Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

Bay lên nào, em bay lên nào

Bảo tàng Khoa học Luân Đôn nằm trên đường Đấu Xảo (Exhibition Road) ở phía Nam quận Kensington, Luân Đôn. Sở dĩ gọi là đường Đấu Xảo vì Đại Triển lãm Công nghiệp Quốc tế (tức Đấu Xảo Luân Đôn 1851) tổ chức trên cái đường này. Khu này có rất nhiều bảo tàng, nổi tiếng và hoành tráng hơn cả là Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, nhưng hôm nay chúng ta sẽ không bàn về cái này, mà chúng ta sẽ nói về Bảo tàng Khoa học, vì nó đang tổ chức một triển lãm rất thú vị tên là "Phi hành gia Xô Viết và sự ra đời của kỷ nguyên không gian".


Ghi chú: Chúng ta cùng chú ý tới từ tiếng Anh chỉ phi hành gia dùng ở đây. Đó là từ cosmonaut. Trong tiếng Anh, chúng ta có hai từ dùng để chỉ phi hành gia, đó là astronaut và cosmonaut. Đây đều là các thuật ngữ có các gốc từ tiếng Hy Lạp, cosmo- là vũ trụ, astro- là sao trên trời, -naut là thủy thủ tức là người lái thuyền (phi hành gia lái phi thuyền mà), ghép lại đều chỉ người đi chu du trên không gian. Tuy nhiên, theo thông lệ, người ta dùng astronaut để chỉ phi hành gia của Mỹ, hay của phe tư bản, còn cosmonaut để chỉ phi hành gia của Liên Xô, hay khối XHCN (bạn nào chơi Red Alert nếu để ý sẽ thấy). Vì từ phi hành gia tiếng Liên Xô là kosmonavt, Anh hóa sẽ thành cosmonaut. Chính xác hơn thì phải nói là ai bay lên bằng tàu của Mỹ thì gọi là astronaut, còn bay bằng tàu của Liên Xô thì gọi là cosmonaut, bất kể phe nào. Ví dụ như phi hành gia người Anh Helen Sharman bay lên Mir bằng tàu của Liên Xô, nên ở Anh người ta gọi bà này là cosmonaut (vụ này xem chương 5), còn sau này các phi hành gia người Anh khác bay lên bằng tàu của NASA đều được gọi là astronaut. Phạm Tuân với Yuri Gagarin sẽ là cosmonaut, còn Neil Amstrong với Matt Damon đều là astronaut.

Triển lãm này rất thú vị, có rất nhiều hiện vật (có cả các khoang chứa phi hành đoàn) được mang từ Nga về để triển lãm. Cách bài trí và dẫn chuyện rất hay, cộng với phim tư liệu và âm nhạc rất Liên Xô lồng vào rất thích. Triển lãm chia làm nhiều gian, nhưng nhìn theo chủ đề có thể phân thành 6 phần, ở dưới sẽ nói theo từng phần. Thông tin trong bài khoảng hơn 60% là từ triển lãm, còn lại là ở ngoài (tức là của người viết thêm vào). Dĩ nhiên là còn nhiều cái ở triển lãm mà chưa nói hết ra đây. Triển lãm sẽ kéo dài cho tới tháng 3, 2016, giá vé là £10.80 cho sinh viên (nhớ đem thẻ). Các bạn ở UK rất nên đi xem.

1. Tiến vào không gian
"Beep...beep...beep"
(Tiếng phát ra từ Sputnik I)


Giấc mơ vũ trụ của người Nga bắt đầu trỗi dậy từ khoảng sau Cách mạng Tháng Mười 1917, và kéo dài cho tới sau Thế chiến II. Sau khi lật đổ chế độ cũ và bắt đầu xây dựng xã hội mới. Trên cái nền triết lý kiến tạo thế giới mới đó của người Nga có cả việc tiến lên không gian để xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên đó. Tuy nhiên, giấc mơ này chủ yếu chỉ dừng lại ở các bản phác thảo, các tính toán bắn tên lửa, phi thuyền. Trong đó, nổi bật là các nghiên cứu và kế hoạch, cả về mặt khoa học lẫn triết học, đưa ra bởi Tsiolkovsky, người được coi là cha đẻ của khoa học tên lửa Xô Viết lẫn thế giới. Triển lãm có cả một bản phác thảo về mô hình công xã lao động trên vũ trụ được vẽ trên giấy.

Phải tới sau Thế chiến II thì những giấc mơ này mới được đưa vào hiện thực. Kết thúc chiến tranh, Liên Xô có một thuận lợi lớn là kỹ thuật và sức mạnh về tên lửa của pháo binh rất cao. Kỹ thuật tên lửa của Mỹ lúc đó còn thua, do chủ yếu là phát triển tàu đánh nhau với Nhật, nhưng về sau nhờ đem hết bộ sậu nghiên cứu tên lửa của Đức về mà từ từ Mỹ thắng thế.

Tổng kỹ sư trưởng của Liên Xô là nhà khoa học Sergei Korolev, vốn là một trong số những người ít ỏi sống sót trở về từ gulag trong cuộc Đại thanh trừng sau Cách mạng, do bị kết tội chống phá chính quyền cách mạng. Thông tin Korolev là tổng kỹ sư trưởng chương trình không gian của Liên Xô là thông tin tối mật, chỉ được tiết lộ ra sau khi ông chết năm 1966, do Liên Xô sợ điệp viên phương Tây ám sát ông. Cũng trong giai đoạn hậu chiến này, Khrushchev lên làm Tổng bí thư thay Stalin sau khi Stalin chết năm 1953. Thời ký Khrushchev lãnh đạo, văn hóa và khoa học dễ thở hơn, đã dẫn tới các bước tiến lớn của Liên Xô trong lĩnh vực không gian. Rồi điều gì tới cũng tới, năm 1957, Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sputnik I, lên không gian, làm toàn bộ thế giới phương Tây bàng hoàng. TIME của Mỹ cho Khrushchev làm "nhân vật của năm" năm 1957 luôn. Sputnik I bay lên làm công việc đo các thông số vật lý về nhiệt độ và áp suất của khí quyển ở tầng cao và gửi tín hiệu bằng ăng-ten về cho mặt đất. Có thể click link dưới để nghe tiếng beep beep huyền thoại của Sputnik I
https://en.wikipedia.org/wiki/File:Sputnik_beep.ogg

2. Những "người" tiên phong
"Con đường tới những vì sao đã mở."
(Sergei Korolev - Tổng kỹ sư trưởng chương trình không gian Liên Xô)


Sau thắng lợi Sputnik I, Liên Xô tiếp tục phóng hàng loạt tàu/vệ tinh không người lái lên không gian, và lên cả Mặt trăng. Liên Xô thắng Mỹ trong việc đáp mềm lên Mặt trăng (tức không va chạm làm bể tàu) với Luna 9 năm 1966. 

Cùng lúc đó, nhằm thử nghiệm xem du hành vũ trụ có ảnh hưởng thế nào tới sinh vật, Liên Xô ào ạt phóng đủ thứ lên trời, bao gồm từ cây cỏ, nấm, vi trùng, côn trùng, chuột, thỏ và cuối cùng là chó. Trong khi bên Mỹ khoái chọn khỉ, thì Liên Xô chọn chó thay mặt cho toàn bộ lớp Thú, vì nó dễ huấn luyện và nghe lời. Bạn Laika tử nạn trong Sputnik II nhưng hai bạn sau là Belka và Strelka sống sót trở về. Tin này được báo chí khắp thế giới đưa ầm ĩ, ai ai cũng vui mừng (ít nhất là công chúng và giới khoa học). Belka và Strelka trở thành biểu tượng. Một bạn cún con do Strelka đẻ ra được gửi tặng cho con gái tổng thống Kennedy. Cuộc chạy đua vào không gian bắt đầu mở ra ở hai bờ Thái Bình Dương.

3. Con người tiến vào không gian
"Chinh phục không gian!"
(Tranh tuyên truyền của L. Golovanov)


Năm 1961, Liên Xô lại một lần nữa làm thế giới phát sốt khi đưa người lên không gian. Yuri Gagarin sau gần 2 tiếng đồng hồ bay trên quỹ đạo bỗng chốc nổi tiếng thế giới. Quy trình tuyển chọn và huấn luyện phi hành gia của Liên Xô đã chọn ra 20 người cuối cùng từ hơn một ngàn người ban đầu. Yuri được chọn làm người đầu tiên bay lên không gian không chỉ vì kỹ năng mà còn do lý lịch gia đình tầng lớp vô sản, lại có nụ cười đẹp ăn ảnh. Trái với quan niệm sai lầm rằng phi hành gia là phải cao to, Yuri thật ra chỉ cao có 1m57. Vì phi hành gia thời kỳ đầu phải nhỏ con thì mới nằm gọn được trong khoang phóng (lùn nhưng dĩ nhiên phải khỏe). Triển lãm có treo cái áo hàm đại tá của Yuri từng mặc, đúng là vóc người nhỏ so với kích cỡ người da trắng. 

Trong 4 năm từ 1961 tới 1965, Liên Xô làm luôn cú ăn bốn: đưa người (đàn ông) đầu tiên lên vũ trụ, đưa người phụ nữ đầu tiên lên vũ trụ, đưa phi hành đoàn (3 người) đầu tiên lên vũ trụ, và lần đầu tiên thực hiện bước đi trong không gian. 

Triển lãm có trưng bày hiện vật (thật) là cái khoang phóng Vostok 6 từng chứa Valentina Tereshkova (phi hành gia nữ đầu tiên) và Voskhod 1 từng chứa phi hành đoàn 3 người đầu tiên lên vũ trụ. Tận mắt nhìn vào bên trong sẽ hình dung được nó chật như thế nào.

Trong giai đoạn này, Liên Xô liên tiếp thắng Mỹ trong cuộc đua không gian, một phần cũng nhờ thể chế chính trị. Chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô cho phép họ có thể đổ một đống tiền vào tên lửa với phi thuyền, trong khi chính quyền kiểu Mỹ thì không thể làm như vậy được, một phần có lẽ vì chính phủ Mỹ phải đổ tiền vào điều khiển thị trường tự do cùng với các hoạt động khác. Kết quả là, tuy Liên Xô liên tục ghi bàn, nhưng đời sống nhân dân Xô Viết cũng chẳng khấm khá gì, thế nhưng tinh thần xây dựng chủ nghĩa xã hội lại rất cao. 

4. Chương trình bí mật
"Chúng ta chọn đi lên Mặt trăng, không phải vì đây là một việc dễ làm, 
mà bởi vì nó khó, [...] và vì chúng ta nhất định sẽ thắng (cuộc đua này)." 
(Tổng thống J. F. Kennedy)


Sau khi Kennedy đưa ra "Kế hoạch 10 năm" nói trong vòng 1 thập kỷ sẽ đưa được người lên Trăng, cuộc đua không gian tới hồi gay cấn. Liên Xô gấp rút chỉn chu dòng phi thuyền mới Soyuz điều khiển dễ hơn, nhưng vì gấp quá đã khiến hai phi hành gia thiệt mạng.

Rồi ai cũng biết là tới 1969 thì cuối cùng Mỹ cũng thắng được Liên Xô một ván, nhưng là ván quan trọng: đưa được Neil Armstrong đáp lên Mặt trăng. Liên Xô ngoài mặt thì một mực tuyên bố không chạy đua đưa người lên Mặt trăng với Mỹ, thậm chí là từ chối hoàn toàn lời đề nghị họp tác Mỹ-Liên Xô của Kennedy để đưa người lên Trăng. Liên Xô chỉ thỉnh thoảng bắn vài cái Luna không người lên quỹ đạo mặt trăng, đáp xuống bề mặt, quay phim chụp ảnh và lấy mẫu đất về. Tuy nhiên, bên trong lại bí mật phát triển Chương trình Zond, để đối chọi với Chương trình Apollo của Mỹ. Chương trình đưa người lên Mặt trăng của Liên Xô được giữ bí mật tuyệt đối, chỉ lộ ra sau năm 1989, khi chính quyền Liên Xô công bố. 

Để đưa người lên Trăng, Liên Xô cần phát triển dòng tên lửa đẩy mới. Tuy nhiên, nhiều thất bại xảy ra, cộng với việc tổng kỹ sư trưởng Korolev qua đời năm 1966, khiến Liên Xô chơi không lại bộ sâu von Braun (trùm rocket của Nazi, sau thành của Mỹ). 

Sau rồi Liên Xô dẹp luôn chương trình đưa người lên Mặt trăng, coi như chịu thất bại trước Mỹ. 

5. Tiền đồn trên không gian
"Dấu chân của chúng ta sẽ mãi còn trên các dặm đường
bụi bặm nơi những hành tinh xa xôi"
(Tranh tuyên truyền của U. Ivanov)
Đây là căn phòng áp chót của triển lãm. Cuộc đua không gian hạ nhiệt sau khi Apollo hoàn thành sứ mệnh, cũng là lúc cả Mỹ và Liên Xô phát hiện mình đã hết tiền. Tuy nhiên, thời kỳ sau đó lại mở lại sự hợp tác giữa hai bên trong lĩnh vực du hành không gian, một phần cũng nhờ Hiệp ước Ngoại tầng Không gian của Liên Hiệp Quốc năm 1967.

Liên Xô xây trạm không gian Salyut năm 1971, sau thêm trạm Mir 1986. Sau tới thời Gorbachev thì quan hệ giữa Anh và Liên Xô giảm căng thẳng. Gorbachev và Thatcher bắt tay xây dựng chương trình không gian, thậm chí bỏ thêm tiền túi, để cuối cùng đưa phi hành gia đầu tiên người Anh (là nữ luôn) là bà Sharman năm đó 27 tuổi, trước đó là nhà hóa học ở công ty sô cô la Mars (hay thế!), bay lên Mir. Đã nói ở trước, do bà Sharman bay lên Mir bằng tàu của Liên Xô, nên ở Anh, bà hay được gọi là cosmonaut.

Cứ mỗi một phi hành gia ở trên trời thì sẽ có hơn trăm người làm việc ở mặt đất. Căn phòng áp chót này có ảnh, tư liệu và hiện vật về công việc dưới đất và trên trời của các trạm không gian Liên Xô. Có nguyên bộ sưu tập quần áo của phi hành gia, tùy điều kiện sinh hoạt, lại còn có cả toilet (dùng chân không để hút chất thái, chứ không nó bay lung tung), phòng tắm cá nhân (kéo phéc mơ tuya lên rồi đổ nước vào), tủ lạnh (hàng tháng có tàu không người lái phóng lên mang theo thực phẩm tươi)...

Năm 1991, Liên Xô tan rã khiến cho phi hành gia Sergei Krikalev bị kẹt trên trạm Mir thêm gần 5 tháng mới được về nhà dưới danh nghĩa công dân Liên bang Nga. 

6. Vũ trụ này là của chúng mình
"Địa cầu là cái nôi của nhân loại, 
nhưng nhân loại không thể suốt đời ở mãi trong nôi." 
(Tsiolkovsky)


Căn phòng cuối cùng của triển lãm chỉ có một mô hình người, mặt được làm theo mặt Gagarin, được dùng để phóng lên quỹ đạo mặt trăng, nhằm đo đạc lượng bức xạ mà từng phần trong cơ thể phải chịu. Ngoài ra không còn gì. Chỉ có tường được chiếu ánh sáng màu xanh dương phớt trắng và trần chiếu một hình chữ nhật màu đỏ. Tên tường có trích dẫn câu ở trên của Tsiolkovsky, người đặt nền móng cho giấc mơ không gian của Liên Xô. Rất mang tính biểu tượng. 

Kết
Gác chuyện tranh cãi về chính trị, quân sự và kinh tế sang một bên, thì những gì Liên Xô đạt được hoàn toàn là những điều đáng trân trọng. Giấc mơ không gian của loài người đã trở thành hiện thực. Chúng ta đã từng khao khát được bay lên trời cao, nhưng mặt trời đã thiêu đốt giấc mơ của Ikarus, Rồi máy bay đã được tạo ra, nhưng vậy vẫn chưa đủ, chúng ta vẫn muốn đi xa hơn. Giai đoạn cuối 50, và thập niên 60 là những năm tháng mà tâm trí toàn nhân loại dường như ở trên mây, khi lần đầu tiên chúng ta thoát ra được đất mẹ, rồi lần đầu tiên chúng ta chạm được vào những thiên thể trên trời cao.

Tặng mọi người tấm hình cuối cùng:


(Chủ nghĩa xã hội là bệ phóng)

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

Marco Polo season 1

Mình đăng ký Netflix xài free một tháng để coi Marco Polo. Phim này làm từ 2014, mới season 1, có 10 tập, do Netflix độc quyền. Kể ra Netflix cũng không có nhiều phim lắm để coi, nhưng nếu đăng ký để coi phim truyền hình dài tập kiểu Marco Polo, Breaking Bad, Better Call Saul này nọ thì cũng rẻ, mà chất lượng hình ảnh tốt.

Marco Polo là một phim rất hoành tráng vì quay đẹp, cảnh đẹp, nhà cửa đẹp, quần áo đẹp. Dàn diễn viên đóng rất có thần thái, Đại Hãn ra Đại Hãn, hoàng hậu ra hoàng hậu, công chúa ra công chúa. Có điều một vài vai nữ thì không đẹp lộng lẫy lắm. Do phim này Mỹ và Ý làm nên phải kiếm nữ chánh châu Á nói tiếng Anh tốt, chắc vậy mà khó kiếm diễn viên nữ đẹp kiểu phim cổ trang Tàu làm, kiểu Phạm Băng Băng đóng Võ Tắc Thiên này nọ.

Phim bối cảnh là cái thời mà văn hóa và sắc tộc hòa trộn một cách giống như siêu thực. Đó là cái lúc mà Bắc Kinh có tên gọi là Khanbaliq hay ghi theo kiểu Marco Polo ghi trong cuốn sách của ổng là Cambulac. Biên chữ Hán kiểu sách Tàu là Hãn Bát Lý, hay gọi kiểu Mông Cổ nhà Nguyên là Đại đô. Cambulac là Đại đô bởi vì nó là kinh đô của nhà Nguyên, tức là Hãn quốc bự nhất và quyền lực nhất của đế chế Mông Cổ. Thời Kublai (Hốt Tất Liệt) thì Mông Cổ đã bị chia rẽ ra thành 4 Hãn quốc, trong đó hai Hãn quốc mạnh nhất là Nguyên Mông và Kim Trướng (tức Lều Vàng - đóng đô ở Mông Cổ). Theo trong phim thì cung điện, nhà cửa ở Cambulac có đủ loại kiến trúc, giống kiểu trong cái hình ở dưới, mái vòm củ tỏi nằm lọt giữa một khung cảnh rất Tàu. Dân cư thì đủ loại từ Mông Cổ tới Ả-rập, Ba Tư bán buôn cưới hỏi với dân Chi Na bản địa, thêm anh Latin Marco Polo đi lại loanh quanh, ngẫm khác nào London với New York bây giờ.



Chỗ còn Tàu duy nhất của nước Tàu đó là khu miền Nam, gần sông Dương Tử. Nhà Tống thoi thóp gần chết thủ lại trong thành Tương Dương tường cao ngói vững. Coi phim Kim Dung nhiều thì sẽ biết Quách Tĩnh, Hoàng Dung kháng Mông về thủ ở thành Tương Dương giữ cho nhà Tống khỏi sụp hơn chục năm, đẻ con ra đặt tên theo tên thành là Quách Tương về sau lập phái Nga Mi. Phim Marco Polo dĩ nhiên không phải Truyện Anh hùng bắn chim hay Chim Thần Đại Hiệp nên không có mấy vụ này. Trong thành Tương Dương có ông vua Tống Lý Tông, sau là ấu đế Tống Độ Tông cùng với tể tướng Giả Tự Đạo gian thần nhưng là trùm Đường Lang Quyền (võ bọ ngựa).

Phim này dùng tiếng Anh giọng Anh (phần nhiều) và giọng Úc xuyên suốt phim, coi như tiếng Anh đại diện cho cái lingua franca thời đó. Đôi khi nhân vật nói tiếng Tàu, Ý, Ả-rập nữa nhưng không nhiều. Marco Polo lần đầu vào gặp Hãn Kublai thì chém được mấy câu tiếng Mông Cổ rồi thôi, làm mình nghĩ nếu mà phim này có thêm tí tiền đầu tư cho nói tiếng Latin, Mông Cổ, Ba Tư này kia thì nâng giá trị hơn rất nhiều. Nhưng rồi nghĩ lại đây cũng không hẳn là phim tài liệu, với lại phim chỉ bám theo lịch sử chứ không đi theo y xì nên bỏ tiền vô làm ngôn ngữ cũng không đáng lắm.

Không bám chắc theo lịch sử nhưng mà phim cho thấy là biên kịch có kiến thức rất tốt. Các bạn coi sẽ thấy rất đã.

Nhưng nếu mà nói Marco Polo là phim xuất sắc thì mình sẽ nói hem. Một vài chỗ trong kịch bản còn khá yếu. So về kịch bản thì phim này đọ không nổi hai series đỉnh cao coi gần đây là Breaking Bad với Sherlock. Nhưng mà coi nó vẫn hay và thích. Giải trí vậy là ngon rồi.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

Nhà hóa học tổng hợp thì làm gì

Tác giả: Dr. Michael Edmonds
Dịch: QH

___________________________________



Theo kiểu truyền thống thì ở các năm đầu bậc đại học, sinh viên được dạy cho làm các thí nghiệm tổng hợp hữu cơ, tức là đem trộn hai hay nhiều hóa chất lại với nhau trong một khoảng thời gian nhất định, ở các điều kiện nhất định, để tạo ra một hợp chất mới. Sinh viên làm các thí nghiệm này tuân theo "công thức" có trong tài liệu hướng dẫn. Dưới góc nhìn của một người không chuyên thì đúng là tổng hợp hữu cơ kiểu này giông giống như học nấu ăn. Thực tế thì hai việc lại cực kỳ khác xa nhau (không chỉ ở chỗ trong phòng lab hóa học thì người ta không cho phép liếm muỗng như dưới bếp).

Khi sinh viên bắt đầu vào bậc sau đại học, hóa tổng hợp trở thành việc dùng những kiến thức về phản ứng hóa học để tạo ra một hợp chất hoặc một phân tử cụ thể. Lắm khi cái hợp chất đó lại là một phân tử chưa bao giờ tồn tại, nhưng người ta dự đoán nó có thể có những tính chất hữu ích nào đó. Lắm khi khác, nó lại là một phân tử có sẵn trong thiên nhiên, nhưng chúng ta cần tìm ra cách tốt hơn để tái tạo (ví dụ như là các phân tử dùng trong dược phẩm tìm thấy trong một vài loài thực vật hiếm).

Nhà hóa học tổng hợp sẽ xem xét cái phân tử mà mình muốn làm, xem xem làm thế nào để tạo ra nó. Bằng kiến thức của mình, nhà hóa học sẽ xác định các liên kết nào dễ tạo và tiến hành giải cấu trúc toàn bộ phân tử cho tới khi có thể gắn nó lại từ các phân tử nhỏ hơn mà nhà hóa học có thể đi mua ở các công ty hóa chất (hoặc đôi khi từ nguồn tự nhiên). Nhà hóa học sẽ thẩm định từng cách ghép các mảnh này để xem cách nào thuận lợi hay dễ thành công hơn. Giáo sư hướng dẫn của tôi gọi việc này là một trò đánh cờ phân tử – cá nhân tôi thì nghĩ chơi cờ dễ hơn cái này nhiều.

Một khi đã vạch được hướng đi khả dĩ tới phân tử đích, nhà hóa học sẽ gom các mảnh vật liệu nguồn lại, bắt đầu tráo đổi và kết hợp chúng lại với nhau. Tôi từng miêu tả việc này giống như ghép các mảnh LEGO, nhưng thường thì phức tạp hơn ghép LEGO nhiều. Nhiều khi một phản ứng không chỉ biến đổi cái phần của phân tử mà bạn muốn nó đổi, mà còn phá luôn một phần khác. Để giải quyết điều này, thường thì nhà hóa học cho thêm các nhóm bảo vệ vào để che phần phân tử cần được giữ nguyên, không cho nó phản ứng.

Hướng đi tới phân tử đích bao gồm một chuỗi phản ứng. Có khi chuỗi này có khoảng 4 hay 5 phản ứng. Có khi lại là hơn 5 chục. Trong hầu hết trường hợp, sản phẩm của mỗi phản ứng phải được tinh lọc và kiếm tra xác nhận đủ kiểu để chứng minh nó là sản phẩm trung gian cần tìm, rồi mới đi tiếp các bước sau *(ngoại lệ xem ở phần ghi chú). Quá trình tinh lọc gồm có chưng cất, kết tinh, hoặc dùng phương pháp sắc ký rất tốn thời gian nhưng rất hữu hiệu. Bước xác minh cấu trúc hóa học của chất trung gian dùng một loạt các kỹ thuật phân tích, lấy vài ví dụ như phương pháp Cộng hưởng từ hạt nhân (NMR), khối phổ (MS), hay đo độ triền quang của chất (xem góc xoay của ánh sáng phân cực khi đi qua chất như thế nào).

Sau khi đã lập kế hoạch tới phân tử đích, nhà hóa học sẽ dựa vào văn liệu hóa học đã được đăng trên tạp chí chuyên ngành để xác định xem từng phản ứng có xảy ra hay không. Tuy vậy, chỉ cần 1 thay đổi nhỏ trên cấu trúc phân tử cũng khiến cho kết quả thu được thực tế khác xa kết quả đã được công bố. Nhà hóa học phải luôn thủ sẵn những phương án mới, ngay cả khi phải lần ngược lại quy trình, có lúc bỏ rất nhiều phản ứng, để đi theo đường khác.

Phản ứng được làm thử lần đầu tiên thường không cho kết quả tốt nhất. Vậy nên mỗi phản ứng phải được tiến hành nhiều lần để tối ưu hóa. Nhà hóa học sẽ thay đổi thời gian phản ứng, cũng như thử các nhiệt độ khác nhau. Nhiều chất xúc tác có thể sẽ được thử nghiệm, cũng như thay đổi tỉ lệ các chất phản ứng. Phản ứng có thể được tiến hành dưới áp suất cao, hoặc trong môi trường khí trơ. Bước tối ưu hóa này có lẽ là phần chán nhất của quá trình nghiên cứu, tuy nhiên dù sao cũng còn đỡ hơn là khi đã thử mọi cách mà vẫn không làm phản ứng xảy ra được.

Làm nhà hóa học tổng hợp hữu cơ rất dễ nản. Nhiều phản ứng đáng lẽ phải xảy ra, đôi khi không thèm xảy ra. Nhà hóa học lắm lúc cần đến lab từ sáng tinh mơ và về nhà lúc gần nửa đêm, vì phải ngồi canh chừng những phản ứng chậm và thất thường như trông em bé. Tuy nhiên, lúc cầm trên tay chiếc lọ thủy tinh đựng một vài giọt hợp chất mới chưa từng được tạo ra là lúc nhà hóa học cảm thấy một cảm giác thỏa mãn dạt dào nhất trong lòng. Vì lúc đó, nhà hóa học biết được rằng tất cả máu, mồ hôi và nước mắt của mình đổ ra đã được đền đáp, và có thể, chỉ có thể thôi, cái hợp chất mới này, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, sẽ mở ra một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân loại.

*Ghi chú  – trong khi hầu hết các quá trình tổng hợp hữu cơ đều cần bước tinh lọc mỗi hợp chất mới tạo ra, hiện giờ đã có nhiều bước tiến mới trong việc áp dụng các quy trình tổng hợp "one-pot" (một bình) (hai hoặc nhiều hơn hai phản ứng hóa học xảy ra trong cùng một bình phản ứng mà không cần tinh lọc chất tạo ra trung gian) và các quy trình tổng hợp liên tục nhiều bước (continuous flow multi-step syntheses) (sản phẩm tạo ra sẽ di chuyển từ bình phản ứng này sang bình phản ứng kế tiếp với bước tinh lọc diễn ra tại chỗ (in situ)), một cách tiếp cận hứa hẹn sẽ làm một cuộc cách mạng hóa tổng hợp trong thập kỷ tới.



Bản gốc từ http://sciblogs.co.nz/molecular-matters/2012/10/08/what-does-a-synthetic-organic-chemist-do/

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Im lặng

Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bả cây.
(Ngôn chí số 10 - Nguyễn Trãi)

Tôi thấy hai câu này của Nguyễn Trãi, xét về tinh thần, nó rất gần với một bài thơ haiku 17 chữ. Cảm giác khi đọc lên là rất nhẹ và rất tĩnh. Đêm lặng, khẽ nghiêng chén, hớp cả ánh nguyệt. Ngày vắng, nhẹ nâng cành, xem được sắc hoa. Không thấy chủ thể đâu cả. Chủ thể biến mất trong cái vắng lặng.

Nguyễn Trãi có lẽ làm bài Ngôn chí số 10 này trong một cái chùa nào đó, nói trong câu đề đầu tiên "Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy". Người ta không uống rượu trong chùa, mà hơi rượu bén vào hai câu "bài cú" trên cũng làm mất đi cái tĩnh. Chén nghiêng để uống đó, có thể là chén trà, hoặc một chén nước. 

Cái vắng lặng hiện ra rõ hơn bằng những âm thanh nhẹ và lọt thỏm giữa không gian. Đó là tiếng nghiêng nước hớp trăng giữa đêm, đó là tiếng rẽ lá thưởng hoa lúc ban ngày. Bài bài cú của Buson dưới đây cũng là những âm thanh vẫy vùng giữa không gian để làm nên cái tĩnh mịch:

 雁   行きて  門田   も   遠く    おもはるる
Kari yukite kadota mo tooku omowaruru
(与謝 蕪村 Yosa Buson)

Đàn ngỗng bay qua
Đồng lúa trước nhà
Trông dường như xa
(QH dịch)

Chữ Hán dùng cho kari ở trên là chữ 雁 nhạn. Chim Nhạn trong tiếng Hán là chỉ loài ngỗng thiên di, bay về từ phương Bắc hàng năm vào mùa thu. Vì vậy đây là quý ngữ chỉ mùa thu của haiku. Tiếng Việt lại gọi con chim én, con swallow là chim Nhạn. Nếu không tra quý ngữ và xem lại chữ 雁, đọc bản dịch của thầy Nhật Chiêu (đàn nhạn đi rồi, cánh đồng trước cửa, dường như xa xôi) tôi đã tưởng ở đây nói con chim én bay trú rét. Đàn ngỗng bay sẽ khác đàn én liệng. Đàn ngỗng ồn ào hơn, nhưng một khi những tiếng kêu chìm khuất trong thinh không, khi sóng âm bị hiệu ứng Doppler kéo dãn ra, thì cái ồn ào đó quay trở về tịch mịch. Cái còn sót lại là im lặng.

Tôi đang cần im lặng.

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015

Tsubaki

日 の 目  見ぬ   冬  の     椿     の  咲  に  けり
hi no me minu fuyu no tsubaki no saki ni keri

Chẳng thấy mặt trời
Hoa trà mùa đông
Vẫn nở
Issa

Hồi tôi còn nhỏ, chừng 7-8 tuổi, nhà tôi có một chai dầu gội đầu không nhớ ở đâu ra. Đó là chai mùi hoa trà tsubaki của Shiseido. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được ngửi một mùi hương tuyệt vời như vậy. Tôi rất thích cái mùi đó, nên không chỉ dùng để gội đầu, tôi còn lấy để rửa tay. Đó là một cái mùi ngọt lịm, một cái mùi mê mẩn đối với tôi lúc còn nhỏ. Lớn lên, tôi vẫn còn nhớ cái mùi, vẫn còn nhớ cái cảm giác lúc nhỏ. Sau này lâu lâu mẹ vẫn có chai đó trong nhà, tôi vẫn thích cái mùi đó.

Đi khắp nơi, đôi khi tôi vẫn thấy hoa trà. Dĩ nhiên cái loài camellia japonica này không phải hiếm, người ta trồng khắp nơi. Nhưng đứng cạnh bông hoa, tôi chưa bao giờ ngửi thấy cái mùi ở trong dầu gội đầu của Shiseido. Cái mùi của Shiseido chỉ có trong chai dầu gội đầu của mẹ, và vài lần trên tóc của vài đứa con gái ở lớp (PTNK). Tôi chưa hề gặp trong tự nhiên.

Cái mùi đó vẫn là một bí ẩn.


Hình ở trên là bông hoa trà tôi chụp ở vườn thực vật trường Berkeley ở trên núi, vào mùa đông năm 2014. HN nói cái bông nhìn như cái trứng devil egg

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Khoảng cách tới trăng

Trong 'Cosmicomics' (tiếng Ý: Le Cosmicomiche) của Italo Calvino
QH dịch (từ bản tiếng Anh của William Weaver)

Chú thích tí: Cosmicomics là một từ không có trong tiếng Anh, cũng như Cosmicomiche không có trong tiếng Ý mà là từ do Calvino tự chế ra, dĩ nhiên là ghép giữa cosmi (sing. cosmo) = vũ trụ, và comiche (sing. comica) = chuyện vui. Cosmicomics trong tiếng Anh do đó là một từ Latin được Anh hóa, và nó có nghĩa là chuyện vui vũ trụ = vũ trụ hí đàm  nếu để Hán Việt cho sang trọng.

Hầu hết các truyện ngắn trong bộ Vũ trụ hí đàm  đều được kể bởi một nhân vật có tên là Qfwfq (thích đọc thế nào là tùy bạn). Mỗi truyện ngắn là một câu chuyện về một thời kỳ của vũ trụ, vũ trụ trong tưởng tượng của Calvino, dựa trên vũ trụ của Newton, của Einstein, của Gamow, của Hawking, nhưng không nhất thiết phải là vũ trụ của những người đó. Qfwfq sống qua tất cả những thời kỳ đó, dưới nhiều hình thái khác nhau, lúc thì là người chèo xuồng đi lấy sữa trăng, khi thì là con trùng amoeba bơi giữa đại dương thái cổ, có bận lại trở thành những sinh vật biển đang tiến hóa dần thành lưỡng cư để bò lên cạn. Qfwfq đã sống, đã chứng kiến hết thảy thăng trầm của vũ trụ, kiểu như ông ngư tiều đầu bạc của Dương Thận sống trên bãi bồi Trường Giang, đã quen nhìn trăng thu gió xuân, nhìn sóng cuốn hết anh hùng theo sóng theo nước. Ý tưởng về Qfwfq cũng tương tự như Saruta trong bộ Chim lửa của Tezuka, một nhân vật vì một lỗi lầm gây ra ở một thời điểm ở thế kỷ 26 mà cứ phải tái sinh lại làm người mãi, để kinh qua bao nhiêu khổ ải, bao nhiêu đắng cay, bao nhiêu đau khổ, lúc thì là nhà khoa học cô đơn, mãi không tìm ra được cách nào để tái sinh loài người, lúc thì là tên cướp cùng đường ở thế kỷ 8, trở thành nhà sư mù cụt tay, vân vân...

Ô kê, mời đọc truyện.

_______________________

credit: © 2010 Caroline Jones McKay


Ngày xưa, theo lời ngài George H. Darwin kể lại, Mặt Trăng nằm rất gần với Trái Đất. Rồi dần dần thủy triều đẩy nàng ra xa: là ta đang nói tới những đợt thủy triều mà chính Trăng tạo nên trên mặt nước ở Trái Đất ấy, những đợt thủy triều làm Trái Đất mất dần mất dần năng lượng của mình.   

Ôi ta nhớ rõ lắm! – ông già Qfwfq kêu lên – mấy người thì không nhớ đâu, nhưng ta thì vẫn nhớ. Nàng ở trên đầu bọn ta suốt, ta đang nói nàng Trăng khổng lồ ấy: cứ tới kỳ nàng tròn thì ban đêm sáng như ban ngày, có điều là có màu như vàng bơ thôi – nhìn cứ như nàng sắp đâm vào bọn ta vậy; còn tới kỳ trăng non, nàng lại cuộn quanh bầu trời trông như một cái ô đen bị gió thổi bạt; rồi khi nàng tròn dần trở lại, nàng chìa hai chiếc sừng xuống thấp trông như muốn đụng vào mỏm đá chìa ra biển và mắc kẹt ở đó luôn. Nhưng ngày xưa các pha mặt trăng khác bây giờ lắm, vì khoảng cách từ Mặt Trời cũng khác, và quỹ đạo nữa, và mấy cái góc ghiếc giữa cái này với cái kia gì đó, thôi ta quên rồi. Vì Trái Đất và Mặt Trăng ở sát kề nhau, bọn ta có nhật thực mỗi phút, tự nhiên thôi, hai con quái khổng lồ đó cứ liên tục chen vào bóng của nhau, lần lượt hết cái này xong tới cái kia.

Quỹ đạo à? Ừ, dĩ nhiên là vẫn hình elip: có lúc Trăng lao đến gần bọn ta, có lúc nàng lại bay đi xa. Còn thủy triều, lúc Trăng tới gần, dâng cao tới nỗi không ai ngăn nó được. Có những đêm Trăng rất tròn và rất gần, gần lắm, khiến thủy triều dâng cao tới nỗi Trăng chỉ còn cách mặt biển độ chừng một sợi tóc: thôi được, ta cường điệu đấy, nhưng chỉ độ vài mét thôi. Thế nào, cònvụ trèo lên Mặt Trăng à? Dĩ nhiên bọn ta làm chuyện đó rồi chứ. Chỉ cần chèo một cái thuyền ra biển, tới dưới chân Trăng, rồi bắc một cái thang, trèo lên, vậy là tới.

Vị trí trên Trái Đất gần Trăng nhất là ngoài khơi mỏm đá Kẽm. Bọn ta từng bơi xuồng chèo ra đó, cái kiểu xuồng nhỏ nhỏ bọn ta có thời đó, tròn và dẹp, làm bằng gỗ bần. Xuồng chứa được vài đứa bọn ta, gồm có: ta, Thuyền trưởng Vhd Vhd, vợ Thuyền trưởng, cậu em họ bị điếc của ta, và đôi khi có cả bé Xlthlx nữa – lúc đó bé độ mười hai tuổi gì đó. Những đêm đó, mặt nước rất lặng, bàng bạc nhìn chẳng khác gì thủy ngân cả, và đàn cá thì bơi lội bên dưới, màu tím, chúng không cưỡng nổi sức hút của mặt trăng nên bị nổi hết lên gần mặt nước, cả bọn bạch tuộc và sứa cũng bị như vậy. Lúc nào cũng có những đàn sinh vật tí hon – cua nhỏ, mực nhỏ, có cả rong biển, mỏng tang nhẹ tênh, và san hô – bay lên khỏi mặt nước và dính vào Mặt Trăng, treo rủ xuống từ cái trần màu trắng như vôi, hoặc không thì lơ lửng giữa không trung, làm thành một đám lúc nhúc tỏa ra ánh lân quang, khiến bọn ta phải lấy lá chuối quạt sang một bên mới đi qua được.

Đây là cách bọn ta trèo lên Trăng đây: trên xuồng bọn ta có một cái thang: một người đứng vịn, người thứ hai trèo lên, và người thứ ba ngồi ở mái chèo, chèo tới khi nào bọn ta ở ngay bên dưới Trăng; đó là lý do vì sao bọn ta cần nhiều người như vậy (ta chỉ mới nói tới những nhân vật chính yếu thôi đấy). Người đứng trên thang, khi xuồng tiến tới gần Trăng, sẽ hốt hoảng la lên: “Dừng lại! Dừng lại! Tôi sắp đâm đầu vào Trăng rồi!” Đó là ấn tượng đầu tiên mình thấy khi nhìn vào Trăng, một khối khổng lồ, gồ ghề đầy gai nhọn và lởm chởm những răng cưa. Giờ có lẽ khác rồi, nhưng hồi xưa, Trăng, nói đúng hơn là phần dưới của Trăng, bụng Trăng, phần sượt ngang qua Trái Đất, là như vậy đấy, phủ bằng một lớp vỏ đầy vảy nhọn. Trông nó giống như bụng cá vậy, mùi cũng vậy nữa, ta mang máng nhớ thế, không phải ta bảo chính xác là mùi cá đâu, mà thoang thoảng giống thôi, tựa như mùi cá hồi hun khói vậy.

Từ đỉnh cái thang, đứng thẳng lên trên nấc cuối cùng, mình có thể chạm được vào trăng nếu mình vươn dài tay ra. Bọn ta đã đo đạc cẩn thận (lúc đó, bọn ta chẳng mảy may ngờ rằng nàng Trăng mỗi ngày một rời xa hơn); điều duy nhất mình phải lưu ý là chỗ đặt tay khi với lên chạm vào Mặt Trăng. Ta luôn chọn mảnh vảy nào trông chắc chắn (bọn ta trèo lên thường theo nhóm năm hay sáu người một lúc), rồi ta bám một tay lấy, rồi bám luôn tay kia, và ngay tức thì ta sẽ cảm thấy cái thang và cái xuồng bỗng chốc rời xa bên dưới ta, và chuyển động của Trăng sẽ kéo ta ra khỏi lực hút của Trái Đất. Ừ, vậy đấy, Trăng mạnh lắm, Trăng kéo được cả mình lên; mình sẽ nhận ra điều này ngay khi mình chuyển từ lực hút của Trái Đất sang lực hút của Trăng: rằng mình phải nhảy lên lộn nhào một cái thật đột ngột, nắm chắc lấy cái vảy, giơ chân lên đằng đầu, cho tới khi chân ta đứng trên bề mặt Trăng. Nhìn từ Trái Đất, mình trông giống như mình bị treo ngược đầu lên vậy, nhưng với mình thì trông vẫn rất bình thường, điều lạ duy nhất với mình sẽ là khi mình ngước đầu nhìn trời, mình trông thấy biển bên trên, sáng lóng lánh, có chiếc xuồng và những người kia lộn ngược, nhìn giống như những chùm nho trên giàn vậy.
Cậu em họ ta là anh chàng điếc ấy, tỏ ra rất có năng khiếu trong việc lộn mèo này. Đôi tay vụng về của chú ấy, cứ tới khi chạm lên bề mặt Trăng (chú này luôn là người đầu tiên nhảy ra khỏi thang) là đột ngột trở nên thật khéo léo và nhạy cảm. Đôi tay này ngay lập tức tìm ra vị trí để anh chàng có thể kéo mình lên; nói cho đúng thì chỉ cần lực ép từ lòng bàn tay là cậu em ta có thể dính lên bề mặt của cái vệ tinh này rồi. Một lần, ta còn trộm nghĩ hình như Trăng bay về phía cậu em, khi chú ta giơ tay lên.

Chú cũng điệu nghệ y như vậy lúc trở xuống Trái Đất, dù thao tác lần này khó hơn. Đối với bọn ta, quá trình đi trở xuống bao gồm nhảy lên, càng cao càng tốt, tay giơ thật cao (nhìn từ Mặt Trăng thì như vậy nha, chứ nhìn từ Đất thì thấy bọn ta giống như đang lặn, hay là giống như đang bơi xuống, hai tay hai bên), nói cách khác là giống như nhảy lên ở trên mặt Đất vậy, có điều giờ không còn thang nữa, vì trên Trăng không có chỗ nào để kê thang cả. Nhưng thay vì nhảy giơ tay, cậu em họ gập người, cúi đầu xuống như thể sắp lộn nhào, rồi nhảy một phát, đẩy hai tay ra. Từ dưới xuồng, bọn ta quan sát cậu đứng thẳng giữa không trung giống như đang đỡ lấy quả cầu Trăng khổng lồ rồi bất thình lình dùng lòng bàn tay đẩy nó đi; rồi khi chân cậu em đến vừa tầm với, bọn ta sẽ cố túm lấy mắt cá và kéo xuống thuyền.

Rồi, giờ các người hỏi ta lên trên Mặt Trăng làm cái thứ gì phải không; để ta trả lời luôn. Bọn ta đi lấy sữa, bằng một cái muỗng lớn với một cái xô. Sữa Trăng rất đặc, giống kiểu phô mai mềm đó. Sữa được tạo ra ở các khe giữa hai vảy Trăng, bằng quá trình lên men của các sinh vật và khoáng chất có nguồn gốc Trái Đất, đã bay lên Mặt Trăng từ những thảo nguyên và rừng rậm mỗi khi Trăng lướt ngang những vùng này. Sữa Trăng phần lớn gồm nước ép cây cỏ, nòng nọc, hắc ín, đậu lăng, mật ong, tinh thể tinh bột, trứng cá tầm, mốc, phấn hoa, chất gelatin, giun, nhựa cây, tiêu, muối khoáng, bã của quá trình đốt. Mình chỉ cần đút muỗng xuống dưới lớp vảy phủ trên bề mặt Trăng, rồi mình múc lên đầy một muỗng cái chất quý giá đó. Dĩ nhiên sữa Trăng này không phải là loại tinh khiết rồi, còn nhiều tạp chất trong đó lắm. Trong quá trình lên men (diễn ra lúc Trăng bay ngang vùng sa mạc tỏa ra hơi nóng), không phải tất cả thành phần đều chảy ra; vẫn còn có thứ nằm kẹt lại trong cái hỗn hợp sữa như là: móng tay, sụn, bu lông, cá ngựa, quả hạch và cuống hoa, mảnh sành, móc câu, có lúc có cả lược nữa. Vì thế cái chất sữa này, sau khi thu về phải đem lọc tinh lại. Nhưng việc này không khó, cái khó nằm ở chỗ làm sao chuyển sữa về mặt Đất. Đây là cách bọn ta đã làm: bọn ta hất từng muỗng sữa lên trời bằng hai tay, dùng muỗng làm đòn bẩy. Cái chất sữa đặc như phô mai bay lên, nếu bọn ta ném đủ mạnh nó sẽ dính lên trên trần, nghĩa là dính lên mặt biển Trái Đất. Một khi rơi xuống biển rồi, chúng sẽ nổi lềnh bềnh, bọn ta chỉ việc kéo lên xuồng thôi. Cậu em điếc cũng rất có năng khiếu trong việc này; chú có lực tay mạnh, mà nhắm cũng tốt nữa; chỉ cần một cú ném mạnh, chú có thể hất miếng phô mai vào thẳng trong cái xô bọn ta đang giơ lên. Ta thì hay ném hụt; muỗng sữa không thắng được lực hút của Trăng và rơi thẳng lại xuống mặt ta.

Ta chưa kể hết cho mấy người rằng cậu em họ của ta còn giỏi những gì nữa đâu. Cái công việc múc sữa từ vảy Trăng ấy chỉ là trò trẻ con với chú ấy: đôi khi thay vì phải dùng muỗng, chú chỉ cần thọc tay xuống dưới lớp vảy, có lúc chỉ cần một ngón tay là đủ. Chú ấy không làm theo trật tự gì cả, mà cứ hay đi ra chỗ vắng, nhảy tới nhảy lui, như thể là đang trêu ghẹo Trăng, làm Trăng giật mình, hoặc có lẽ là cù cho nàng bật cười. Và bất kể nơi nào chú ấy đặt tay xuống là sữa lại vọt ra như là vắt từ vú dê vậy đấy. Thế là đám còn lại bọn ta chỉ việc lò dò đi theo và lấy muỗng múc hết sữa chú em vừa vắt ra, lúc thì chỗ này, lúc thì chỗ kia, nhưng rất hên xui may rủi, vì anh chàng Điếc này đúng là làm việc chẳng có theo trật tự gì cả. Ví dụ như là, có chỗ thì chú ây sờ vào hoàn toàn chỉ để sờ cho vui vậy thôi: là những khoảng hở giữa hai cái vảy Trăng, là những nếp gấp trần trụi và mềm mại của da thịt Trăng. Đôi khi cậu em họ ta không chỉ ấn ngón tay xuống, mà còn nhảy nhót rất nhẹ nhàng đúng mực rồi ấn ngón chân to của mình vào da thịt Trăng (chú ấy đi chân không lên mặt Trăng mà). Có vẻ như đây là trò vui nhất của chú ấy, nếu như bọn ta có thể đánh giá thông qua cái âm thanh líu lo vang ra từ cổ họng của chú khi tiếp tục nhảy nhót qua lại. 

Bề mặt của Trăng không chỉ phủ đều vảy, mà còn phô ra đôi chỗ có đất trơn và nhạt màu. Cậu em Điếc rất thích lộn nhào ở những chỗ đất mềm này, hoặc là thích bay lên như chim, cứ như là chú ấy muốn ấn hết cả cơ thể mình ngập vào phần thịt da mềm mại của Trăng. Khi cậu em lang thang ngày một xa, tới một lúc bọn ta không còn trông thấy chú ấy nữa. Trên mặt Trăng có nhiều khu vực rộng lớn mà bọn ta chưa từng có bất kỳ lý do hay mảy may tò mò nào để mà lần ra đấy, và đó chính là nơi cậu em ta biến mất. Ta ngờ ngợ rằng phải chăng những cú lộn nhào với huých đẩy diễn ra trước mắt bọn ta chỉ là để che mắt, là phần dạo đầu để cho âm mưu bí mật của chú muốn đi xa tới những phần còn ẩn dấu kia.

Bọn ta đã ở trong một tâm trạng rất đặc biệt vào những đêm rời khỏi mỏm đá Kẽm: vui vẻ, phấn khích nhưng đượm một chút hồi hộp, giống như ở trong hộp sọ của mình, thay vì não, bọn ta cảm thấy có một con cá, lơ lửng, bị Trăng nhè nhẹ hút lên. Bọn ta lái xuồng, đùa giỡn và ca hát. Vợ của Thuyền trưởng chơi chiếc đàn harp; nàng có đôi tay rất dài, óng ánh bạc như những con lươn dưới biển những đêm đấy, với khe nách phần cuối cánh tay ẩn trong bóng tối và huyền hoặc như bầy nhím biển; và tiếng đàn harp thì ngọt ngào và xuyên thấu lòng, ngọt và nhọn tới nỗi gần như khôn kham, và bọn ta buộc phải thốt lên lời cảm thán, không phải để hòa cùng âm nhạc mà chính là để bảo vệ lấy đôi tai của mình. 

Những con sứa trong suốt nhô lên khỏi mặt biển, co đập một khoảnh khắc, rồi bay về phía Trăng. Bé Xlthlx thích thú thò tay ra cố tóm lấy chúng giữa không trung. Có lúc bé vươn cánh tay nhỏ lên để bắt một con sứa, bé nhảy nhẹ lên và thế là bị Trăng hút rồi bay lơ lửng. Bé nhẹ quá, còn thiếu mấy chục gram trọng lượng nữa để Trái đất có thể thắng được lực hút của Trăng, thế là bé lơ lửng giữa trời cùng với bầy sứa, bồng bềnh trên mặt biển. Bé hoảng sợ, thét lên, rồi sau đó cười nắc nẻ và bắt đầu đùa giỡn, tóm lấy mấy con sò và cá con cũng đang lơ lửng, cho vào miệng và nhai. Bọn ta chèo cật lực để đuổi theo bé: Trăng vẫn chạy theo quỹ đạo elip của mình, cuốn đi theo bầy sinh vật biển, gồm cả những dải rong biến quấn lấy vào nhau và Xlthlx bập bềnh ở giữa. Hai bím tóc mỏng của bé như đang tự ý bay lượn, vươn về phía mặt Trăng; nhưng sau một hồi, bé vùng vẫy và đá vào không khí như muốn chống lại sức hút đó, giày của bé đã tuột khỏi chân trong khi bay, giờ thì đôi tất cũng trượt ra và đu đưa, vì bị Trái đất hút. Ở trên thang, bọn ta cố đưa tay tóm lấy.

Ý tưởng tóm lấy bầy sinh vật nhỏ mà ăn đúng là hay, càng ăn thì Xlthlx càng nặng và càng chìm xuống Trái đất; đúng ra mà nói thì trong bầy sinh vật lửng lơ đó, những con thân mềm, rong biển và phù du to nhất bắt đầu bị hấp dẫn hút về xung quanh bé, và một lúc sau bé đã phủ đầy vỏ sò silic, giáp tôm kitin, và rong biển sợi. Bé càng bị phủ thì càng thoát ra khỏi ảnh hưởng của Trăng và bắt đầu sượt qua làn nước biển và chìm xuống.

Bọn ta chèo nhanh tới để kéo bé lên, người bé vẫn còn rất hút, bọn ta phải vất vả lắm mới gỡ hết đám sinh vật ra vây lấy bé. Những nhánh san hô mềm vướng vào tóc bé, và mỗi lần bọn ta chải tóc là hàng đống tôm với cá mòi ủa ra. Mi mắt bé bị mấy con sao sao bu vào kéo xuống, xúc tu mực thì quấn lấy tay và cổ, áo đầm thì trông như dệt bằng rong và bọt biển. Bọn ta gỡ gần hết mọi thứ ra, nhưng trong nhiều tuần sau, lâu lâu bé lại rút ra từ đâu đó khi thi cái vảy cá, khi thì miếng vỏ sò, còn da bé thì lấm chấm những tảo cát, ai mà nhìn không kỹ thì cứ tưởng chỉ là tàn nhang trên mặt bé mà thôi.

Nói như vậy chắc mấy người đủ thấy Trái đất và Trăng hút lẫn nhau như thế nào, hai lực hầu như ngang bằng, đánh nhau ở cái khoảng không ở giữa. Để ta nói thêm với mấy người cái này nữa: một vật từ Trăng hạ xuống Trái đất cũng bị lực Trăng hút một lúc, chống lại cái hấp dẫn của mặt đất. Ngay cả ta, to và nặng thế này, lần nào ta từ trên đó xuống, ta cũng phải mất một lúc để quen với bên trên bên dưới của Trái đất, còn những người kia thì phải nắm lấy tay ta, giữ lấy ta mà kéo trên chiếc xuồng bập bềnh theo sóng trong khi đầu ta vẫn lơ lửng còn chân ta vẫn duỗi thẳng lên trời.

"Nắm lấy này! Nắm lấy chúng tôi!", họ la lên như vậy, và trong lúc dò dẫm, đôi lần tay ta nắm phải bầu ngực của vợ thuyền trưởng Vhd Vhd, bầu ngực tròn và chắc, dễ chụp lấy và có một lực hấp dẫn cũng mạnh như Trăng, có khi còn mạnh hơn, đặc biệt là khi ta cố lao xuống, vòng tay ôm lấy eo của nàng, và như thế ta trượt trở lại Trái đất, ngã rầm xuống lòng xuồng, với Thuyền trưởng Vhd Vhd kéo ta dậy và dội một xô nước vào mặt ta.

Đây chính là bắt đầu câu chuyện tình của ta với vợ thuyền trưởng Vhd Vhd và cũng là bắt đầu cho niềm đau khổ của ta. Vì không lâu sau ta nhận ra người mà nàng luôn nhìn đắm đuối chính là cậu em họ Điếc, mỗi khi bàn tay của cậu em ghì chặt lấy Trăng là ta lại lén nhìn nàng, và trong đôi mắt nàng ta đọc được rằng tình cảm thân thiết giữa chàng Điếc và Trăng khiến nàng bị khuấy động ra sao; và khi chú ấy biến mất sau những chuyến thám hiểm Trăng của mình, ta thấy nàng bồn chồn không yên, như đang ngồi trên lửa nóng, và rồi tất cả chợt hiện rõ lên với ta, nàng Vhd Vhd đang ghen với Trăng còn ta thì ghen với cậu em họ của mình. Mắt nàng làm bằng kim cương, nàng Vhd Vhd ấy; đôi mắt rực sáng lên khi nàng nhìn Trăng, gần như thách thức, như thể nàng muốn nói: "Trăng, người không thể có chàng cho riêng mình được!". Và ta cảm thấy như ta là một người ngoài cuộc.

Người chẳng hề biết chút gì về tất cả chuyện này chính là cậu em họ Điếc. Khi bọn ta kéo chú ấy xuống - như ta đã kể ở trên - bằng cách nắm lấy chân mà kéo, nàng Vhd Vhd mất hết cả tự chủ, nàng làm mọi cách để kéo hết sức chú ấy bằng sức nặng của mình, quấn lấy đôi tay dài của nàng quanh chú em; ta cảm thấy một cơn nhói đau trong ngực (khi ta nắm lấy nàng, cơ thể nàng mềm mại và êm dịu, chứ không căng lên và mạnh mẽ như khi nàng kéo cậu em. Trong khi đó, cậu Điếc vẫn cứ lãnh đạm, ngập chìm niềm hạnh phúc với Trăng của mình.

Ta nhìn sang Thuyền trưởng, tự hỏi không biết ông có thấy gì qua cử chỉ của vợ mình, nhưng không bao giờ có chút xúc cảm nào biểu lộ ra trên mặt ông, khuôn mặt bị muối ăn mòn, hằn những nếp nhăn như hắc ín. Vì cậu Điếc luôn là người cuối cùng xuống khỏi trăng, xuồng luôn bắt đầu nhổ neo khi chú ấy chạm đất. Rồi với một cử chỉ lịch thiệp, thuyền trưởng Vhd Vhd nhặt lấy chiếc đàn harp ở lòng xuồng, đưa cho vợ mình. Nàng buộc phải nhận và chơi một vài nốt. Không gì chia cắt nàng khỏi cậu Điếc bằng âm thanh chiếc đàn. Ta âm ư hát bằng giọng thấp một bài hát buồn như thế này: 

"Này đàn cá óng ánh đang trôi, đang trôi;
Và này đàn cá thẫm chìm ở đáy, chìm ở đáy đại dương..."

Tất cả mọi người, trừ cậu em Điếc, đều hát theo từng chữ của ta.

Bình thường, lúc chưa tới kỳ Trăng cậu Điếc lại về làm con người cô độc tách rời khỏi thế giới; chỉ khi Trăng sắp sửa tròn là chú em ta mới trở nên hăng hái khác lạ. Lần đó ta đã sắp xếp mọi thứ để sao cho không phải tới lượt mình phải trèo lên Trăng, để ta được ở trên xuồng cùng với vợ Thuyền trưởng. Nhưng rồi, tới khi cậu em trèo lên thang, nàng Vhd Vhd nói: "Lần này em cũng muốn trèo lên Trăng!".

Điều này chưa bao giờ xảy ra; vợ Thuyền trưởng chưa từng đặt chân lên mặt Trăng. Nhưng Thuyền trưởng Vhd Vhd không phản đối, ông còn đẩy nàng lên thang và kêu lên: "Vậy thì đi đi!", rồi bọn ta cùng giúp đưa nàng lên. Ta đỡ nàng từ phía sau, cảm thấy sự tròn trịa và mềm mại của nàng trên cánh tay ta, và để đưa nàng lên, ta bắt đầu áp mặt mình và lòng bàn tay mình lên nàng, rồi khi ta cảm thấy nàng bắt đầu bay lên mặt Trăng, ta chợt u sầu vô cùng ngay giây phút ta không còn chạm vào nàng nữa, thế là ta đuổi theo nàng, và la lên: "Tôi cũng sẽ đi lên đó phụ mọi người một lúc!"

Nhưng ta bỗng bị Thuyền trưởng giữ lại, hệt như ông cố dùng một cái kẹp để níu lấy ta. "Cậu ở lại đây; cậu còn việc phải làm", Thuyền trưởng ra lệnh, giọng ông bình thản.

Ngay lúc đó, ý định của từng người đã hiển hiện rõ ràng. Thế mà ta lại không hiểu ra; ngay cả bây giờ ta cũng không chắc liệu ta có hiểu rõ ràng hay không nữa. Chắc chắn vợ Thuyền trưởng đã từ lâu nung nấu ý định muốn cùng đi với cậu em ta tới một chốn riêng tư chỉ có hai người (hay ít nhất ngăn không cho cậu chạy trốn một mình với Trăng), nhưng có lẽ nàng còn một kế hoạch táo tợn hơn, đó là thuyết phục cậu em đồng ý, để mà hai người họ cùng trốn đi, không về xuồng và trú lại ở trên Trăng trong vòng một tháng, cho tới kỳ trăng tiếp theo. Nhưng có lẽ cậu em ta, vì điếc nên không hiểu những gì nàng cố gắng nói với chú, hoặc có lẽ chú ấy còn chưa nhận ra rằng mình chính là đối tượng thèm khát của nàng. Còn Thuyền trưởng? Ông chẳng muốn gì hơn việc tống khứ được vợ mình đi; đúng ra, ngay khi nàng đã yên vị ở trên Trăng, ông mới hiện ra mặt ý định độc ác của mình, và rồi bọn ta hiểu ra tại sao ông chẳng hề làm gì để giữ nàng ở lại. Nhưng ông có biết rằng quỹ đạo của Trăng đang ngày một nới rộng ra hay không?
Chẳng ai có thể ngờ chuyện ấy lại xảy ra. Cậu Điếc thì có lẽ, nhưng chỉ mình cậu ấy thôi: chắc bằng cái nhận thức mù mờ của mình, chú em ta đã có một dự cảm mơ hồ rằng chú sẽ phải nói lời vĩnh biệt với Trăng chính vào đêm ấy. Vì thế mà chú trốn biệt vào cái góc bí mật của mình, ở lì trong đó với Trăng cho tới tận lúc sắp sửa về thuyền với xuất hiện trở lại. Vợ Thuyền trưởng chẳng có cách nào tìm ra chú: bọn ta thấy nàng chạy đôn chạy đáo khắp nơi trên cái bề mặt đầy vảy của Trăng, bất thần dừng lại, nhìn về phía bọn ta như hỏi có thấy chàng Điếc về thuyền chưa.

Nghĩ lại mà nói, đêm ấy quả là có phần kỳ lạ. Mặt biển thay vì căng ra như chão mỗi đêm Trăng tròn, có khi thành một vòng cung hướng về phía bầu trời, nay lại ủ rũ, chùng xuống, cứ như lực hút của Trăng không còn chút sức nào nữa. Còn ánh Trăng nữa, không còn giống như ánh Trăng tròn mọi khi; bóng đêm hôm ấy như đậm đặc hơn. Những người lên mặt Trăng hôm ấy chắc cũng nhận ra là có chuyện gì đó không bình thường đang diễn ra. Họ ngước nhìn lên phía bọn ta đang ở dưới mặt đất với ánh mắt kinh hãi. Rồi từ miệng của họ lẫn của chúng ta, vang lên cùng một lúc tiếng la thất thanh: "Trăng đang trôi ra xa!"

Tiếng kêu vẫn còn vang vọng khi cậu Điếc đột ngột xuất hiện và chạy. Cậu trông không có vẻ gì hoảng sợ, hay ngạc nhiên: cậu chống hai tay xuống đất, lộn nhào một cái như thường làm, nhưng lần này khi cậu bắn lên không trung, cậu đột ngột bị giữ khựng lại như bé Xlthlx lần trước. Cậu lơ lửng giữa trời trong một khoảnh khắc, rồi huơ tay cật lực, như một người đang cố bơi ngược nước, cậu dần tiến về phía trái đất bằng một tốc độ chậm chạp chưa từng thấy trước đây.

Từ phía Trăng, các thủy thủ khác vội vã làm theo cậu Điếc. Không ai nán lại vớt vát chút sữa Trăng nào để mang về xuồng, mà Thuyền trưởng cũng không la rầy ai vì điều này cả. Họ đã chần chừ hơi lâu, khoảng cách giờ đây trở nên khó mà vượt qua hơn; họ bắt chước cách nhảy và cách bơi của cậu Điếc, nhưng đều bị giữ lại, dò dẫm trên không trung. "Nắm lấy nhau! Khờ quá! Bám lấy nhau mà nắm!", Thuyền trưởng la lên. Nghe thấy lệnh, các thủy thủ cố tạo thành một khối, để đẩy lẫn nhau cho tới khi họ rơi vào vùng hấp dẫn của trái đất: bất thình lình, cả khối cơ thể rơi xuống mặt biển vang lên một tiếng ùm to.

Bọn ta phải chèo xuồng ra để vớt họ lên. "Chờ đã! Còn thiếu vợ Thuyền trưởng!", ta kêu lên. Vợ Thuyền trưởng cũng đã cố nhảy lên, nhưng nàng vẫn còn đang trôi lơ lửng cách mặt Trăng vài mét, chầm chậm huơ đôi tay dài lấp lánh bạc của nàng trong không trung. Ta trèo lên thang, cố gắng trong vô vọng đưa cho nàng đàn harp để nắm. "Tôi không với tới cô ấy! Chúng ta phải chèo về phía cô ấy!" và ta bắt đầu nhảy lên, khua khua cái đàn. Trên đầu ta, cái đĩa mặt Trăng không còn như cũ nữa: nó đã nhỏ hơn nhiều và vẫn tiếp tục nhỏ lại, như thể ánh nhìn của ta khiến cho nó trôi ngày một xa, còn bầu trời ngày càng mở rộng ra như khe vực thẳm, để lộ ra dưới đáy vô vàn vì sao, và đêm tối khiến ta ngập tràn trong hư vô, nhấn chìm ta trong cơn choáng váng và hoảng loạn.

"Mình sợ," ta nghĩ, "mình sợ quá không thể nhảy được. Mình là đứa hèn!" và ngay lúc đó, ta nhảy lên. Ta bơi dữ dội trên nền trời, đưa chiếc đàn về phía nàng, và thay vì tiến về phía ta, nàng cứ lộn nhào, lộn nhào, làm ta đầu tiên trông thấy khuôn mặt điềm tĩnh của, rồi sau đó là tấm lưng nàng. 

"Nắm chặt lấy tôi!", ta la lớn, và ta đã bám lấy được nàng, quấn tay chân ta vào tay chân nàng. "Nếu chúng ta giữ chặt lấy nhau thế này, chúng ta sẽ xuống được!" và ta tập trung hết sức lực để khiến ta với nàng thành một khối, ta cũng tập trung hết cảm giác của mình để tận hưởng cái ôm thật chặt này. Quá đắm chìm trong cảm giác của mình, ta không nhận ra rằng thật ra ta đã kéo nàng ra khỏi trạng trái không trọng lượng, để rồi khiến nàng rơi ngược trở lại Trăng. Ta chẳng nhận ra ư? Hay đó chẳng qua chính là ý định của ta ngay từ ban đầu? Trước khi ta kịp suy nghĩ cho thấu đáo, một tiếng kêu đã dâng lên tới cổ họng ta. "Tôi sẽ là người ở với em trong một tháng!", à mà không đúng, "Bên em!", ta la lên, trong niềm háo hức: "Tôi sẽ ở bên em trong một tháng!" và đúng ngay lúc đó, ta và nàng bị dứt ra khỏi nhau khi cả hai cùng rơi ầm xuống Trăng, chúng ta lăn về hai ngả trên những chiếc vảy Trăng lạnh lẽo.

Ta ngẩng đầu lên như một thói quen mỗi khi ta chạm bề mặt Trăng, để nhìn cho chắc là trên đầu ta vẫn là mặt biển quen thuộc trải rộng ra như một cái trần nhà mênh mông vô hạn, và ta lại nhìn thấy biển, thật vậy, vẫn là biển, nhưng cao hơn nhiều và hẹp hơn nhiều, bị những bờ những bãi, những doi những vịnh, những vách đá bao lấy chung quanh, và những chiếc xuồng của chúng ta nữa, nhỏ làm sao, những khuôn mặt bạn bè ta mới xa lạ làm sao, tiếng kêu la của họ mới yếu ớt làm sao. Ta nghe một tiếng động ở gần mình: Nàng Vhd Vhd đã tìm ra chiếc đàn harp của nàng và đang mân mê nó, rồi kéo một tiếng tơ nghe não nùng như tiếng khóc. 

Một tháng dài bắt đầu. Trăng chầm chậm dịch chuyển quanh quả Đất. Chúng ta không còn nhìn thấy bờ biển quen thuộc của mình nữa, mà giờ là những dặm dài đại dương xa xôi, sâu thẳm như vực và những hoang mạc đầy những đá vụn lấp lánh, những lục địa phủ băng, những rừng rậm oằn mình dưới bầy bò sát, những rặng núi bị dòng sông chảy siết xẻ ngang, những thành thị lầy lội, những nghĩa địa đầy mộ đá, và những đế chế xây bằng đất sét và bùn. Khoảng cách vời vợi phủ một màu đơn điệu lên tất cả mọi thứ: cảnh tượng xa lạ khiến mọi hình ảnh đều xa lạ; tất cả đều trông như nhau, những đàn voi và những đàn châu chấu chạy khắp các bình nguyên, mênh mông, dày đặc, và rậm rạp một cách đều tăm tắp, y hệt như nhau.

Ta phải nên vui mới đúng: giờ thì như ta hằng mơ, ta đã được ở một mình bên nàng, ở thật gần theo đúng cái kiểu cậu em Điếc thân thiết với Trăng khiến ta luôn ghen tị, và nàng Vhd Vhd giờ là của riêng ta, những ngày những đêm ròng một tháng trời trôi qua không gì gián đoạn, vỏ Trăng nuôi sống chúng ta bằng thứ sữa Trăng có cái vị chua chua mà ta ăn đã quen, chúng ta ngước mắt nhìn lên, nhìn lên cái hành tinh mà chúng ta đã sinh ra, chúng ta đã được trông thấy tất cả mọi miền đất, được nhìn hết những phong cảnh chưa một người Trái Đất nào được chứng kiến qua, nếu không thì chúng ta cũng đã ngắm những vì sao xa hơn Trăng, to như quả mọng, làm bằng ánh sáng, lơ lửng trên cành cong của bầu trời, tất cả mọi thứ đều vượt quá những hy vọng, những mơ tưởng hão huyền nhất của ta ngày trước, thế nhưng, thế nhưng, hoàn cảnh này, đối với ta giờ đây thực chẳng khác nào một cuộc đày ải, một hình phạt tha hương.

Ta chỉ nghĩ về Trái Đất. Chính Trái Đất đã khiến chúng ta trở thành chúng ta như ngày hôm nay; ở trên này, cách Trái Đất vời vợi, cứ như mọi thứ đổi khác, ta không còn là ta, nàng cũng không còn là nàng. Ta chỉ mong mỏi vô cùng được trở về Trái Đất, và ta run rẩy mỗi khi nghĩ tới việc phải rời ra nó mãi mãi. Giấc mơ tình yêu của ta đã thỏa mãn ngay cái khoảnh khắc chúng ta ôm lấy nhau ở giữa Đất và Trăng; bị tách rời khỏi đất, ta giờ chỉ còn biết tới nỗi nhớ nhà quặn thắt lấy tim, nỗi nhớ man mác về cái nơi chốn, cái bắt đầu, cái kết thúc không còn nữa.

Đây là những điều ta cảm thấy. Còn nàng? Khi ta tự hỏi mình điều đó, nỗi sợ như xé ta rách làm đôi. Bởi vì nếu nàng cũng chỉ nghĩ về Trái Đất, đó là một điềm tốt với ta, nó cho thấy nàng cuối cùng cũng đã hiểu ta, nhưng cũng có thể tất cả mọi thứ đều là công cốc, vì những nỗi nhớ của nàng đều vẫn và chỉ hướng về cậu em Điếc. Thay vì thế, nàng chẳng cảm thấy gì cả. Nàng chẳng bao giờ ngước mắt nhìn lên hành tinh cũ, nàng cứ thơ thẩn, trông tái nhợt, loanh quanh những vùng đất trống, lầm bầm những bài ca buồn, và gảy chiếc đàn của mình, như thể muốn tạm thời (ta nghĩ thế) hoàn toàn làm quen với tình cảnh lúc này của mình. Thế có phải là ta đã thắng tình địch của mình không? Không; ta đã thua: một thất bại vô vọng. Vì nàng đã nhận ra rằng cậu em ta chỉ yêu mỗi Trăng, điều duy nhất nàng muốn bây giờ là trở thành Trăng, được hòa làm một với Trăng, với thứ tình yêu kỳ lạ của cậu em ta.

Khi Trăng đã đi trọn một vòng quanh Trái Đất, chúng ta lại trở về ở trên Mỏm đá Kẽm. Ta bần thần nhận ra khung cảnh quen thuộc: chưa bao giờ, dù trong những mường tượng tăm tối nhất, ta có thể hình dung ra cảnh mình đứng nhìn về Mỏm đá ở một khoảng cách vời vợi thế này. Giữa biển khơi lầy lội như vũng bùn, các bạn ta vẫn đang cố gắng, nhưng lần này không dùng thang nữa. Từ dưới xuồng mọc lên một rừng những cây gậy dài, mỗi người đều vung lên một cây, cây nào cũng có gắn móc ở đầu, có lẽ nhằm mục đích vớt vát chút sữa Trăng cuối cùng, cũng như cố giúp bọn ta trèo xuống. Nhưng rồi, mọi người mau chóng nhận ra rằng không có cây gậy nào đủ dài để với tới Trăng, và thể là họ bỏ cuộc, những cây gậy ngắn ngủn nực cười, nổi lềnh bềnh trên mặt biển; trong cơn bối rối, vài chiếc xuồng mất cân bằng, lật nhào xuống nước. Thế mà, lại ngay lúc đó, từ một xuồng khác, một chiếc gậy dài hơn, gắn lại từ những chiếc gậy ngắn mới đây thôi vẫn còn lềnh bềnh trên sóng nước, bắt đầu huơ về phía Trăng. Chiếc gậy hẳn phải làm bằng tre, nhiều gây tre nhỏ, nhiều lắm, gắn lại vào nhau, thế nên để đưa nó lên cao, họ phải nâng thật châm, vì gậy tre mỏng manh như vậy, chỉ cần lỡ tay là nó sẽ gãy ngay. Họ cũng phải nâng gậy thật cẩn thận, nếu không muốn làm lật thuyền.

Lập tức, bọn ta nhận ra rằng đầu gậy lần này sẽ chạm vào Mặt Trăng, rồi thấy nó sượt qua bề mặt, ấn vào nền đất Trăng đầy vảy, ngừng một chút, rồi đẩy nhẹ, không phải, đẩy mạnh thì đúng hơn, làm cho gậy nảy ra, rồi bật trở lại đập vào đúng điểm đó, rồi lại nảy trở ra. Rồi ta nhận ra, cả hai ta - vợ Thuyền trưởng và ta - đều nhận ra, đó chính là chú em ta, không thể là ai khác, đang chơi đùa lần cuối cùng với Trăng của mình, bằng cách dùng gậy cù Trăng, như thể chú vẫn thường đùa với nàng. Và bọn ta nhận ra rằng chú em ta không hề có một chủ đích nào cả, mấy người có thể nói rằng chú ấy đang cố giúp đẩy Trăng ra xa, cố cho Trăng thấy được quỹ đạo rộng hơn của nàng. Chính là kiểu chú ấy chứ không lẫn vào đâu được, chú hoàn toàn không hề có bất kỳ mong muốn nào đi ngược lại ý thích của Trăng, hành trình và số phận của Trăng, nếu Trăng muốn trôi ra xa, thì chú sẽ vui lòng giúp Trăng đạt ý nguyện, hệt như, cho tới mới đây, chú vẫn hạnh phúc ở cùng Trăng gần bên mình.

Nàng Vhd Vhd sẽ làm gì, khi chứng kiến tất cả cảnh này? Chính lúc này, nàng lại chứng tỏ rằng tình yêu của mình với cậu Điếc là một lời thề nguyện bất khả bội, hoàn toàn không phải là thứ tình cảm nhẹ dạ nhất thời. Nếu chú em ta hết lòng hết dạ với Trăng cách xa thăm thẳm, thì nàng cũng sẽ một mực nguyện ở trên Trăng thăm thẳm cách xa. Ta nhận ra điều này, khi không thấy nàng bước tới đầu gậy tre, mà chỉ xoay chiếc đàn harp về phía Trái Đất, cao cao trên trời, buông vài tiếng tơ. Ta nói ta thấy nàng, nhưng thật ra bóng dàng nàng chỉ sượt bên góc mắt ta mà thôi, vì ngay khi gậy chạm vào Trăng, ta đã buông hết tốc lực chay tới, bám ngay lấy nó, và giờ đây, nhanh như con rắn bò, ta đang trèo theo từ mấu tre, tay chân thoăn thoắt tiến về phía trước, ta thấy nhẹ bẫng trong phần không gian loãng giữa hai thiên thể, ta được cái sức mạnh tự nhiên điều khiển, sai khiến ta phải trở về Trái Đất, ta hiểu rõ, ta nhận ra cái ý định ban đầu đã mang ta lên Trăng, nhận ra cái kết cục không hay ho gì của nó; và cuối cùng, nỗ lực của ta cũng khiến ta trèo tới được điểm mà ta không còn cần phải cố gắng gì nữa, lực hút từ Trái đất khiến ta chỉ cần để mình tự trượt, đầu chúi xuống, cho tới khi chiếc gậy gãy ra làm nhiều mảnh, còn ta thì rơi xuống biển, giữa những chiếc xuồng.

Ta đã trở về trong ngọt ngào, đã tìm lại được nhà của mình, nhưng tâm trí ta vẫn ngập tràn nuối tiếc vì đã đánh mất người con gái ta yêu, và khi muốn tìm nàng, ta lại nhìn về phía Trăng, giờ đây hoàn toàn ngoài tầm với. Ta thấy nàng. Nàng vẫn ở lại nơi ta đánh mất nàng. Nàng ngồi trên một bờ biển ngay trên đầu ta, và nàng im lặng. Nàng tiệp cùng màu với Trăng; nàng nâng chiếc đàn harp, rải vài hợp âm chậm. Ta vẫn nhìn ra được dáng hình bờ ngực nàng, cánh tay nàng, đùi nàng, hệt như trong trí nhớ. Tới giờ ta ta vẫn còn nhớ, tới tận bây giờ, khi mà Trăng đã trở thành cái hình tròn bẹp, xa xăm trên bầu trời, và ta vẫn tìm kiếm nàng như vậy mỗi khi mảnh trăng đầu tiên hiện ra. Trăng càng già, ta càng thấy nàng rõ nét hơn, thấy nàng hay thấy bất kể thứ gì của nàng, nhưng chỉ nàng mà thôi, trong hàng trăm, hàng ngàn viễn tượng, chính nàng người ta làm Trăng trở thành Trăng, chính nàng, mỗi khi tròn, lại khiến bầy chó hú gào thâu đêm, và có cả ta cùng nhập cuộc.

[Hết]

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

Hãy quên mình đi

Tôi viết cái ở dưới vào ngày 31 tháng 12, ngày cuối cùng của năm 2010. Bản gốc tôi viết là bằng tiếng Anh, ở chỗ này. Thời kỳ đó là lúc tôi bị chìm vào một cái mặc cảm tội lỗi bàng bạc và mờ ảo không rõ nguyên nhân, kèm với cái nỗi bức bối của cái kỳ thi sắp diễn ra. Nhờ ghi chép lại trên cái blog này mà về sau tôi vẫn còn nhớ được mình đã trải qua những gì. Ngoài cái cảm giác mơ hồ rằng mình làm điều gì đó sai, tôi còn có cái cảm giác mình đang im lặng và nắm giữ một bí mật, rồi lại còn kiểu như trẩu tre, nghĩ rằng mình rất oách, rất xịn (Đây là hương và đây là hoa). Rồi tôi bắt đầu viết về Umbreon và Espeon (cái sê ri đó đây), xem như là hai cái biểu tượng cho suy nghĩ của mình. Espeon là con pokémon mèo mặt trời (Eevee tiến hóa max friendship buổi sáng), Umbreon là con pokémon mèo bóng đêm (Eevee tiến hóa max friendship buổi tối). Espeon hệ siêu linh và là ánh sáng nên nó tượng trưng cho rất cả những gì phô trương, những gì chói rạng, những gì tinh túy và đẹp đẽ nhất của tôi. Umbreon là bóng tối, nó tượng trưng cho đêm đen im lặng, nhưng tràn đầy năng lượng, và chứa đựng tất cả những gì bí mật tôi chứa bên trong mình, có khi nhầy nhụa, nhưng cũng có cái còn đẹp hơn những gì phô ra.



____________________

(Eng ver.)

Hãy quên mình đi
Hãy quên mình đi
Xin hãy quên mình đi

Vì mình nằm ngủ đè lên bông hoa
Mọc trên ngọn cây
Vì mình ngồi đếm đàn cừu
Chạy ngoài đồng cỏ
Vì mình bắt mất con chim
Hót bên cửa sổ

Hãy quên mình đi
Hãy quên mình đi
Xin hãy quên mình đi

Bằng không mọi người sẽ mãi chẳng tha thứ cho những gì mình đã làm.

Hãy rời mình đi
Hãy rời mình đi
Xin hãy rời bỏ mình đi
Hãy xa mình ngay, khi mình còn bay trên không
Hãy xa mình ngay, khi mình còn chưa biết
Mình đẹp đẽ, mình tinh khiết, nhưng mình dễ vỡ
Thế nên xin hãy rời mình ngay
Khi mình còn chưa tới

Khi mình còn chưa tới
Xin hãy bảo bạn mình, rằng mình sẽ ghé ngang qua
Xin hãy bảo mèo mình, rằng mình sẽ cho nó ăn sau
Xin hãy bảo Espeon, rằng thật ra nó không biết gì cả
Xin hãy bảo Umbreon, rằng nó nên khóc đi thì hơn
Và xin hãy tự bảo với người, rằng hãy rời mình ngay.

Bằng không mọi người sẽ mãi chẳng tha thứ cho những gì mình đã làm.

Hãy quên mình đi
Hãy quên mình đi
Mọi người ơi, xin hãy quên mình đi

Vì mình rồi sẽ quên mọi người thôi.