phí rỗi thời giờ nơi đây mà nên tiếp tục lên đường. Các vị thầy chùa này khiến cô gái nhớ tới một bài thơ cổ, một bài thơ ca ngợi vẻ kiều diễm của các nàng thôn nữ hái rau, về những lữ khách mải mê ngắm nhìn các cô mà chậm trễ mất chuyến đi. Thật ngờ nghệch làm sao! Các sư lẽ ra nên tiếp tục cất bước. Kinh Đô gần đến lắm rồi, sao lại còn chần chừ làm gì nữa?
Tay áo các cô thôn nữ đã lạnh cóng, tuyết đọng thành băng, còn rau trên đồng vẫn phủ đầy những tuyết. Một làn băng mỏng phủ lên trên lớp bùn, các lá cải non ẩn mình bên dưới. Tuy đã sang xuân rồi, nhưng nhìn tuyết rơi tưởng đông vẫn còn. Xuân lạnh làm sao, gió ảm đạm làm sao, tuyết lẫn cả vào làn gió thổi bạt vào cơn sóng bạc đầu trên dòng sông. Các thôn nữ vội vã tiếp tục công việc, bỏ mặc các sư, nhanh tay hái rau rồi về nhà.
Nhưng cô thiếu nữ lúc nãy chưa về, cô đứng lại. Nhà sư thấy vậy, tò mò hỏi, thưa, tại sao các chị em khác đã ra về hết mà cô vẫn còn chưa về? Các thầy lúc nãy có hỏi về ngôi Cầu mộ, nếu các thầy muốn đến đó, xin đi theo tôi ạ. Họ băng qua đồng một đoạn ngắn, đến một ngôi mộ rêu phủ, thực ra nhìn giống một đụn đất hơn. Đây ạ. Đây là ngôi Cầu mộ, cô gái nói. Vì sao lại có tên này, nhà sư hỏi. Cô gái kể lại câu chuyện:
Nhiều năm trước có một cô gái tên là Unai sống trong làng này. Có hai chàng trai trẻ tên là Sasada và Chinu đều đem lòng yêu cô. Một ngày, cả hai người cùng gửi cho cô một bức thư tình, thổ lộ lòng mình và tình yêu mãnh liệt của mình đối với cô gái. Unai cảm thấy lòng rối bời, nếu cô đáp lại tình cảm một người thì người kia thể nào cũng sẽ mang mối ghen tuông tị nạnh. Động lòng trắc ẩn, cô cảm thấy mình không nên chọn ai cả. Cha mẹ cô lại nghĩ khác, ông bà bảo hai chàng trai hãy đọ tài với nhau, ai thắng sẽ lấy được cô Unai xinh đẹp - nhưng hai chàng ngang sức ngang tài, liên tục hòa nhau bất kể thi thố trò gì. Ngay cả khi họ thi bắn cung nhắm vào con vịt bơi trên sông, cả hai mũi tên đều trúng vào cùng một cánh của con vịt. Nhìn thấy con vịt, Unai đau lòng nghĩ đến đôi vịt sống trên dòng sông, nghĩ rằng chính vì nàng mà chúng đã bị chia ly. Trong cơn khốn bĩ, Unai quyết định quyên sinh. Cô gieo mình xuống dòng Ikuta-gawa, tay áo nổi lềnh bềnh như đôi cánh gãy. Khi Sasada và Chinu biết việc, hai anh đau buồn khôn xiết. Thế gian và cuộc sống này đâu còn gì ý nghĩa. Hối hận, cả hai lao vào chém giết lẫn nhau, kết thúc mối thù địch mãi mãi.
Cái chết của tất cả họ đều là lỗi của tôi, cô gái thốt lên. Xin các thầy hãy ở lại, hãy cầu siêu cho tôi. Nói đoạn, cô biến thành làn khói mỏng và bay vào trong mộ.
Bối rối và lúng túng trước sự việc vừa rồi, các nhà sư đứng như trời trồng trên cánh đồng giá lạnh nhìn ngôi mộ. Một người đi từ làng ngang qua, thấy vậy hỏi họ đang làm gì. Các sư kể lại cho bác này nghe. Bác này nghe vậy liền kể lại câu chuyện về nàng Unai đáng thương, về cái chết bất hạnh của cô, về lỗi lầm cô mang khiến cô vẫn còn kẹt lại và vương vấn thế gian này. Bác cố nài các sư hãy cầu độ cho cô sớm siêu thoát.
Khi mặt trời lặn, các nhà sư bắt đầu cất tiếng tụng kinh cầu cho vong hồn cô Unai. Các thầy cầu cho cô tìm được bình an, dù chỉ trong một khoảnh khắc. Các thầy cầu cho cô được giác ngộ, cầu cho cô thoát được vòng quay tiếp theo của bánh xe nghiệp. Dưới bóng cácnhà sư giờ đang phủ tràn lên ngôi mộ, hồn cô gái Unai bay ra.
Trong chiếc áo quàn sũng nước, Unai nhìn các sư bằng đôi mắt sầu thảm. Trước này chẳng ai lui tới ngôi mộ của cô, vốn nằm giữa đồng không mông quạnh. Chỉ có bầy thú hoang đi tìm xương cùng lũ quỷ ma hú gào trong gió trên ngọn thông là hay lui tới. Cuộc đời trần thế này thực rất ngắn ngủi làm sao.
Người ta nói rằng hồn người chết thường chịu khổ ải dày vò trong một ngày, hay một đêm, trải qua tám ức [hundred millions, nghĩa là vạn vạn] luyến ái, hay những vọng tưởng khó chịu. Thế nhưng Unai đã phải trải qua bao nhiêu trầm luân, suốt bấy nhiêu năm từ khi cô quyên sinh. Cô mong mỏi trở lại thế gian, nhưng lại mắc kẹt lại mãi mãi bên trong tầng rêu trên ngôi mộ nằm dưới bóng cỏ dày um. Cô đang bị kẹt lại trong ngôi nhà cháy* này bởi chính những luyến ái của mình.
Các nhà sư đều động lòng xót thương trước nỗi đau trong tâm hồn cô gái, họ xin cô hãy cởi mối ràng buộc và thoát khỏi những âu lo trần thế và những khổ đau dưới mồ sâu. Thế gian này có lẽ chỉ là nơi trú ngụ của cái ác hiển bày, là địa ngục, là cảnh giới của ngạ quỷ và yêu ma, là nơi đầy tràn khổ não sinh lão bệnh tử.
Unai cảm tạ các sư. Cô từng bị trói buộc vào khổ đau vô tận không biết đường ra, nay những lời của các sư như một tia sáng nhỏ rọi trong làn khói tối đen của địa ngục. Tuy vậy, nỗi khiếp sợ vẫn còn quẩn quanh nơi tâm cô. Xa xa, cô trông thấy Sasada, rồi thấy Chinu, hai chàng trai cầu hôn cô đã chết từ lâu. Họ tiến tới nắm lấy tay cô: "Hãy đi với anh! Hãy đi với anh!", họ nói. Cô chẳng còn sức mà vùng vẫy thoát ra. Khi hai bóng ma bay đi, cô trông thấy trước mặt mình là con vịt bị thương - biến thành hình một con chim sắt - với cái mỏ thép dữ dằn, móng vuốt sắc như dao, bay đến mổ vào sọ mình, cắn vào xương tủy cô!
Lửa ma trơi hiện lên quanh ngôi mộ, mỗi ngọn là một hồn người đang chuyển hình sang dạng quỷ ma. Họ nhiếc mắng quất roi và đuổi theo Unai. Cô cố vùng lên chạy thoát, nhưng rồi nhận ra trước mặt là trùng dương còn sau lưng là biển lửa. Nhìn sang trái, sang phải, cô đang bị kẹt giữa nước và lửa, không lối nào thoát. Cô tựa lưng vào cây cột trong ngôi nhà cháy tìm nơi ngơi nghỉ, nhưng rốt cục chỉ làm nó bắt lửa thêm. Cô choàng tay ôm lấy cây cột ngùn ngụt lửa khói để mà ngã gục xuống, nhưng rồi lại bị dựng lên. Lũ quỷ ma địa ngục tiếp tục quất lên người cô những làn roi tàn bạo. Vì lầm lỡ mà giờ đây cô phải chịu khổ ải liên miên nơi Bát Đại Địa Ngục. Hãy chứng kiến, hỡi người, và ăn năn hối cải đi thôi. Các nhà sư run rẩy nhìn cảnh tượng địa ngục đáng sợ trước mắt:
Đẳng hoạt địa ngục, Hắc thằng địa ngục, Chúng hợp địa ngục, Hào khiếu địa ngục, Đại khiếu địa ngục, Viêm nhiệt địa ngục, Đại nhiệt địa ngục và Vô gián địa ngục, nơi Unai rơi xuống như một chiếc lá cháy trong lò thiêu ngùn ngụt.
Bóng tối bao trùm trở lại. Lửa tắt dần. Bọn quỷ ma biến mất. Unai trở về ngôi nhà cháy. Đâu là nơi cô từng yên nghỉ? Cô nhìn quanh chán chường, ngôi Cầu mộ đâu rồi? Rồi cô biến trở lại vào trong ngôi mộ lấp bên dưới đám cỏ um tùm. Như sương trên cánh đồng, như khói mù nơi đỉnh núi, cô tan biến mất. Unai trở về lại ngôi Cầu mộ của mình.
*Ngôi nhà cháy: chỉ thế gian này, có lẽ dựa vào nhiều ví dụ trong kinh Hoa sen ví thế gian như ngôi nhà đang cháy và dụ ngôn của Bụt cũng kể trong kinh Hoa sen về người cha muốn cứu những đứa con ra khỏi ngôi nhà cháy phải dùng nhiều phương tiện khác nhau tùy thuộc vào từng đứa để dụ chúng ra.
____________
Xin cảm ơn đã đọc. Xin lỗi luôn vì tui không chú thích gì về đám bát đại địa ngục, vì tui không đam mê gì phần này. Các bạn đam mê địa ngục có thể lên wiki tra Bát nhiệt hay bát đại địa ngục để đọc về các địa ngục này cho thỏa chí tang bồng. Bạn nào muốn tìm hiểu tiếng Anh dịch các địa ngục này ra sao có thể vào trang web của các bạn Theatre Nohgaku.
Tóm tắt kịch bản bằng tiếng Anh của David Surtasky
nguồn: http://theatrenohgaku.wordpress.com/2013/04/30/motomezuka-%E6%B1%82%E5%A1%9A/
Dịch: QH
___________________
Nói trước mấy lời:
Trước hết, tôi xin nói luôn là giống như nhiều người, tôi không cổ xúy (đánh trống thổi kèn/sáo gì đó) cho việc dịch một văn bản tiếng Á Đông (ở đây là tiếng Nhật) qua ngôn ngữ trung gian phương Tây, cho dù hồi xưa tôi có lỡ tay dịch truyện "Người băng" của ông Haruki.
Nhưng ở đây tình hình lại khác. Đây không phải là một văn bản tiếng Nhật mà là bản tóm tắt trên mạng của trang Theatre Nohgaku Blog bằng tiếng Anh. Vả lại tôi dịch cũng chẳng để đem bán cho ai. Nhưng dù vậy, tôi cũng cố gắng hết sức để đem lại cho văn bản này một chút không khí phương đông bên cạnh việc văn phạm của nó (không tránh khỏi) bị đặc sệt mùi Tây. Sở dĩ tôi dịch cái tóm tắt này là do bài dịch trước tui dịch có nhắc tới vở Motomezuka này và tôi thấy đây là một vở hay, nên tôi đem dịch.
Motomezuka viết bằng hai chữ kanji là chữ Cầu và chữ Trủng. Cầu nghĩa là tìm (mưu cầu, tìm cầu, độc cô cầu bại, vân vân) và Trủng nghĩa là cái mộ. Chữ Motomezuka là kunyomi (âm Nhật), không phải onyomi của hai chữ Cầu Trủng, và bản thân nó nghĩa là gì thì tui không biết. Tui đoán zuka là cái mộ, còn motome là cái quỷ gì thì tui tra jisho.org nó không ra.
Trong văn bản sẽ nhắc tới cái Sought-for-Grave các bạn tiếng Anh dịch chữ Motomezuka ra. Tui sẽ tạm dịch là Ngôi Cầu mộ, nghĩa là ngôi mộ [mọi người] tìm [đến]. Hoàn toàn không phải cái mộ trên cầu, cũng không phải cái cầu trên mộ(?!). Xin đừng nhầm lẫn.
________________
Như nhiều kịch bản Nô khác, mở đầu có một đoàn các nhà sư từ phương Tây đang trên đường về Kinh Đô (Kyōto). Người quấn bộ du y, các sư trèo đèo vượt biển. Băng qua núi non cỏ cây trập trùng, bơi thuyền vượt biển, hướng về đích đến, cuối cùng các ngài cũng tới làng Ikuta, một ngôi làng ở vùng lâm tuyền [near the forest and the river]. Các ngài cũng chỉ biết tên vùng này thôi, chứ chẳng biết gì hơn cả. Khi đến nơi, các ngài trông thấy một toán thiếu nữ từ trong làng. Dù trời vẫn còn mang cái rét đầu xuân, toán thiếu nữ đang trên đường đi hái rau.
Những cây rau đầu tiên của mùa xuân đã nhú mầm trên những cánh đồng vùng Ikuta. Tay áo toán thiếu nữ bay phất phơ giữa gió xuân lồng lộng dưới bầu trời thiên thanh xanh ngắt. Trên rừng, chồi non đã bắt đầu đâm ra, nhưng sâu trong núi, tuyết vẫn còn đọng trên nhành thông. Các cô gái nghĩ, có lẽ lúc này ở Kinh Đô, tiết trời đã ấm hơn Ikuta nhiều. Thế nhưng số phận đã sắp đặt họ phải ở đây, trong tiết trời lạnh giá, ra đồng hái lá rau. Ngay cả nếu mà tuyết phủ đầy đường đi, toán thiếu nữ cũng biết lối mà lần ra tới đồng. Nếu họ đợi hết mùa tuyết, rau sẽ già không dùng được nữa. Thế là, tuy xuân chưa đến vẹn toàn, các thiếu nữ vẫn ra đồng hái rau.
Một nhà sư đến gần và hỏi một cô gái, mạn hỏi nơi này phải là Ikuta chăng? Vâng thưa đúng ạ, cô gái đáp, có lẽ thầy đã biết tên vùng này. Thưa, thầy không thấy cánh rừng phủ dày lối kia sao ạ? Dòng nước các thầy vừa lội qua chính là dòng Ikuta-gawa trong lành chảy từ rặng núi ra biển đấy ạ. Dòng sông đương xanh ngăn ngắt báo hiệu xuân về.
Thế là đến Ikuta rồi, nhà sư nói. Rừng cây này, dòng sông này, biển cả này. Toàn những địa danh nổi tiếng chúng ta đã nghe đến từ tít vùng miền tây xa xôi. Nhìn này - sương đang phủ đầy bãi cỏ kìa - nhưng thưa, chúng bần tăng muốn hỏi đường đến ngôi Cầu mộ.
Ngôi Cầu mộ ạ? Thưa, chúng tôi đã nghe qua nơi này, nhưng thú thực chúng tôi chẳng biết nhiều nhặn gì đâu ạ. Xin các thầy đừng nên phí rỗi thời giờ nơi đây mà nên tiếp tục lên đường. Các vị thầy chùa này khiến cô gái nhớ tới một bài thơ cổ, một bài thơ ca ngợi vẻ kiều diễm của các nàng thôn nữ hái rau, về những lữ khách mải mê ngắm nhìn các cô mà chậm trễ mất chuyến đi. Thật ngờ nghệch làm sao! Các sư lẽ ra nên tiếp tục cất bước. Kinh Đô gần đến lắm rồi, sao lại còn chần chừ làm gì nữa?
Tay áo các cô thôn nữ đã lạnh cóng, tuyết đọng thành băng, còn rau trên đồng vẫn phủ đầy những tuyết. Một làn băng mỏng phủ lên trên lớp bùn, các lá cải non ẩn mình bên dưới. Tuy đã sang xuân rồi, nhưng nhìn tuyết rơi tưởng đông vẫn còn. Xuân lạnh làm sao, gió ảm đạm làm sao, tuyết lẫn cả vào làn gió thổi bạt vào cơn sóng bạc đầu trên dòng sông. Các thôn nữ vội vã tiếp tục công việc, bỏ mặc các sư, nhanh tay hái rau rồi về nhà.
Nhưng cô thiếu nữ lúc nãy chưa về, cô đứng lại. Nhà sư thấy vậy, tò mò hỏi, thưa, tại sao các chị em khác đã ra về hết mà cô vẫn còn chưa về? Các thầy lúc nãy có hỏi về ngôi Cầu mộ, nếu các thầy muốn đến đó, xin đi theo tôi ạ. Họ băng qua đồng một đoạn ngắn, đến một ngôi mộ rêu phủ, thực ra nhìn giống một đụn đất hơn. Đây ạ. Đây là ngôi Cầu mộ, cô gái nói. Vì sao lại có tên này, nhà sư hỏi. Cô gái kể lại câu chuyện:
Nhiều năm trước có một cô gái tên là Unai sống trong làng này. Có hai chàng trai trẻ tên là Sasada và Chinu đều đem lòng yêu cô. Một ngày, cả hai người cùng gửi cho cô một bức thư tình, thổ lộ lòng mình và tình yêu mãnh liệt của mình đối với cô gái. Unai cảm thấy lòng rối bời, nếu cô đáp lại tình cảm một người thì người kia thể nào cũng sẽ mang mối ghen tuông tị nạnh. Động lòng trắc ẩn, cô cảm thấy mình không nên chọn ai cả. Cha mẹ cô lại nghĩ khác, ông bà bảo hai chàng trai hãy đọ tài với nhau, ai thắng sẽ lấy được cô Unai xinh đẹp - nhưng hai chàng ngang sức ngang tài, liên tục hòa nhau bất kể thi thố trò gì. Ngay cả khi họ thi bắn cung nhắm vào con vịt bơi trên sông, cả hai mũi tên đều trúng vào cùng một cánh của con vịt. Nhìn thấy con vịt, Unai đau lòng nghĩ đến đôi vịt sống trên dòng sông, nghĩ rằng chính vì nàng mà chúng đã bị chia ly. Trong cơn khốn bĩ, Unai quyết định quyên sinh. Cô gieo mình xuống dòng Ikuta-gawa, tay áo nổi lềnh bềnh như đôi cánh gãy. Khi Sasada và Chinu biết việc, hai anh đau buồn khôn xiết. Thế gian và cuộc sống này đâu còn gì ý nghĩa. Hối hận, cả hai lao vào chém giết lẫn nhau, kết thúc mối thù địch mãi mãi.
Cái chết của tất cả họ đều là lỗi của tôi, cô gái thốt lên. Xin các thầy hãy ở lại, hãy cầu siêu cho tôi. Nói đoạn, cô biến thành làn khói mỏng và bay vào trong mộ.
Bối rối và lúng túng trước sự việc vừa rồi, các nhà sư đứng như trời trồng trên cánh đồng giá lạnh nhìn ngôi mộ. Một người đi từ làng ngang qua, thấy vậy hỏi họ đang làm gì. Các sư kể lại cho bác này nghe. Bác này nghe vậy liền kể lại câu chuyện về nàng Unai đáng thương, về cái chết bất hạnh của cô, về lỗi lầm cô mang khiến cô vẫn còn kẹt lại và vương vấn thế gian này. Bác cố nài các sư hãy cầu độ cho cô sớm siêu thoát.
Khi mặt trời lặn, các nhà sư bắt đầu cất tiếng tụng kinh cầu cho vong hồn cô Unai. Các thầy cầu cho cô tìm được bình an, dù chỉ trong một khoảnh khắc. Các thầy cầu cho cô được giác ngộ, cầu cho cô thoát được vòng quay tiếp theo của bánh xe nghiệp. Dưới bóng cácnhà sư giờ đang phủ tràn lên ngôi mộ, hồn cô gái Unai bay ra.
Trong chiếc áo quàn sũng nước, Unai nhìn các sư bằng đôi mắt sầu thảm. Trước này chẳng ai lui tới ngôi mộ của cô, vốn nằm giữa đồng không mông quạnh. Chỉ có bầy thú hoang đi tìm xương cùng lũ quỷ ma hú gào trong gió trên ngọn thông là hay lui tới. Cuộc đời trần thế này thực rất ngắn ngủi làm sao.
Các nhà sư đều động lòng xót thương trước nỗi đau trong tâm hồn cô gái, họ xin cô hãy cởi mối ràng buộc và thoát khỏi những âu lo trần thế và những khổ đau dưới mồ sâu. Thế gian này có lẽ chỉ là nơi trú ngụ của cái ác hiển bày, là địa ngục, là cảnh giới của ngạ quỷ và yêu ma, là nơi đầy tràn khổ não sinh lão bệnh tử.
Unai cảm tạ các sư. Cô từng bị trói buộc vào khổ đau vô tận không biết đường ra, nay những lời của các sư như một tia sáng nhỏ rọi trong làn khói tối đen của địa ngục. Tuy vậy, nỗi khiếp sợ vẫn còn quẩn quanh nơi tâm cô. Xa xa, cô trông thấy Sasada, rồi thấy Chinu, hai chàng trai cầu hôn cô đã chết từ lâu. Họ tiến tới nắm lấy tay cô: "Hãy đi với anh! Hãy đi với anh!", họ nói. Cô chẳng còn sức mà vùng vẫy thoát ra. Khi hai bóng ma bay đi, cô trông thấy trước mặt mình là con vịt bị thương - biến thành hình một con chim sắt - với cái mỏ thép dữ dằn, móng vuốt sắc như dao, bay đến mổ vào sọ mình, cắn vào xương tủy cô!
Lửa ma trơi hiện lên quanh ngôi mộ, mỗi ngọn là một hồn người đang chuyển hình sang dạng quỷ ma. Họ nhiếc mắng quất roi và đuổi theo Unai. Cô cố vùng lên chạy thoát, nhưng rồi nhận ra trước mặt là trùng dương còn sau lưng là biển lửa. Nhìn sang trái, sang phải, cô đang bị kẹt giữa nước và lửa, không lối nào thoát. Cô tựa lưng vào cây cột trong ngôi nhà cháy tìm nơi ngơi nghỉ, nhưng rốt cục chỉ làm nó bắt lửa thêm. Cô choàng tay ôm lấy cây cột ngùn ngụt lửa khói để mà ngã gục xuống, nhưng rồi lại bị dựng lên. Lũ quỷ ma địa ngục tiếp tục quất lên người cô những làn roi tàn bạo. Vì lầm lỡ mà giờ đây cô phải chịu khổ ải liên miên nơi Bát Đại Địa Ngục. Hãy chứng kiến, hỡi người, và ăn năn hối cải đi thôi. Các nhà sư run rẩy nhìn cảnh tượng địa ngục đáng sợ trước mắt:
Đẳng hoạt địa ngục, Hắc thằng địa ngục, Chúng hợp địa ngục, Hào khiếu địa ngục, Đại khiếu địa ngục, Viêm nhiệt địa ngục, Đại nhiệt địa ngục và Vô gián địa ngục, nơi Unai rơi xuống như một chiếc lá cháy trong lò thiêu ngùn ngụt.
Bóng tối bao trùm trở lại. Lửa tắt dần. Bọn quỷ ma biến mất. Unai trở về ngôi nhà cháy. Đâu là nơi cô từng yên nghỉ? Cô nhìn quanh chán chường, ngôi Cầu mộ đâu rồi? Rồi cô biến trở lại vào trong ngôi mộ lấp bên dưới đám cỏ um tùm. Như sương trên cánh đồng, như khói mù nơi đỉnh núi, cô tan biến mất. Unai trở về lại ngôi Cầu mộ của mình.
____________
Xin cảm ơn đã đọc. Xin lỗi luôn vì tui không chú thích gì về đám bát đại địa ngục, vì tui không đam mê gì phần này. Các bạn đam mê địa ngục có thể lên wiki tra Bát nhiệt hay bát đại địa ngục để đọc về các địa ngục này cho thỏa chí tang bồng. Bạn nào muốn tìm hiểu tiếng Anh dịch các địa ngục này ra sao có thể vào trang web của các bạn Theatre Nohgaku.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


