Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

Đi khỏi một thành phố



Bỗng dưng bạn cảm thấy việc rời khỏi một thành phố để phiêu lưu tới một thành phố khác thật dễ dàng. Buổi sáng bạn ngủ dậy, đánh răng, nhìn ra cửa sổ xem thời tiết rồi nghĩ, rồi in ra tờ bản đồ xe bus, rồi chạy ra ngân hàng rút vài tờ tiền lẻ, rồi ra ga xe lửa, rồi mua một vé khứ hồi. Chỉ thế, rồi khi đặt chân lên toa xe lửa, bạn thấy việc rời khỏi một thành phố thật dễ dàng biết bao.

Trên toa xe lửa bạn nhặt được một tờ báo ai đó bỏ quên. Lật tờ báo ra thấy bài viết của một ông nhà văn kiêm nghệ sĩ hài nào đó về phân biệt chủng tộc. Đại loại thì là phân biệt chủng tộc là một thứ ngu xuẩn và dở hơi nhất của con người. Để ghét một người, không phải đơn giản, ông tác giả viết, bạn phải tiếp xúc, suy nghĩ, xem xét, so sánh với người đó thật đàng hoàng, rồi mới đi tới được quyết định vì sao người đó đáng ghét. Quả là một quy trình mang tính triết học. Bạn không thể khơi khơi ghét một người. Ông nghệ sĩ hài/nhà văn tiếp tục, chỉ những người không thèm động tâm suy nghĩ, thay vì ghét một người vì tính cách, tâm hồn, hành động của họ, quá lười biếng xem xét, những người này gộp hết cả một dân tộc, một đám người chia theo nơi sanh chốn đẻ, theo màu da, thậm chí theo quy đầu, vân vân mà ghét chung một lượt.

Bạn nghĩ ừ thì đúng rồi. Rồi bạn lấy chai nước trong túi ra nhấp một ngụm.

Bài báo tiếp tục, rằng đối với chúng ta, những người nhận là không phân biệt chủng tộc, trên thế giới này có hơn 200 quốc gia, mỗi nơi mỗi khác. Nhưng với những người phân biệt chủng tộc biếng nhác kia, thế giới chỉ có vài nhóm người: dân da trắng, dân Tàu hay là dân châu Á, dân Ấn Độ, dân da đen, vân vân và một nhóm gồm tất cả những dân không biết phân loại vô đâu hoặc là quá lười để phân loại tiếp. Dưới con mắt phân biệt chủng tộc, cứ dân châu Á, không cần biết Việt Nam, Thái Lan, Inđô, Nhật, Hàn gì, đều là dân Tàu, ông tác giả tiếp tục. Chỗ khu Nam Á, dân Ấn đánh nhau chí chóe với dân Pakistan, hai bên cho rằng mình khác biệt. Nhưng liệu có tốt hơn nếu cả hai đều nhìn mình bằng con mắt của đám người phân biệt chủng tộc lười biếng, để thấy rằng mình cũng chả có gì khác nhau.

Bài báo viết thêm vài câu gì đó rồi kết thúc nhưng bạn không đọc nữa. Hoặc có khi bạn đọc rồi nhưng tàu lửa rung lắc khiến không có gì đọng lại nữa.

Bạn nghĩ về những con người ít trí tưởng tượng. Nhưng trí tưởng tượng là gì, có khi nào nó mang chính con người ra xa nhau hơn, hay mang chính mình ra xa mình hơn? Bạn nghĩ về những đêm bạn nằm tưởng tượng. Có khi là những điều đẹp đẽ, có khi là những điều tầm thường, có khi lại là những điều thô thiển. Bạn nghĩ và chợt bạn muốn khóc. Hai dòng lệ sẽ chảy ra khi bạn tưởng tượng, "hai dòng dài rất dài", trong như dòng ngọc, nghe cliché quá, hay là trong như cái thứ chất dẻo silicone nung lên trong lò 200 độ C hai tiếng đồng hồ. Và chữ cliché nữa, bản thân nó dường như cũng nghe cliché quá.

Rồi bạn không biết bạn nghĩ cái gì. Hình như trí tưởng tượng đưa bạn đi tới đẩu tới đâu. Bạn muốn trở về thực tại, đối diện với nỗi buồn của bạn. Nhưng tôi có buồn gì đâu, bạn cật vấn. Vậy thì đối diện với nỗi vui của bạn. Đối diện với chính việc bạn đang rời một thành phố một cách vô cùng dễ dàng. À, vấn đề đây rồi, bạn nhủ, đó là việc rời thành phố.

Nhưng bạn biết việc bạn rời thành phố tự bản thân nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Ít nhất là nó không có ý nghĩa gì với những ai không phải là bạn. Bạn bảo tâm phân biệt của bạn vẫn còn mạnh lắm. Thế nên bạn không muốn tiếp tục dông dài về việc bạn nghĩ gì trên chuyến xe lửa rời thành phố sáng hôm nay. Bạn ép cảnh phải chuyển.

Cảnh chuyển sang bạn đang đứng giữa nắng. Bạn nghĩ bạn thích nắng hơn bóng tối. Trong bóng tối, chính bạn không nhìn rõ mặt bạn. Bạn không nhìn rõ tay bạn. Người ta nhìn vào không rõ bạn ở đâu. Bạn bất định xứ. Bạn lửng lơ như một hạt lượng tử trong bóng tối.

Bạn muốn làm gì với nắng. Bạn ngồi trong nắng. Bạn đứng trong nắng. Bạn há miệng cho nắng chảy vào lòng. Bạn vo nắng thành viên. Bạn nhìn nắng và mong nắng nhìn lại bạn. Bạn và nắng như hai người bạn tâm giao. Nhưng rồi bạn phát chán. Bạn bảo đủ rồi, chuyện này sến quá. Bạn không thích kể lể chuyện sến của mình, chuyện mình chơi với nắng cho người khác nghe.

Bạn cũng muốn nói về bóng tối. Tuy trong bóng tối bạn như bất định, bạn như hạt lượng tử không biết mình ở đâu, nhưng ít nhất bạn biết về năng lượng của bạn. Bạn biết với bóng tối, bạn mạnh mẽ thế nào. Bạn biết bạn vui. Bạn biết bạn buồn. Bạn biết về muôn điều, trừ một điều bạn không rõ bạn ở đâu.

Cảnh lại chuyển và bạn đi bộ giữa rừng thông. Mỗi lần thấy một cội thông cong cong bạn lại nhớ tới cái nền của một vở kịch Nô, cái nền có cây thông đứng yên. Mặc dầu trong đời, bạn chưa bao giờ tận mắt xem một vở kịch Nô. Thời gian, không gian, bốn mùa, âm thanh, thảy đều trôi qua ngọn thông, vùn vụt như tên bay, ào ào như nước chảy. Bạn khẽ chạm vào cây thông, bạn nghĩ tới dòng suối mình vừa đi qua. Bạn không biết giao tiếp với dòng suối thế nào. Dòng suối chảy tới tận đâu bạn không hề rõ, tới những vùng đất xa. Bạn thấy giao tiếp với dòng suối thật khó. Dòng suối vẫn vui vẻ cho bạn những dòng nước thật mát. Bạn vẫn vui vẻ vốc nước uống và nói lời cảm tạ.

Cây thông đứng đó, tán lá rào rào. Bạn nhận ra rằng bạn vừa trông thấy thời gian trôi qua ngọn thông.

Rồi bạn nhận ra tàu lửa tới ga cuối rồi. Việc đào tẩu khỏi một thành phố đã xong rồi.

Thật dễ dàng quá đi.




________________

Đoạn trên báo tôi dựa trên bài viết của Richard Herring đăng trên Metro ngày 31/5/2013, có xào nấu lại.

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

Buồm nhỏ nhẹ dong

Tôi đã thấy cái khôn lợi hơn cái dại, ánh sáng lợi hơn bóng tối.
Người khôn biết mở mắt nhìn, kẻ dại bước đi trong tăm tối.
Còn tôi, tôi biết : cả hai sẽ cùng chung một số phận.
Ecclesiastes 2:13-14. 


Ngồi giữa đêm sâu
Hắn cầm một quả hồng
Ngẫm những điều đã thấy
Vào một chiều đông

Có người đã tới
Cội đa giữa cánh đồng
Trông nhìn đàn sếu đậu
Nghĩ về mênh mông

Người về vội vã
Trăng chưa khuất bầu không
Hắn còn ngồi yên ả
Chưa viết một dòng

Khói nhẹ sương nặng
Sếu lướt qua cầu vồng
Hắn ngẩng trông thiên khí
Non đoài chuyển giông

Thụy đình mộng đoạn*
Mùa trôi qua ngọn thông
Mưa lòa xòa ướt mặt
Vung tay gió hong

Quay về bến nước
Sóng đu đẩy chập chồng
Nương luồng gió thổi khẽ
Buồm nhỏ nhẹ dong

Tôi nghe kể lại
Tay đưa nhận quả hồng
"Ơ hồng mùa này chát lắm!"
"Vậy ăn lê không?"

___________
*: Thôi ngủ (thì) dứt mộng.
Mấy câu Cựu ước đầu bài trích theo bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ Phụng vụ.

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Buddhist Ethics - Đạo đức học Phật giáo - Một dẫn nhập ngắn



Tôi vừa đọc xong quyển "Đạo đức học Phật giáo - Một dẫn nhập ngắn" (Buddhist Ethics - A very short introduction) của Damien Keown. Oxford vừa gửi sách tới trả công cho tôi thì tôi trông thấy thông tin NXB Tri Thức sắp ra bản tiếng Việt. Thế nên nhân tiện quảng cáo luôn cho Tri thức: http://www.nxbtrithuc.com.vn/sach-tri-thuc/sach-sap-xuat-ban/864-dao-duc-hoc-phat-giao

Tôi đã từng viết về cuốn dẫn nhập kia của ông Keown, mời xem ở đây, hehe.

Lần này chắc tôi không viết một bài dài như vậy cho cuốn này được. Nhưng nói chung cách tiếp cận của ông Keown trong cuốn này vẫn rất thú vị. Vốn dĩ là một cuốn Dẫn nhập, sau khi tóm lại vài ý chính về đạo Phật, ông nói sơ lược về nền luân lý học / đạo đức học (nghĩa là triết học về đạo đức) của phương Tây: việc bộ môn Ethics này được chia làm 3 phân môn: đạo đức học mô tả, đạo đức học chuẩn tắc / quy phạm và metaethics, rồi nói lại về các lý thuyết đạo đức học tiêu biểu ở phương tây của Aristotles, Kant và John Stuart Mill. Nói một thôi một hồi ông bắt đầu vào việc so sánh vài khía cạnh trong nền đạo đức Phật giáo và phân loại sắp đặt nền đạo đức này vào các lý thuyết của Tây.

Rồi trước khi phân tích từng khía cạnh, ông Keown nêu ra những quy tắc hệ thống khi "xét duyệt" những ý tưởng được cho là thể hiện quan điểm của Phật giáo về các vấn đề đạo đức / luân lý. Ví dụ như: (i) quan điểm phải được chép trong kinh điển Phật giáo rõ ràng, (ii) phải được thể hiện trong các văn bản phi-kinh điển hoặc văn bản diễn giải, vân vân...

Sau đó là tới phần phân tích từng khía cạnh luân lý. Nếu hồi nãy bạn có bấm vô link tôi quảng cáo giùm Nxb Tri thức thì chắc cũng đọc được các khía cạnh đó. Ông Keown trình bày, phân tích, so sánh và nhận định quan điểm của Phật giáo lần lượt về:
i. Thú vật và Môi trường
ii. Tính dục (ở một khía cạnh nào đó còn nói về Nữ quyền và Misogynism)
iii. Chiến tranh và Chủ nghĩa Khủng bố (hay còn nói về bất bạo động, bất hại, về chiến tranh chính nghĩa): Chương này có một ý rất hay về sự khác biệt giữa violence và force. Violence bao hàm sân giận, trong khi force trung tính hơn rất nhiều. Nó làm tôi nghĩ tới việc muốn làm quay bánh xe Pháp cũng cần phải có lực. Lực / Sức mạnh không mang nghĩa bạo động.
iv. Vấn đề phá thai
v. Suicide and Euthanasia (bản tiếng Việt của Tri thức sẽ dịch là Tự tử và Cái chết tự nguyện): bàn về cái chết của ngài Thích Quảng Đức trên đường phố Sài Gòn, có một đoạn trích trong cuốn "Hoa sen trong biển lửa" của thầy Nhất Hạnh. Đây là một chương rất hay (ơ, thực ra chương nào tôi thấy cũng hay cả).
vi. Cloning (bản tiếng Việt sắp ra dịch là Sinh sản vô tính, nhưng cá nhân tôi nghĩ cụm "Nhân bản vô tính" sẽ hợp hơn rất nhiều, vì ở đây không chỉ gói gọn trong việc clone nhằm mục đích sinh sản).








Trong phần phá thai có nói về tục Mizuko Kuyoo của người Nhật làm chay cho đứa trẻ bị từ bỏ. Đứa trẻ được gọi là thủy tử (con nước - mizuko). Chữ con nước gần với khái niệm đứa trẻ còn trong trứng nước trong tiếng Việt. Đứa trẻ được cung dưỡng (kuyoo) dưới hình tượng Bồ tát Địa tạng cùng với nhiều đồ chơi với niềm tin rằng những đứa trẻ chưa ra đời sẽ trở lại đâu đó ngồi chơi trên bờ nước tiếp tục chờ đản sinh. Tới khi tối trời, lúc gió lạnh nổi lên, Bồ tát Địa tạng sẽ tới và che chở cho bọn trẻ bằng áo cà sa của Ngài, lắc những cái vòng leng keng trên thiền trượng của ngài và ru bọn trẻ ngủ.

Ông Keown chép lại một bài hát thường hay hát trong lễ chay cho thủy tử. Tôi không tìm ra bản gốc bằng tiếng Nhật hay gì cả. Dưới đây tôi tạm dịch từ tiếng Anh của ông Keown.





A hymn to Jizō often used in the mizuko kuyō liturgy
Bài hát tụng Địa tạng vương Bồ tát thường được cử trong lễ cúng thủy tử

Be not afraid, little dear ones,
You were so little to come here,
All the long journey to Meido!
(Đừng sợ, này hài tử,
Đường tới Minh Thổ còn dài
Mà con còn bé bỏng biết mấy!)

I will be Father and Mother,
Father and Mother and Playmate,
To all the children in Meido!
(Ta sẽ làm Cha làm Mẹ con
Làm Cha, làm Mẹ và làm Bạn chơi cùng
Với tất cả hài tử trong cõi Minh Thổ.)

Then he caresses them kindly,
Folding his shining robes around them,
Lifting the smallest and frailest
Into his bosom, and holding
His staff for the stumblers to clutch.
(Rồi Ngài vuốt ve các con thật dịu dàng
Gấp nếp quang y che chở các con
Ngài bồng đứa nhỏ nhất yếu nhất
Đặt vào lòng Ngài và giơ thiền trượng
Cho những đứa trẻ bất hạnh đưa tay bắt lấy.)

To his long sleeves cling the infants,
Smile in response to his smiling,
Glad to his beauteous compassion.
(Các hài tử bám lấy tay áo Bồ tát
Cười cùng với Ngài
Hân hoan trong niềm từ bi đại hạnh.)

__________________________________

Minh Thổ (Meido) chỉ là cách nói nhẹ nhàng hơn để chỉ Địa ngục.


Nói chung tôi thấy cuốn sách này vẫn có khuyết điểm đó là do nó vốn chỉ là một cuốn Dẫn nhập, tôi đọc xong vẫn thấy chưa đã. Nếu muốn đã chắc phải tìm những cuốn bự hơn. Thêm nữa, như ông Keown nhận xét rằng ổng chủ yếu nghiên cứu về Theravada, tôi thấy cuốn này vẫn chưa đề cập nhiều tới vài quan điểm từ góc nhìn Đại thừa. Thêm nữa, ông Keown (hoặc ai đó) cũng có nói đâu đó rằng vẫn phải xem xét về sự hòa trộn giữa Phật giáo và các nguyên lý văn hóa bản địa. Tuy trong sách có bàn về vài vấn đề (ví dụ chiến tranh chính nghĩa) từ nhiều góc nhìn văn hóa (dẫn chứng về cuộc chiến tranh ở Tích Lan, rồi vụ vua Asoka ở Ấn Độ, rồi các giáo phái Thiền tông Nhật trong Thế chiến II), nhưng tôi vẫn cảm thấy vẫn chưa nhiều. Đó là lý do tôi nói "chưa đã".

Tôi hy vọng Nxb Tri thức sẽ có một bản Việt dịch thật hay của cuốn Dẫn nhập này.

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

Đi đâu hỡi bọn bồ câu?

Hôm qua chẳng là viên đạn
Mà bắn vào trong đêm sâu
Ngày mai không phải ánh sáng
Rọi lên phía đầu con tàu

Nơi này nỗi sợ thì lắm
Em ngồi ôm lấy khổ đau
Công viên gió còn trở lạnh
Mộc lan chưa nở nhạt màu

Nỗi buồn em bảo màu đỏ
Niềm vui thì lại màu nâu
Trở mình trong hơi thở ấm:
- Đi đâu hỡi bọn bồ câu?
Ngước nhìn đàn chim em hỏi
Bi thương cuộn được một xâu

Tôi biết em ngồi trong khói
Cá chép mới mọc xong râu
Chẳng hay con sò mới khép
Biển vừa khóc vội trận đầu
"Nước mấy trăm thu còn vậy"*
Em cười trọn cuộc mưa Ngâu

Bồ câu bay rồi không đáp
Em quay sang lũ hải âu
Chúng nhìn em như viên đạn
Em chưa bắn vào đêm sâu
Tôi hay lòng em như đá
Nhìn bao cảnh này đã lâu

Khổ đau em ôm đã trọn
Bụi không thổi tới chân cầu
Tôi nhìn lòng vui như lửa
Viết vội không thèm chấm câu


__________________
* Nguyễn Trãi


Mùa đông năm nay ở đây quá dài. Trong trung tâm thành phố, đối diện với bảo tàng Biển mới xây và bia tưởng niệm Titanic là một công viên toàn cây mộc lan. Những cây mộc lan thân cao, to, năm ngoái giờ này đã nở rộ những bông hoa màu hồng sen và trắng mọc thẳng như những đốm lửa. Năm nay trời lạnh, mới chỉ vừa ra nụ, màu vẫn còn nhạt.

Trường đại học nằm trên một ngọn đồi. Đứng trong lab nhìn ra trông thấy cả một thung lũng màu cây xanh xen lẫn màu mái ngói. Năm ngoái, một lần tôi từ siêu thị về không thèm đi xe bus mà cuốc bộ lên đồi, bất chợt trông thấy một cây mộc lan trồng trong sân nhà ai đang trổ hoa. Lúc đó tôi chưa biết tên cây, chỉ biết đứng nhìn trầm trồ.

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

Iliad (2)

Iliad (1): Athena bay ra can Achilles cãi nhau với Agamemnon (quyển 1)
Iliad (3): Hector dòm thấy thằng em quá hèn nhát nên đã chửi ra sao (quyển 3)
Những người khổng lồ: về phim Troy, tôi có dịch 1 đoạn (rất ngắn) Iliad quyển chót


[Các tranh minh họa  trong bài được vẽ bởi Flaxman, trong sách The Iliad of Homer, Houghton, Mifflin & Co., Riverside Press. 1905 (nguồn: http://www.mccunecollection.org/Iliad%20of%20Homer.html)]


Quyển 1 của Iliad tôi đã dịch đoạn Athena tới can Achilles lúc cãi nhau với Agamemnon, xin xem lại bằng cách ấn vô link ở trên. Sau khi Achilles được khuyên là nhịn Agamemnon đi, chàng bèn đi về thuyền. Một lúc sau thì sứ giả của Agamemnon tới hốt Bryseis đi, Achilles tôn trọng sứ giả (vì đó là người đưa tin theo luật của thần linh) và cho đem Bryseis đi. Sau đó Achilles ra biển ngồi khóc với mẹ (thần biển Thetis), đòi mẹ phải lên gặp Zeus bảo là phải trừng phạt quân Hy Lạp cho Agamemnon một trận biết tay. Thetis lên làm nũng với Zeus, nhưng Zeus sợ vợ là Hera vì bà này ủng hộ quân Hy Lạp (Hera vẫn căm Paris thành Troy vụ trái táo vàng*, coi ở dưới nhe), nên Zeus không biết phải làm thế nào.

tui khoái mặt Achilles trong tấm hình này

Qua quyển 2, Zeus nghĩ ra cách, bèn phái một thần giấc mơ tới báo mộng cho Agamemnon rằng quân Hy Lạp sẽ thắng thôi, đừng lo, cứ tiến vào Troy đi. Đây là âm mưu của Zeus, vì quân Hy Lạp nếu thiếu Achilles thế nào cũng bị te tua, đúng ý Thetis. Nhưng nếu Achilles chịu trở lại thì Hy Lạp sẽ thắng, đúng ý Hera. Sáng hôm sau, Agamemnon thức dậy, kể lại giấc mơ cho các vương tướng nghe, rồi đồng ý với nhau rằng đó là một điềm mộng tốt.

Agamemnon sau đó không biết nghĩ sao lại đi ra tuyên bố thử lòng binh sỹ, bảo là thần linh báo mộng nói rằng không có cửa thắng Troy tường cao rào kín đâu. Chúng ta đi xa ròng rã chín năm tới đây mệt nhọc, thuyền gỗ cũng đã mục, vợ con ở nhà cũng đã nhớ, thôi thì về thôi. Ai dè binh sỹ ra thuyền ào ào về thật. May nhờ Athena xuống bảo Odysseus ra thuyết phục mọi người, binh sỹ mới tập hợp đầy đủ lại.

Sau đó Agamemnon ra nói với binh sỹ:

Hỡi binh sỹ ba quân, hãy cùng đánh chén và chuẩn bị ra chiến trường. Mài sắc giáo thương, chỉnh tề khiên giáp, lo cho chiến mã no cỏ, xem lại chiến xa kỹ càng, rồi ra trận đầy quyết tâm. Sẽ không ai có thì giờ ngơi nghỉ, cho tận tới khi đêm về. Dây khiên của các người phải thấm đẫm mồ hôi tuôn từ lồng ngực, bàn tay các người phải rã rời cùng giáo thương, ngựa xe các người phải nóng rẫy đến như nung chảy. Và như có kẻ nào lẩn quẩn nơi những con tàu xa rời chiến cuộc, nếu lọt vào mắt ta, thì không gì có thể cứu vãn kẻ đó được nữa, hắn sẽ phải làm mồi cho loài khuyển điểu.

(Iliad - quyển 2 - dịch từ 2 bản dịch tiếng Anh của George Chapman (1598) và E.V. Rieu (1950, revised 2003).
_______________________

Đoạn này (và cả đoạn dưới nữa) tôi không tài nào dịch ra thơ như đoạn trong quyển 1 mà không làm mất cái hay của từ ngữ được. Cuối cùng tôi quyết định dịch ra văn xuôi, nhưng mà đọc kỹ thì sẽ thấy vẫn còn sót lại vần vèo trong văn xuôi. Dịch đoạn này, tự nhiên tôi nghĩ tới hai thứ, thứ nhất là cái hịch của Trần Hưng Đạo, thứ hai là bản dịch Chúa Nhẫn Nhã Nam mới làm. Không biết chuyện tôi cố gắng nhét vài câu biền ngẫu với từ Hán Việt vô đoạn dịch văn học Hy Lạp cổ như vầy có dễ bị ném đá không. Các bạn trên mạng đã từng gào thét rằng Chúa Nhẫn dịch như truyện chưởng Tàu, lỡ mà đọc được, liệu có lại gào thét tôi biến Homer thành truyện chưởng nữa hay không.

Dĩ nhiên là nghĩ nhảm thôi, chắc gì các bạn vào đây đọc được. Hehe.

_____________________



Sau đó tới phần sau của quyển 2 là phần nhà thơ liệt kê (dĩ nhiên bằng thơ, đọc bản tiếng Anh cổ thế kỷ 17 của Chapman lên nghe vô cùng du dương kèm với những cái tên Hy Lạp đảm bảo trẹo mồm) quân lực Hy Lạp. Dĩ nhiên tôi không rảnh đi dịch phần đó làm gì, chỉ có phần mở đầu sau đây, tôi thấy rất hay nên ngồi dịch ra, lại bằng văn xuôi.

Này hỡi các Muse ngự trên Olympus, xin hãy cất lời. Các nàng là giống thần tiên, tri kiến muôn nơi muôn việc, biết vạn sự trên đời. Còn chúng tôi giống người phàm dại, chẳng biết chi ngoài việc giỏng tai nghe các nàng kể lại. Về phần tôi, giá như tôi có đủ mười lưỡi, mười mồm, một giọng đọc không hề biết mệt và lồng ngực đồng thau, bằng không tôi không tài nào kể vanh vách ra hết danh phận và chức tước tráng sỹ trong hàng ngũ Hy Lạp. Trừ khi chính các nàng, những người con gái bất tử của Zeus cưỡi đám mây dữ, đến đây mà gợi nhắc, mà đồng thanh đọc cùng, khi đó tôi sẽ hát về các chiến thuyền Hy Lạp, từ chiếc đầu tiên tới chiếc cuối cùng.

(Iliad - quyển 2 - dịch từ 2 bản dịch tiếng Anh của George Chapman (1598) và E.V. Rieu (1950, revised 2003).

Các bạn nào rảnh và đam mê có thể lên wiki để xem về cái danh sách nên thơ đó: http://en.wikipedia.org/wiki/Catalogue_of_Ships

Ở phần "lồng ngực đồng thau" trong 2 bản dịch có sự khác biệt. Bản dịch tiếng Anh trung cổ của Chapman chép là a breast of brass, còn bản của Rieu dịch là a heart of bronze. Tôi chọn dịch theo Chapman vì nó cùng trường từ vựng với ba cái lưỡi, mồm, giọng,... đã nói. Nhân tiện, brass là đồng thau, hợp kim Cu-Zn, còn bronze là hợp kim Cu-Sn (đồng-thiếc).



*Trái táo vàng (tích này nhiều người cũng biết) là tích xảy ra từ trước cuộc chiến thành Troy. Paris hoàng tử thành Troy (lúc đó đương bị đày đi chăn cừu) được mời (được dụ?) làm giám khảo chấm coi trong Athena, Hera và Aphrodite ai là người đẹp nhất. Hera dụ là chấm cho thần, thần sẽ cho làm vua của vua. Athena bảo chấm cho thần, thần sẽ cho trí tuệ bậc nhất. Còn Aphrodite bảo chấm cho thần, thần sẽ cho mày chiếm được trái tim của cô gái đẹp nhất trần gian. Giai nào chả khoái gái, ở đây Paris còn khoái gái hơn quyền lực và trí tuệ nên chấm cho Aphrodite (bằng cách đưa trái táo vàng) làm người đẹp nhất.
Sau này, Paris cua được Helen vợ vua thành Sparta, rồi đem về Troy. Menelaus vua thành Troy, là em ruột của Agamemnon, vua thành Argos, hùng mạnh nhất xứ Hy Lạp, tức quá bèn đòi anh tập hợp tất cả thành bang đi đánh Troy.



Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

Cái đầu kia nó gắn vô thứ gì?

- Cái máy dấm dớ này gắn vào cái đồ quỷ gì mà bay lên trời được vậy? - bà nội Josephine lầm bầm.
- Dạ thưa bà - ông Wonka nói - cái này không còn là cái thang máy bình thường nữa. Thang máy thường thì chỉ chạy lên chạy xuống ở trong nhà thôi. Nhưng mà giờ thì cái này đang bay lên trời, nó trở thành CÁI THANG MÁY BỰ BẰNG KÍNH.
- Vậy cái gì kéo nó lên? - bà nội Josephine hỏi.
- Cái móc ở trên trời. - ông Woka đáp.
- Thật à? Tôi rất ngạc nhiên đấy! - bà nội Josephine nói.
- Thưa bà - ông Wonka nói - bà mới lên sàn thôi. Nếu bà đi với tụi tôi một lúc nữa, chẳng còn gì sẽ làm bà ngạc nhiên nữa.
- Mấy cái đồ móc trên trời đó - bà nội Josephine nói - Một đầu nó gắn vô cái đồ dấm dớ này, phải vậy hông?
- Đúng rồi - ông Wonka đáp.
- Vậy cái đầu kia nó gắn vô cái thứ gì? - bà nội Josephine nói.
- Càng ngày - ông Wonka liền nói - tôi thấy tai tôi càng điếc. Lát mình về nhớ nhắc tôi gọi điện cho bác sĩ khám tai nha.

(Roald Dahl - Charlie and the Great Glass Elevator - QH dịch)

__________________

Có một đoạn nhỏ này mà tôi với ông Bruce cười nguyên buổi tối. Cái từ skyhooks phát ra đột ngột từ miệng ông Wonka, đọc bằng tiếng Anh, có sức gây cười rất lớn. Rồi đoạn ông Wonka bó tay không biết trả lời câu hỏi kia như thế nào bèn giả điếc nữa. Tôi đọc trong đầu câu "You amaze me" của bà Josephine bằng cái giọng lè nhè của mấy bà già người Anh thân thiện hay gặp lúc đứng chờ xe bus, thấy mới thực tức cười. Mấy bà già người Anh ở trạm xe bus rất hay hỏi han cháu ơi biết chừng nào xe bus tới hông, bữa ni trời đẹp quá ha, hôm qua mưa suốt thiệt là chán, cháu học ở đại học phải hông, ngành gì vậy, con bà hồi đó cũng học ở đó đó, giờ nó làm trên Luân Đôn, cháu ơi dòm giùm bà cái xe nào đang tới vậy, cháu ơi vân va vân vân...

Ông Bruce bảo ổng sẽ học trò giả điếc của ông Wonka. Ổng kể hôm bữa vô nghe hòa nhạc ở trong trường có ông kia ngồi kế bên hỏi ổng là ổng có học nhạc không. Ông Bruce liền bảo có, thế là ông kia bảo là ổng hỏi một câu được hông. Ông Bruce cứ tưởng là ổng hỏi câu gì hoành tráng lắm. Ai dè ông kia hỏi tại sao trên đàn piano, giữa nốt Mi với nốt Fa và giữa nốt Si với nốt Đô lại không có phím màu đen. Ông Bruce bảo tại vì trong âm giai, từ nốt Mi lên nốt Fa và nốt Si lên nốt Đô chỉ có nửa cung thôi. Ông kia lại hỏi nhưng mà tại sao. Ông Bruce: nửa cung thì làm gì có phím đen xen vào được. Ông kia lại vẫn hỏi, nhưng mà tại sao lại vậy. Ông Bruce bảo lúc đó ổng mà có trò giả điếc như Willy Wonka ổng sẽ bảo tai tui càng ngày càng điếc, lát nhớ nhắc tui đi bác sĩ khám tai nha.

Đúng là những cuốn sách như thế này, phải đọc đi đọc lại ở nhiều giai đoạn trong cuộc đời của chính mình. Ông Bruce bảo, mỗi lần đọc lại mấy cuốn như thế này, nó như là một cuốn sách mới vậy, mới nhưng mà vẫn quen thuộc lắm.

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

Chuyện bất ngờ như nước chảy


Nằm ngủ trưa, tôi mơ thấy mình đột ngột phải đi. Tự nhiên tôi gói hết đồ đạc tống vào va li và cùng hai con mèo Espeon và Umbreon chạy ra sân bay. Vài giờ sau tôi đã ở trên một thành phố, một vùng đất lạ. Tôi hoàn toàn không biết mình ở đâu. Tôi không có khái niệm tôi đã đáp xuống ở đâu cả. Tôi chỉ biết rằng, mình vừa đi từ Olivine đến đây, đâu đó trong vùng Unova.

Chúng tôi nhìn quanh, tự hỏi mình đang ở đâu vậy. Umbreon thoáng chốc đã vụt vào bóng tối. Espeon thì ngồi yên nhìn. Olivine không phải nhà mình, đột nhiên giờ đây tôi thấy nhớ về Olivine như là nhớ về nhà vậy. Có vài người lạ đứng ở xa. Tôi nghe họ nói ngôn ngữ của mình, bèn đến hỏi han. 

Tôi nói tôi cần đến thành phố X. Họ bảo, hãy bắt một chiếc taxi mà ra phi trường.

Nhưng tôi vừa từ sân bay ra mà. Lẽ nào trở lại?

Tôi đi lang thang. Trong một ngôi nhà bên đường, người ta đang bày biện một bữa tiệc. Có một người đàn ông có khuôn mặt quen đang ngồi nói cười với mọi người. Tôi tới gần và hỏi cách tới thành phố X. Anh bảo hãy đi ra sân ga, hoặc đón một chuyến xe, sẽ nhanh hơn đi máy bay nhiều. Tôi chợt nhớ, ôi thôi, tôi bỏ lại cả đống thứ ở Olivine mất rồi. Tủ sách của tôi, nồi niêu xoong chảo của tôi. Nhưng rồi tôi chợt an ủi, nhưng tôi sẽ trở lại Olivine trước tháng 6 rồi mới về nhà mà.

Tự nhiên xuất hiện một người họ hàng của tôi trong bữa tiệc. Tôi hồ như không ngạc nhiên chút xíu nào về sự có mặt của anh ở đây. Chẳng hỏi chào vồn vã, chẳng tay bắt mặt mừng, kiểu như đây là chuyện ắt phải xảy ra không sớm thì muộn vậy. Anh dẫn tôi vào nhà và mở máy vi tính để tôi tìm tàu và xe.

Duy Espeon thì vẫn lững thững đi theo, không nói một lời. Nó chỉ quan sát. Còn Umbreon biến đâu mất tăm.

Tôi tỉnh dậy và chợt thấy vô cùng thú vị trong lòng. Có chuyện gì đó mới mẻ và bất ngờ đang xảy đến. Tôi lọt vào một chuyến du hành mới trong chuyến hành trình dài dằng dặc của mình. Bất ngờ thay, tôi chưa chuẩn bị gì cả. Espeon hẳn cũng vẫn bối rối lắm, dù nó biết mọi chuyện. Umbreon thì phớt lờ, nhưng tôi biết, chuyện gì xảy đến mà nó chẳng vui.

Tôi ra khỏi cửa nhà, trời đã nhá nhem, phía Bắc Olivine này vẫn lạnh căm. 

Xa nhìn bên cõi trời mây
Chị ơi em thấy một cây liễu buồn.
- Thanh Tịnh -

Thế là tôi cùng Umbreon đi vui vẻ với nhau vào trong đêm tối.