Một bạn người Anh chia sẻ video clip này trên facebook. Đây là một thước phim màu hiếm gần 100 năm trước, quay cảnh đường phố London, thành phố phồn hoa nhất của đế quốc hùng mạnh nhất thế giới lúc đó, đế quốc mặt trời không bao giờ lặn. Tôi đã xem với một cảm giác hoàn toàn khác biệt với việc xem một thước phim màu hay một bộ ảnh màu về Sài Gòn hay Hà Nội ngày xưa.
Tôi nhớ lại cảm giác rợn ngợp của mình khi đi trên những con phố London. Cảm giác rợn ngợp khi nghĩ rằng từng có một thời nơi này là trung tâm thế giới. Và mình là một con người nhỏ ở một xứ sở xa xôi, đang bước chân trên những con đường nơi này. Ở thời này, việc này là hoàn toàn bình thường, thế giới là phẳng và bình đẳng như nhau, mọi con đường là như nhau, mọi viên gạch là như nhau. Nhưng bay về một trăm năm trước, hẳn sẽ là một chuyện động trời. Cảm thức đó khiến tôi ngợp.
Tôi xem video mà cảm thấy ấn tượng về London một trăm năm trước chẳng khác nào London hiện tại. Thành phố thủ đô của đế chế một thời vẫn vậy, có chăng là sạch hơn cái thời công nghiệp hóa. Có chăng là hoàn toàn không thấy bóng dáng của một thành phố quốc tế như một trăm năm sau, London một trăm năm trước gần như "thuần Anh". Thành phố vẫn khiến tôi ngợp. Người Anh hẳn sẽ nghĩ khác tôi. Người London chắc chắn sẽ nghĩ còn khác nữa.
Tôi tự nhiên tìm được bài quốc ca chính thức của Đế quốc Mãn Thanh là bài "Củng Kim Âu", được Tuyên Thống đế Phổ Nghi phê chuẩn, nhưng vài ngày sau là khởi nghĩa Vũ Xương cùng với Cách mạng Tân Hợi nổ ra, giải tán Đế quốc Mãn Thanh.
Tôi gọi Đế quốc Mãn Thanh ở đây là chỉ cả nước Trung Hoa khi bị người Mãn Châu cai trị. Đế quốc Mãn Thanh phân biệt với Đế quốc Mãn Châu sau này được Đế quốc Nhật Bản bảo hộ, lãnh thổ gồm phần đất phía Đông Bắc giáp Triều Tiên, Liên Xô và Mông Cổ.
____________________
Tôi tìm bài "Đăng đàn cung" quốc ca của triều Nguyễn và cả Đế quốc Việt Nam sau này (cũng do Đế quốc Nhật Bản bảo kê, cho vô khối thịnh vượng chung Đại Đông Á luôn), nhưng tìm nát mạng cũng không thấy bản nào có lời của ông Nguyễn Phúc Ưng Thiều soạn để đón Hoàng đế Bảo Đại.
____________________
Nhân tiện tôi đăng lên luôn bản Kimi ga yo (Quân chi đại - Triều đại của Người) quốc ca nước Nhật. Đây là video quốc ca hay và đẹp nhất tôi từng được xem.
Trong cuốn Chim lửa tập Tái sinh (Resurrection hay tựa tiếng Nhật là 復活 - fukkatsu Phục hoạt), Tezuka làm hai cuộc giải phẫu giả tưởng: ghép não của bà trùm mafia vào xác cậu thanh niên và sao ghép thông tin từ não cậu thanh niên và từ "não" con robot vào một bộ não nhân tạo để tạo ra Robita. Kết quả là bà trùm mafia sống dậy trong xác cậu thanh niên, còn cậu thanh niên nhập vào làm một với tình yêu là con robot Chihiro của mình.
Ở đây tôi hiểu rằng Tezuka áp dụng cái thuyết "não tôi ở đâu thì cái gọi là tôi ở đó". Trong phần đầu bài luận Where am I? (Tôi ở đâu?) của Daniel Dennett, ông kể một câu chuyện tưởng tượng: ông được chính quyền Mỹ mời làm một dự án khoa học. Trong dự án này, ông phải tiếp xúc với một loại tia, tia này gây tổn thương tới một loại mô não nhất định, ngoài ra không ảnh hưởng gì các bộ phận khác. Do đó, ông được làm một cuộc giải phẫu đưa não ra khỏi hộp sọ của ông, nuôi trong bể kính, và truyền thông tin tới cơ thể ông thông qua sóng điện từ nhận bởi ăng-ten trên hộp sọ. Sau cuộc phẫu thuật, ông đi đến phòng nuôi não của mình, nhìn vào cái não đang nổi lềnh bềnh trong lồng kính, tự hỏi mình đang ở đâu. Liệu ông có thể nghĩ mình đang nằm trong lồng kính đối diện với đôi mắt của chính mình hay không. Rồi ông đưa ra ba giả thuyết:
1. Não tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
2. Thân tôi ở đâu thì "tôi" ở đó.
3. Cái gọi là "tôi" ở bất kỳ nơi nào mà nó đang nghĩ tới.
Giả sử chúng ta có thể hoán đổi não như trong truyện Chim lửa, A và B làm một cuộc đổi não. Não của A ghép vào người B, não B ghép vào người A. Kịch bản mà ai cũng hình dung ra trong đầu là khi tỉnh dậy, A sẽ thấy mình trong xác B, và B thấy mình trong xác A. Ở đây chúng ta đang bỏ qua cái "linh hồn", kiểu tráo đổi hồn phách này nọ như kiểu hồn Trương Ba da hàng thịt. Đó là chúng ta đang mặc định áp dụng thuyết "não tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng áp vào trường hợp tách não như của Dennett, ta mới thấy rõ ràng thuyết này hơi kỳ. Theo như Dennett, thì ta thấy mình có vẻ ở trong cái xác không não thì đúng hơn, nghĩa là theo cái thuyết "thân tôi ở đâu thì tôi ở đó". Nhưng thuyết này khi áp dụng vào trường hợp ghép não lại bị kỳ cục, thân người B chứa não người A sẽ tự nhận mình là A (theo não) chứ không phải người B (theo thân).
Như vậy, có thể cả hai giả thuyết 1 và 2 đều có vấn đề. Tôi nghĩ vấn đề nằm ở ý niệm "ở đây". Khi nói "tôi ở đây" nghĩa là tôi tương tác với môi trường xung quanh thông qua các giác quan (thọ tưởng hành thức gì đó). Nói một kiểu rất sáo rỗng (tôi thấy sáo) là ý thức về thực tại có được do não tương tác với giác quan. Đây có lẽ là một kiểu chỉnh sửa cho thuyết "não". Trong trường hợp ghép não, rõ ràng não A có ý thức rằng nó đang ở trong cơ thể B là nhờ nó tương tác với các giác quan của B. Trong trường hợp Dennett, rõ ràng não có ý thức nó ở trong cơ thể không não là nhờ nó các giác quan báo với nó qua sóng điện từ.
__________________
Ê, nhưng những trường hợp trên đều là giả tưởng. Giả tưởng nghĩa là tất cả những cái như là não A thấy mình trong xác B đều là kịch bản tưởng tượng. Dù nghe có đúng hay tất lẽ thế nào thì dù sao cũng chỉ là giả tưởng. Biết đâu được nếu một ngày người ta ghép não được, như là ghép tim hiện nay vậy, ông B sau khi ghép tim ông A vẫn tự nhận mình là B, thì khi ghép não ông A sẽ vận tự nhận mình là B. Não có gì đặc biệt hơn toàn bộ phần còn lại của cơ thể con người để mà cho rằng nó chứa đựng cái gọi là "tôi". Người ta cho rằng não chứa đựng ký ức của con người, mà ký ức (phần nào) quy định cái tự nhận là "tôi".
Sau đây là một thí nghiệm giả tưởng nữa của Stephen Law. Giả sử có một cái máy, tôi bước vào hộp 1, nhấn nút, toàn bộ thông tin về từng nguyên tử cấu tạo nên cơ thể tôi sẽ được chuyển sang hộp 2 để tái tạo lại một bản sao y chang con người tôi, và cơ thể ở hộp 1 sẽ bị phân rã hoàn toàn. Chúng ta không xét về mặt cơ học lượng tử phức tạp này nọ rằng liệu thông tin có chính xác không hay là sẽ có sai số và vì vậy, bản sao có thực sự giống không, ở đây ta giả sử bản sao giống y hệt. Nghĩa là bản sao A' của ông A có ký ức y hệt, tư duy y hệt bản gốc ông A. Vậy có thể nào xem như ông A đã được "dịch chuyển" tức thời từ hộp 1 sang hộp 2 không? Vậy người bước ra từ hộp 2 có thể nào xem là ông A không, hay chỉ là một bản sao A'? Nếu A' suy nghĩ và có ký ức giống hệt A, vậy A' có tự nhận mình là A không? Nếu tôi là A', tôi sẽ nhớ mình đã đứng ở hộp 1 vài giây trước, nhấn nút và biến sang hộp 2, vì não (ký ức) của tôi được tái tạo giống hoàn toàn, nhưng tôi có dám nói mình chính là "tôi" không?
Lại tiếp tục giả sử có một trục trặc gì đó với cái máy, sau khi bấm nút, tôi trong hộp 1 không biến mất, nhưng tôi trong hộp 2 vẫn được tạo ra. Khi đó, bước ra khỏi hộp 1 là tôi, còn bước ra khỏi hộp 2 có phải là "tôi" không? Vậy tôi ở đâu? Có thể nào cả hai đều là tôi không?
_________________
Mấy hôm gần đây tôi bỗng tập nhìn thực tại theo kiểu một chuỗi continuum. Continuum là một chuỗi liên tục. Hãy hình dung một bộ phim, thực chất nó là một chuỗi những hình ảnh ngắt quãng được xếp liên tục nhau, 24 hình một giây.
Bụt dạy ta là tổng thể của năm cái hợp lại: sắc thọ tưởng hành thức. Năm yếu tố, một cái sắc là thân xác vật lý, bốn cái kia là thuộc tâm (lý). Năm cái này hợp lại gây ra cái gọi là "tôi", ngoài năm cái ra, không tìm được tôi ở đâu cả.
Khi bơi trong hồ tôi lại nghĩ đến những lát cắt ngắt quãng, ở tại mỗi điểm của thời gian, tất cả những nguyên tử trong tôi, lẫn những nguyên tử trong hồ bơi, đều có một giá trị tọa độ kỳ vọng nhất định. Các giá trị ấy, ở mỗi thời điểm là mỗi khác. Ứng với mỗi cái "sắc", tôi lại được khuyến mãi thêm bốn cái "thọ tưởng hành thức" đi kèm.
Tôi cũng nghĩ đến dòng nghiệp như một sợi chỉ, hay một vector, để khi năm uẩn tạo nên ta bị hoại rữa, năm uẩn khác lại tạo ra. Như mộng huyễn bào ảnh, như lộ, diệc như điện. Chuỗi continuum tiếp tục khi ta chết đi. Năm uẩn mới lại được tạo ra ở từng lát cắt không-thời gian khác. Không thể nói là "tôi" tái sinh, mà là dòng nghiệp vẫn tuôn chảy.
Tôi tìm thấy clip giới thiệu về bài Tây Hồ hoài cổ của Nguyễn Công Trứ do ca nương Nguyễn Kiều Anh hát. Nhân tiện chép về để sau này dễ tìm.
Tôi thích bốn câu: Mà cỏ hoa man mác dấu thương đài Để khách rượu làng thơ ngơ ngẩn Hương tiêu Nam quốc mỹ nhân tận Oán nhập Đông phong phương thảo đa. Dấu thương đài là dấu rêu xanh. Thương (滄) là xanh, Đài (苔) là rêu. Còn hai câu chữ Hán ở dưới, theo Bách độ Bách khoa (Baidu Baike) của TQ (http://baike.baidu.com/view/621509.htm?fromTaglist) thì là trong bài thơ Kinh Dạng đế hành cung, của Lưu Thương đời Đường,nghĩa là:
Hương tàn mỹ nhân Nam quốc hết Giận vào gió Đông nhiều cỏ thơm.
Nhân tiện chép nguyên bài thơ Đường kia ra (bản chép là chữ giản thể theo trang Baidu của TQ), vì tôi thấy cũng không quá khó hiểu.
Thử địa tằng kinh thúy liễn qua, Phù vân lưu thủy cánh như hà? Hương tiêu Nam quốc mỹ nhân tận Oán nhập Đông phong phương thảo đa. Tàn liễu cung tiền không lộ diệp Tịch dương xuyên thượng hạo yên ba Hành nhân diêu khởi Quảng Lăng tứ Cổ độ nguyệt minh vấn trạo ca.
Dịch: Tựa đề: Qua hành cung của Dạng đế Đất này từng thấy thúy liễn (xe vua, green chariot) qua Mây trôi nước chảy rốt cuộc như thế nào? Hương tàn mỹ nhân Nam quốc hết Giận vào gió Đông cỏ thơm nhiều. Liễu tàn trước cung không một lá ướt sương Tịch dương trên sông mênh mông khói sóng. Người đi thức dậy nhớ Quảng Lăng Đò cũ trăng sáng nghe bài hát chèo thuyền. Cuối cùng, xin kết thúc bằng 4 câu của Nguyễn Công Trứ trong bài ca trù: Bóng kỳ đài giăng mặt nước như in, Tàn thảo thụ lum xum toà cổ sát. Chiếc cô vụ, mảnh lạc hà bát ngát Hỏi năm nao vũ quán điếu đài.
Cổ sát là cái chùa cũ. Sát là từ Hán mượn từ tiếng Phạn, theo từ điển Thiều Chửu là cái cột trước cửa cái chùa để đánh dấu "đây là nhà chùa". Cô vụ (hay cô phụ): con cò lẻ. Lạc hà: ráng chiều. Để ý tiếng Việt của Nguyễn Công Trứ rất hay: "chiếc cò lẻ" và "mảnh ráng chiều". Vũ quán: quán múa, điếu đài: đài câu.
Dạo 7, 8 năm gần đây tôi thấy người ta phát triển cái lối nói dùng chữ cơ mà thay cho chữ nhưng mà. Cái lối này xuất hiện đủ chỗ từ truyện ngắn của thầy Nhật Chiêu cho tới lên trên báo mạng, rồi lan ra cả mấy cái status facebook. Tôi luôn cảm thấy cái cách dùng này có chi không đúng đắn, nên không bao giờ dùng cả. Ở đây tôi sẽ thử phân tích chút xem sao.
Chữ cơ mà vốn được dùng tương tự chữ kia mà. Khi đó nó nằm ở cuối câu. Người ta có thể bảo rằng cụm này mang hàm ý nhấn mạnh điều vừa được nói tới.
Ví dụ: - Con không ăn bánh mì nữa đâu. Con vừa ăn cơm rồi cơ (kia) mà.
Tôi ngồi nghiệm một lúc thì thấy ngoài cách lý giải lớt phớt hời hợt trên, chính xác mà nói, cụm này mang hàm ý trả lời cho câu hỏi tự đặt ra "Vì sao tôi nói cái ý vừa nói?"
Lấy cái ví dụ trên, lời phát biểu trên có thể hiểu là mang hàm ý như sau: Con không ăn bánh mì nữa đâu, vì sao con nói như vậy, đó là vì con vừa ăn cơm rồi.
Lấy thêm ví dụ số hai: - Trời hôm nay đẹp nhỉ! Tối qua còn mới mưa cơ mà.
Câu này mang hàm ý: Trời hôm nay đẹp nhỉ! Vì sao tôi phải thốt lên như vậy, vì tối qua còn mới mưa, thế mà hôm nay đã đẹp thế này rồi.
Lấy ví dụ số ba nữa cho tăng độ tin cậy: - Ê, bỏ cái ví đó xuống! Của tao cơ mà!
Lại như cách phân tích cũ, câu này hàm ý: Ê, bỏ cái ví đó xuống. Vì sao tao phải hét lên như vậy, vì cái ví đó của tao [không phải của mày].
Khái quát lên sẽ như vầy:
[Phát biểu A]. [Phát biểu B] cơ mà.
= Tôi nói A. Vì sao tôi lại nói A, vì B.
Đấy, cách dùng cơ mà tôi vốn biết là như thế.
Khi chế biến nó lại tương đương nghĩa với nhưng mà, người ta vứt chữ cơ mà lên đầu câu hoặc nhét vào giữa hai vế, và xài y chang nhưng mà. Tôi lấy vài ví dụ:
Vd4: Một đêm luyện hết đống season 8 của How I Met Your Mother hôm rày bỏ giữa chừng. Quá đã. Cơ mà vợ Ted sao xấu thế :( ---- status facebook của Le Minh Dao.
Vd5: Hôm nay đi chơi thật đã. Mệt cơ mà vui.
Đại để là như thế. Tuy nhiên, xét kĩ một chút thì có thể thấy được cách dùng cơ mà này có sắc thái khác với nhưng mà. Nó thể hiện phần nào sự ngập ngừng của người nói. Chỉ thế thôi, tôi chưa thấy được chỗ nào khác nữa.
Tôi không biết gốc gác của sự phát triển lối nói này. Có thể nó là một phương ngữ của một vùng nào đó, đột ngột phát triển thành một lối nói thông dụng được các bạn trẻ (và vài bạn già) dùng. Có thể bất chợt nó nảy ra từ một cộng đồng, một cá nhân nào đó, rồi nhiều người khác nhắm mắt nói theo. Tôi không và không muốn phản đối tiến trình phát triển của ngôn ngữ. Nhưng tôi thấy chúng ta nên có một cái nhìn phê phán hơn, để ý hơn trong lời nói của mình. Chúng ta có thể tôn vinh những thứ sáng tạo, nhưng đừng a dua và làm theo những cách nói sai của một vài cộng đồng nào đó.
Quả thật, "Tên của đóa hồng" là một bản dịch cực kỳ công phu của ông Lê Chu Cầu. Umberto Eco viết nên một cuốn sách đồ sộ, còn ông Chu Cầu hẳn cũng phải lao động rất mệt mỏi để chuyển cuốn sách tiếng Tây sang thành một bản Việt dịch tuyệt hảo.
Là một học giả semiotics (dịch là ký hiệu học chăng? tôi thấy hơi điêu) hàng đầu thế giới, cuốn tiểu thuyết đầu tay của Eco mang một tầm vóc (theo tôi là) lớn hơn so với những kiến thức về ký hiệu học giải trí của Robert Langdon trong truyện của Dan Brown (Langdon được miêu tả là giáo sư về symbology: cái quỷ này mới là ký hiệu học nè). Quyển sách thực sự khiến tôi choáng, không biết diễn tả thế nào, nhưng không phải choáng theo cái kiểu hồi nhỏ dại đọc những cuốn sách đồ sộ mà không hiểu gì hết, bất khả tri giác. Cảm giác choáng giống như kiểu vừa phải vật lộn với những ngôn từ, tranh luận thần học liên miên, vừa để ý và tận hưởng những liên tưởng, tưởng tượng được từ những cái semiosis đem lại. Ô kê, ngừng vấn đề này lại ở đây, tốt nhất là tôi không nên múa rìu nữa, tôi chả có học hành, nghiên cứu gì về ba cái vụ này, ngay cả chữ semiosis tôi còn không biết dịch như thế nào. Tóm lại, ý tôi muốn nói là nếu mà so với Eco thì truyện của Dan Brown đọc giải trí giống như đọc Đôrêmon vậy*.
Ông Lê Chu Cầu đã tỉ mỉ dùng cả 3 bản dịch: nguyên gốc tiếng Ý, bản dịch tiếng Đức vừa dịch vừa phóng túng chế thêm, và bản dịch tiếng Anh sát nhất nhưng sứt sẹo cắt bỏ lung tung. Trong quá trình đọc cuốn sách, tôi nghiệm ra quan niệm cho rằng bản dịch tiếng Anh luôn là bản dịch chuẩn, tối thượng, kinh điển, canonical... là một quan niệm ấu trĩ và sai lầm. Ví dụ chính là cuốn này, bản dịch của William Weaver lược bỏ tùm lum tà la, được ông Cầu đánh dấu bằng những dấu ngoặc vuông [] trong bản Việt dịch. Cả bản tiếng Ý cũng có một lỗi về logic, có lẽ là lỗi biên tập viên. Ông Cầu phát hiện, chú lại, so sánh rằng bản Anh dịch theo bản Ý nên dịch sai y chang, còn bản Đức chỉnh sửa lại nên diễn đạt đúng về mặt logic.
Ông Cầu cũng tẩn mẩn chú giải đường hoàng từng tích Thánh Kinh và tích thần thoại, cổ tích Tây đầy đủ. Thiển nghĩ ai cũng hiểu rằng đọc sách Tây mà có chú thích tích tiếc đầy đủ cũng thú vị y hệt đọc Truyện Kiều chú đủ tích Tàu, thế nên tôi chẳng cần nói thêm. Ngoài vụ này, ông Cầu cũng đã biên phụ họa chung với Eco về lịch sử Tây thời Trung Cổ (thứ mà đối với dân không chuyên như tôi phần nhiều mù mờ). Nhiều phần ông biên rất hay và thú vị, ví dụ như nhờ ông mà tôi biết được Tòa thánh có vụ bán giấy xá tội sẵn, kiểu như vé giữ chỗ thiên đường hay vé bảo kê khỏi xuống Hỏa ngục, để lấy tiền xây Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô ở Vatican. Chính vụ này là một trong những giọt nước tràn ly khiến Martin Luther tức quá chống lại Tòa thánh.
Dưới đây tôi sẽ ngừng ca tụng ông Eco, ông Cầu và bản dịch của ông, để mà biên lại vài chỗ tôi rút tỉa trong quá trình đọc sách:
1. Trang 56: ông Cầu dịch đoạn miêu tả hình ảnh 24 vị niên lão ngồi dưới chân Chúa Trời trên cánh cổng tu viện có dùng chữ "đội mão triều thiên". Tôi đoán có lẽ chữ "mão triều thiên" là dịch từ cái tiara. Công giáo ở Việt Nam (hay Wiki Việt) dịch cái mão Giáo hoàng đội là "mão triều thiên ba tầng", dùng nhiều trở thành quen luôn. Việc ông Cầu dịch vậy nghĩ cũng chẳng có gì sai. Chẳng qua tôi sực nhớ tới "Mão triều thiên, Mão triều thiên / Ôi hoài vọng hoa niên" của Văn Cao với cơn sốt "Ngàn năm áo mũ" dạo này nên ngứa miệng nói chơi thôi. Tôi tra wiki tiếp thì biết TQ gọi cái papal tiara là Tam trùng miện và Nhật thì gọi là Giáo hoàng quan. Nói cho ra nhẽ thì cách gọi "mão triều thiên" là cách gọi kiểu lấy cái mình có để gọi cái chưa có trong tiếng Việt, nhưng truy tới gốc thì nó không chính xác. Nếu tôi, tôi sẽ dịch giản dị là "đội miện".
2. Trang 138: thầy William nói với Adso về việc người ta thời này (thời Trung cổ) cứ phải khăng khăng củng số niềm tin nơi người dân chất phác bằng cách suốt ngày đi rao giảng về nỗi đau khổ của Chúa Giêsu, của Đức mẹ, và đặc biệt là rao giảng về những đày ải nơi địa ngục. Tôi bất chợt thấy tình cảnh của châu Âu một thời cũng y hệt bên đạo Bụt ở châu Á trung đại, khi mà những quan niệm về địa ngục cũng xuất hiện và lan tỏa đầy rẫy trong dân gian. Bụt có giảng về phương tiện, rằng với từng loại chúng sinh có từng cách thức khác nhau để mà parasamgate (vượt qua bờ kia hoàn toàn), đạt cứu cánh cần đạt. Tôi nghĩ địa ngục cũng là một loại phương tiện để giáo dục một loại chúng sinh nào đó về đạo đức học Phật giáo. Tuy thế, cần phải xét kỹ lưỡng xem nó có liễu nghĩa hay không, có thỏa đủ ba cái ấn không, trước khi lạm dụng nó, in thành poster cỡ bự treo đầy tường đầy cổng chùa chiền để hù dọa người ta.
Thôi, tôi không nhiều lời về vụ này nữa. Lạc đề rồi.
3. Trang 430: ông Cầu chú về Hector, Achilles, Agamemnon và Priam, đụng trúng chỗ nên tôi ngứa miệng thôi. Ông chú thích sai bảo rằng đây là các nhân vật trong Odyssey của Homer. Thực ra trong Odyssey còn có mỗi Agamemnon thôi. Đúng ra phải nói rằng đây là các nhân vật trong Iliad.
4. Trang 475 chép lại đoạn trong phần hát bài thánh ca Dies irae (Ngày phán xét) và trang 525 chép lại đoạn Nuốt cuốn sách nhỏ.
Cả hai đoạn này đều quen thuộc với tôi. Phần lời Dies irae tiếng Latin tôi nghe và hát đi hát lại tới thuộc từ Lacrimosa trong các bản Requiem. Tôi lại cũng nhớ tới phần Dies irae trong Requiem của Verdi, phần nhạc dữ dội rất kinh điển, do Abbado chỉ huy:
Đoạn Nuốt cuốn sách nhỏ thì lại cũng rất quen thuộc với tôi hồi đọc Khải huyền mấy năm trước.
Tự dưng gặp lại những dữ liệu quen thuộc, hẳn trong lòng phải bồi hồi, thêm phần thú vị và đẻ ra nhiều semiosis khác, chẳng phải ru?
5. Và cuối cùng, trang 537, thầy William nói với cậu chủng sinh Adso những lời cuối cùng của sách: "Chân lý duy nhất hữu ích là những công cụ; hãy quẳng chúng đi sau khi đạt mục đích". Tôi nghe thấy ở đây như một lời đồng vọng với dụ ngôn về cái bè của Bụt: Pháp của tôi dạy cũng giống chiếc bè, qua sông rồi thì bỏ lại ở bến, chứ vác theo sau lưng làm gì.
Quỷ không phải Satan. Quỷ chính là tính kiêu căng của tinh thần, là đức tin không chút mỉm cười, là sự thật chẳng hề bợn hoài nghi. Quỷ tàn nhẫn vì nó biết nó đi đâu, và khi đi nó luôn quay về nơi nó xuất phát. Huynh chính là Quỷ, và huynh sống trong bóng tối giống như Quỷ.
(Umberto Eco - Tên của đóa hồng, Lê Chu Cầu dịch)
_______________________
*Để khỏi bị chụp mũ, tôi cũng xin phép nói luôn là tôi không hề có ý chê truyện Dan Brown. Tôi cũng khoái bác Đen Nâu này lắm. Hồi tôi chê cuốn Kẻ trộm sách đọc nhây nhây, không hay bằng Dan Brown, tôi đã bị ném đá, chụp mũ nhiều rồi.
1.
Trong phim Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain có một cảnh rất nhanh chiếu một đoàn xe đạp chạy qua một chiếc cầu. Đó là cảnh tôi nhớ nhất. Nhớ từ lần tôi bất chợt xem qua cuốn phim ở đâu đó [trên mạng].
Tôi nhớ vì cái hình ảnh một đoàn xe đạp chạy qua một chiếc cầu cứ tua đi tua lại trong tâm trí tôi, có lẽ vào cả giấc mơ. Tôi cũng không hiểu vì sao. Tôi không nghĩ tôi bị ám ảnh bởi xe đạp. Từ nhỏ, cứ dịp hè về, hay chả cần hè, cứ chiều đi học về, là tôi lang thang khắp nơi trên chiếc xe đạp nhỏ chạy trên lề đường. Trong chừng hai tiếng đồng hồ buổi chiều, tôi la cà khắp các ngõ hẻm ở vùng Gò Vấp, địa bàn đình An Nhơn mở rộng qua gần bên Xóm Mới. Những cuộc phiêu lưu như vậy diễn ra trong suốt thời kỳ tôi độ sáu tới tám chín tuổi gì đó, và kết thúc vào cái ngày bố biết tôi lén đi với ông anh chạy ra xa lộ xe tải chạy rầm rầm. Từ đó, tôi bị dẹp vụ xe đạp. Thế nhưng, tuy tuổi thơ gắn liền như vậy với chiếc xe đạp, kể cả thời kỳ học cấp hai tiếp tục đạp xe đi học cộng với những chuyến phiêu lưu bằng xe đạp bắt đầu mở rộng hơn, tôi hoàn toàn không có bất cứ một thôi thúc nào về chuyện phải được đạp xe. Nói vậy nghĩa là tôi hoàn toàn không bị ám ảnh bởi chiếc xe đạp.
2.
Vậy có lẽ tôi bị ám ảnh bởi những cây cầu.
3.
Những năm đầu đời, quãng đường thân thuộc nhất với tôi là quãng đường bốn cây số về nhà ngoại. Từ rìa đông bắc Gò Vấp chạy 4 cây số qua quận 12, tôi đi qua bốn cây cầu: cầu An Lộc, cầu Giao Khẩu, cầu Ba Thôn ở ngoài, và cây cầu Ba Thôn ngắn ở đường bên trong. Tôi lớn lên cùng với việc từng cây cầu (trừ cầu An Lộc qua sông Vàm Thuật) được đập ra và xây mới. Cây cầu Ba Thôn nối từ nhà ngoại qua chợ được đập ra, rồi con đường đất nhỏ bắt đầu được nâng lên và tráng nhựa. Tôi vẫn nhớ những buổi sáng bà ngoại dắt tôi len qua cây cầu nhỏ chưa hủy hoàn toàn để ra tới chợ phía bên kia cầu, và cả những buổi trưa leo cầu trốn nhà cùng mấy đứa anh em đi chơi điện tử. Ngày ngoại mất, năm tôi tám tuổi, cây cầu đập luôn, xe tang không qua được, phải đi vòng ra xa lộ. Tôi vẫn nhớ mình ngồi trên xe tang, và cứ mỗi lần đi qua một cây cầu là lại nói lên để cho ngoại nghe: "Mình qua cầu Giao Khẩu rồi nha ngoại!".
4.
Cứ vậy, dần lớn lên, danh sách những cây cầu thân thuộc trong thành phố càng mở rộng ra, những cây cầu Kiệu, cầu Công Lý, cầu Khánh Hội, vân vân. Tôi vẫn nhớ cảm giác của mình những năm cuối cấp hai đầu cấp ba khi chạy xe qua cây cầu Công Lý mới. Đỉnh cầu được nâng lên cao hơn cầu cũ nhiều. Trong thoáng chốc băng qua cái đỉnh parabol, nhìn chớp nhoáng xuống chùa Vĩnh Nghiêm, phóng mắt nhẹ ra phía trước thấy những cao ốc phía trung tâm thành phố, lòng tôi ngợp một niềm lâng lâng, như một kiểu khoái cảm nhẹ nhàng. Tôi đã miêu tả cảm giác này trong một bài blog hồi xa xưa đó.
Rồi khi đã đủ lớn để rong chơi [trời phương ngoại?] ra tới tận cây cầu Phú Mỹ khổng lồ, tôi dường trải qua lại niềm sung sướng cũ đã nhờn theo năm tháng. Mỗi lần bí chỗ đi chơi với mấy đứa bạn, tôi đều gợi ý hãy chạy ra cầu Phú Mỹ ở quận 7. Lúc đầu tôi chỉ cho đó là một ý tưởng bất chợt, nảy ra khi không còn chỗ nào khác để đi, rồi từ từ mới nhận ra tôi đã bị những cây cầu ám. Nói cho cùng, còn chỗ nào để ngắm Sài Gòn thú vị hơn việc chạy xe trên những nhịp to lớn, cao dần cao dần của cầu Phú Mỹ, nhìn xuống dòng sông Sài Gòn cuồn cuộn phía dưới, nhìn những bãi cát phía cảng, nhìn những con tàu bập bềnh, nhìn xưởng đóng tàu chất đầy gỗ...
5.
Tôi rất thích game pokemon phần thứ 5, nơi lấy bối cảnh là Unova, vùng đất của những cây cầu. Mỗi cây cầu là một nét đẹp, mỗi lần băng qua là một niềm vui. Cây cầu Làng [ビレッジブリッジ - Village Bridge] cổ kính, có những ngôi nhà bằng đá, và nền nhạc enka. Cây cầu Skyarrow lại là một cây cầu dây văng hoành tráng, nhìn xuống dòng sông rộng, trông ra được đô thị Castelia và thấy cả con tàu Royal Unova chạy bên dưới. Cây cầu Driftveil hay còn kêu là cầu Charizard là một cây cầu thanh nhã mang màu đỏ Charizard... Tôi yêu những cây cầu ở Unova cũng giống như yêu những cây cầu thực vậy.
6.
Vậy thì, có gì nơi những cây cầu làm tôi mê mẩn? Phải chăng là cảm thức được kết nối? Hay là ảnh tượng dòng nước chảy phía dưới? Tôi nghĩ là vì nhiều lý do kiểu đó gộp lại. Có lẽ cũng là cái cảm giác nửa gần nửa xa. Cũng là cái đong đưa mơn man của lời ru ví dầu cầu ván đóng đinh tôi nghe từ thuở bé, từ thời bắt đầu biết nhớ, biết hỏi, biết phân biệt được tên của những cây cầu đầu tiên trên đường về nhà ngoại.
Cầu Cobden bắc qua sông Itchen ở Southampton, nguồn discoversouthampton.co.uk