Trang
Mây và sóng
Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016
Hồn ơi về đi thương cố hương
"Sớm ăn một bát cơm
Chiều tắm một bồn nước
Đóng cổng không tiếp khách
Mở cửa nhìn gai góc"
Nguyễn Du
朝餐一盂飯,
暮浴一盆水。
閉門謝知交,
開窗見荊杞。
Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016
Về phim Brooklyn (thì ít mà về chuyện linh tinh thì nhiều)
Nguyệt trong đáy nước nguyệt trên không
Nguyễn Trãi
Phim Brooklyn là một phim tôi thấy rất thú vị về mặt lịch sử vì chắc chắn nó sẽ lấy được lòng những người từng rời bỏ quê hương để nhập cư vào nước Mỹ, hoặc ít nhất là những người từng chật vật chui qua hải quan để vào cái đất nước này, dù chỉ để đi chơi. Phim của Anh (BBC) làm chung với Ireland và Canada, kể về cô gái trẻ Ellis (tiếng Tỏi nên đọc là Ay-lísh) rời một ngôi làng nhỏ ở Ireland để đến nước Mỹ vào những năm 1950. Thời kì đầu cô bị nhớ nhà nên cảm thấy rất thảm, cho tới khi cô gặp và yêu một anh Tony (không phải Stark, thấy anh này thật ra giống Captain America hơn) gốc Ý. Xong vì chị cô đột ngột qua đời, cô phải trở về Ireland để cho mẹ vui. Trước khi đi, cô và anh Tony lên phường đăng ký kết hôn. Cô về nhà, xong có nhiều chuyện xảy ra, xin mời coi phim để biết.
Hình trong phim, dĩ nhiên.
Vì sao có tên Brooklyn? Vì người Ireland nhập cư vào nước Mỹ từ phía Đông sẽ tới New York và tập trung ở Brooklyn. Tương tự, nếu phim này thay người Ireland bằng người Việt Nam thì sẽ có tên là Quận Cam Orange County gì đó. Dĩ nhiên dân Ireland không phải là một sắc dân thiểu số ở Mỹ, gần 1/10 dân số nước này có máu Ireland trong người, nhiều tổng thống là dân gốc Ireland. Nhà Bush là Irish chính cống, chưa kể Obama cũng có máu Irish bên họ ngoại.
Lúc tôi đi từ London qua Mỹ có quá cảnh ở Dublin. Nhẽ đâu dân Ireland đi qua lại Mỹ như đi chợ mà Mỹ cho đặt nguyên cái preclearance ở Dublin để rà sẵn trước visa và giấy tờ. Tới khi tôi xuống San Fran thì chỉ cần đi lấy giỏ và xách đít đi ra khỏi sân bay còn dễ hơn đi về Tân Sơn Nhất.
Tôi xem phim này chủ yếu là vì xem trailer thấy Saoirse Ronan mặc áo đầm và để tóc 1950s (tôi là con người lạc hậu, cảm ơn, không cần phải phê bình), khác hoàn toàn với hồi bạn còn nhỏ đóng phim Hanna cách đây 5 năm. Ngoài ra, tôi không mong đợi gì hơn. Thế nhưng diễn xuất + cốt truyện khiến cho việc xem phim này trở thành một trải nghiệm hấp dẫn và tôi rất đồng cảm vì tất cả những gì diễn ra trong phim gần y hệt những gì tôi trải qua gần nửa năm nay.
Tôi từng có một hình ảnh về Ireland trong đầu những năm tôi 16 tuổi, với những bài wiki tôi đọc, những bản nhạc tôi nghe. Sau 5 năm sống ở hòn đảo kế bên, và có những người bạn Ireland đi ra đi vào cuộc sống của mình, từng đặt chân lên mảnh đất đó, dù chỉ trong sân bay, thấy tiếng Tỏi ghi ở khắp nơi đè lên trên tiếng Anh
Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016
Đường Baker
Hai năm nay tôi đi London khá nhiều lần, vì đủ thứ lý do, và hầu như lần nào tôi cũng ra đường Baker. Tự nhiên tôi thích ra cái đường đó thôi, từ trước khi tôi thành fan Sherlock. Đường Baker khá dài, nhưng tôi chả bao giờ đi từ phía đầu đường từ hướng đại sứ quán Mẽo ở công viên Grosvenor (thật ra nó gọi là quảng trường) lên cả. Tôi chỉ đi tàu điện tuyến Bakerloo, xong chui lên ngay chỗ ga Baker. Đó là đoạn cuối đường, chỗ ngã tư có cái ngân hàng Lloyds, cắt cái đường có cái tên mà ngay cả dân Anh ở London cũng không biết đọc tên như thế nào là Marylebone, chỗ có tuyến xe bít X gì không nhớ chạy lên Oxford chỗ Cao Huân, và cũng là chỗ số nhà bắt đầu đánh từ 190 trở đi cho chí hai trăm mấy đi qua nhà 221B huyền (cmn) thoại.
Lần đầu tới đó là buổi trưa lúc đi thi GRE về từ chỗ Harrow nào đó ở gần Wembley, đói nhăn răng nhưng vẫn cố đi chơi trước khi ra xe lửa về nhà. Nhờ vậy tôi phát hiện khu xung quanh nhà Sherlock toàn là tiệm đồ ăn Nhật Bản. Có một tiệm sushi khá nổi (và mắc, nên chưa vô bao giờ) tên là Nambu-tei ở trong cái xó chung với tiệm thuốc bắc châm cứu giác hơi của người Tàu. Lại còn một tiệm cơm Nhật tên là Soho Japan trông rất đàng hoàng sạch sẽ, tôi đã ăn hai lần, một lần ăn tuna xốt miso, một lần ăn với Hoàng Như, nhớ là gọi hai món nhưng chỉ nhớ một là cá hồi. Chả nhớ có lần nào ăn lươn không nhưng cứ nhớ mang máng là có. Tiệm này có menu omakase (chef-selection, miễn nói nhiều) cho buổi trưa. Cho một chén cơm đầy, một chén canh miso, một đĩa rau sống hay dưa gì đó tùy bữa và món chính. Giá bán thì đúng kiểu trung tâm London, không mắc hơn, không rẻ hơn. Phục vụ là mấy chị người Nhật rất lịch sự. Viết ra mấy cái này không nhằm mục đích giới thiệu cho tiệm theo kiểu mỗi tuần một quán trên Soi vì tiệm này đã dẹp rồi, mới tuần rồi đi qua không thấy nữa, google thì ghi đã đóng cửa luôn, vì vậy ghi lại ở đây cho nhớ thôi.
Nhà 221B cách tiệm Soho Japan chừng trăm mét, là cái bảo tàng, lúc nào cũng có một hàng khách du lịch, kế bên tiệm The Beatles và đối diện cái tiệm nail (rõ ràng là) của người Việt tên là Vy's nails. Dĩ nhiên làm quái gì có cái nhà nào số 221B. Nguyên dãy từ 219-229 hồi đó bị ngân hàng Abbey chiếm cứ, kiêm luôn việc nhận thư fan gửi về số 221B. Có một cái nhà làm bảo tàng Sherlock Holmes nằm giữa số 237 và 241 (nếu biết làm toán sẽ suy ra nhà này số 239), nhưng tự gắn biển 221B Baker Str. Về sau, khi Abbey đóng cửa (hiện giờ chỗ này là cái nhà công sở gì đó, chả nhớ là gì), thì quận Westminster cho cái nhà số 239 kia số 221B luôn.
Đường Baker xe cộ nhộn nhịp rầm rầm, hẳn BBC không thể nào quay Sherlock trên cái đường này, nên bèn vác đồ nghề đi chừng hơn cây số về phía trường UCL trên đường Gower, xong ngược lên phía trên đầu đường gọi là đường North Gower rất heo hút xe bít đi vào không lọt, chọn cái nhà kế bên tiệm Speedy's cafe để quay phim. Sau khi chiếu xong thì đột nhiên cái tiệm Speedy's trở nên nổi tiếng, và mấy đứa sinh viên UCL trọ trong cái nhà kế bên đột ngột trở thành celeb khi khách nườm nượp tới chụp hình. Thật ra, BBC chỉ quay cái cửa bên ngoài ở chỗ này thôi, chứ khung cảnh bên trong là quay ở phim trường chỗ khác.
Hết. Bài này không nhằm mục đích gì cả ngoài việc chỉ là viết lại để sau này khỏi quên.
Lần đầu tới đó là buổi trưa lúc đi thi GRE về từ chỗ Harrow nào đó ở gần Wembley, đói nhăn răng nhưng vẫn cố đi chơi trước khi ra xe lửa về nhà. Nhờ vậy tôi phát hiện khu xung quanh nhà Sherlock toàn là tiệm đồ ăn Nhật Bản. Có một tiệm sushi khá nổi (và mắc, nên chưa vô bao giờ) tên là Nambu-tei ở trong cái xó chung với tiệm thuốc bắc châm cứu giác hơi của người Tàu. Lại còn một tiệm cơm Nhật tên là Soho Japan trông rất đàng hoàng sạch sẽ, tôi đã ăn hai lần, một lần ăn tuna xốt miso, một lần ăn với Hoàng Như, nhớ là gọi hai món nhưng chỉ nhớ một là cá hồi. Chả nhớ có lần nào ăn lươn không nhưng cứ nhớ mang máng là có. Tiệm này có menu omakase (chef-selection, miễn nói nhiều) cho buổi trưa. Cho một chén cơm đầy, một chén canh miso, một đĩa rau sống hay dưa gì đó tùy bữa và món chính. Giá bán thì đúng kiểu trung tâm London, không mắc hơn, không rẻ hơn. Phục vụ là mấy chị người Nhật rất lịch sự. Viết ra mấy cái này không nhằm mục đích giới thiệu cho tiệm theo kiểu mỗi tuần một quán trên Soi vì tiệm này đã dẹp rồi, mới tuần rồi đi qua không thấy nữa, google thì ghi đã đóng cửa luôn, vì vậy ghi lại ở đây cho nhớ thôi.
Nhà 221B cách tiệm Soho Japan chừng trăm mét, là cái bảo tàng, lúc nào cũng có một hàng khách du lịch, kế bên tiệm The Beatles và đối diện cái tiệm nail (rõ ràng là) của người Việt tên là Vy's nails. Dĩ nhiên làm quái gì có cái nhà nào số 221B. Nguyên dãy từ 219-229 hồi đó bị ngân hàng Abbey chiếm cứ, kiêm luôn việc nhận thư fan gửi về số 221B. Có một cái nhà làm bảo tàng Sherlock Holmes nằm giữa số 237 và 241 (nếu biết làm toán sẽ suy ra nhà này số 239), nhưng tự gắn biển 221B Baker Str. Về sau, khi Abbey đóng cửa (hiện giờ chỗ này là cái nhà công sở gì đó, chả nhớ là gì), thì quận Westminster cho cái nhà số 239 kia số 221B luôn.
Đường Baker xe cộ nhộn nhịp rầm rầm, hẳn BBC không thể nào quay Sherlock trên cái đường này, nên bèn vác đồ nghề đi chừng hơn cây số về phía trường UCL trên đường Gower, xong ngược lên phía trên đầu đường gọi là đường North Gower rất heo hút xe bít đi vào không lọt, chọn cái nhà kế bên tiệm Speedy's cafe để quay phim. Sau khi chiếu xong thì đột nhiên cái tiệm Speedy's trở nên nổi tiếng, và mấy đứa sinh viên UCL trọ trong cái nhà kế bên đột ngột trở thành celeb khi khách nườm nượp tới chụp hình. Thật ra, BBC chỉ quay cái cửa bên ngoài ở chỗ này thôi, chứ khung cảnh bên trong là quay ở phim trường chỗ khác.
Hết. Bài này không nhằm mục đích gì cả ngoài việc chỉ là viết lại để sau này khỏi quên.
Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016
"A Study in Scarlet" nên được dịch thế nào?
Tựa "A Study in Scarlet" của cuốn Sherlock Holmes đầu tiên nên được dịch như thế nào?
Có một bản dịch tiếng Việt đổi luôn tựa đề này thành "Chiếc nhẫn tình cờ", có lẽ do người dịch lúng túng về tựa đề, hoặc cảm thấy nếu dịch tựa đề thì người đọc không hiểu.
Học tiếng Anh qua mức trung cấp, chúng ta sẽ biết rằng "study" không chỉ có nghĩa là "học". Nó có nghĩa sâu hơn "learn", và mang nghĩa là suy ngẫm, nghĩ ngợi về một vấn đề nào đó.
[Mở link trước khi đọc tiếp: link]
Bài viết ở link trích từ cuốn "East Wind Coming: A Sherlockian Study Book" của Yuichi Hirayama và John Hall, bàn về Sherlock Holmes ở Nhật, nơi có fanbase hùng hậu và lâu đời bậc nhất Á Đông (đơn giản do văn học Anh Victoria có ảnh hưởng rất sớm tới Nhật). Trong bài viết, tác giả cho biết cái tít đã được dịch trong bản tiếng Nhật năm 1931 là "Hiiro no kenkyuu", với hiiro là màu đỏ (hi = lửa, iro = màu), kenkyuu là Hán-Nhật cho "nghiên cứu". Tít này chuyển ra tiếng Việt có thể thành "Nghiên cứu (nghiền ngẫm) về màu đỏ" - cái tít khá vô nghĩa trong tiếng Việt.
Nếu mà tinh ý hơn, sẽ để ý thấy chữ "study" còn vài nghĩa khác. Trong âm nhạc, nó là các bản étude, tức là khúc luyện tập cho người chơi nhạc. Trong hội họa, nó là bản vẽ nháp trước khi họa sĩ cho lên tranh lớn. Theo bài, một vài người dịch tiếng Nhật cũng dùng nghĩa "tranh nháp" để dịch "A Study in Scarlet" thành "Hiiro no shuusaku", với "shuusaku" là "tập tác" = bản nháp. Mặc cho nhiều người tán thành, cộng với một tên nào đó trên wikipedia tiếng Anh cổ xúy cho việc hiểu "study" theo nghĩa "tranh nháp", mình vẫn thấy vụ "Bản nháp màu đỏ" hoàn toàn vô nghĩa nếu xét về nội dung của truyện: chả có bản nháp nào ở đây, cũng chả có màu đỏ gì luôn.
Có lẽ nên trở lại với nghĩa "nghiền ngẫm" của chữ study. Cái tựa thật ra bắt nguồn từ câu nói của Sherlock: "Có môt sợi chỉ đỏ giết người len lỏi trong cuốn len vô sắc của cuộc đời, và nhiệm vụ của chúng ta là gỡ mối nó, cô lập nó và vạch trần từng phân từng khúc cái sợi chỉ đỏ này" (QH dịch). Trong link cũng dẫn ra phân tích của Owen Edwards trong The Oxford Sherlock Holmes, chỉ ra rằng ở ngay đầu truyện, lúc bác sỹ John Watson được giới thiệu đến gặp Sherlock, người bạn giới thiệu đã nhận xét rằng "đây là một con người khác thường. Anh sẽ phải "study" anh ta thật kỹ". Theo mình, study nên được hiểu theo nghĩa "nghiền ngẫm/tìm tòi" như ở đây, John quan sát, tìm hiểu về con người Sherlock; Sherlock quan sát, lần mối cái sợi chỉ đỏ ẩn dụ.
Trên mạng, một số người cũng đề xuất chữ "vụ án màu đỏ" để dịch tựa này sang tiếng Việt. Trong các bản tiếng Nhật cũng có dịch theo kiểu study thành jiken = "sự kiện" (Hán-Nhật jiken và Hán-Việt "sự kiện" có sắc thái hơi khác nhau, jiken mang nghĩa scandal hơn cái sắc thái trung tính của "sự kiện").
Bài viết trong link cuối cùng đưa ra kết luận rằng cái tựa tiếng Nhật "hiiro no kenkyuu" (nghiên cứu màu đỏ) vẫn là cái tựa hợp nhất (trong tiếng Nhật). Mình không nhận xét về việc người Nhật thích cái tựa này hay có hiểu cái tựa này không, nhưng nếu tiếng Việt dịch theo kiểu này thì lại rõ ràng vô nghĩa. Có lẽ cái tựa tiếng Việt thích hợp nhất mà mình nghĩ ra được phải nên là "Truy tìm sợi chỉ đỏ", một cái tựa rất siêu hình, nhưng (có thể) theo đúng ý của Doyle khi đề cho cuốn Sherlock Holmes đầu tay.
Pê ét: để tham khảo, bản dịch tiếng Tàu tra trên wiki thấy ghi là "Huyết tự đích nghiên cứu" = "Nghiên cứu những con chữ máu". Hẳn cái tựa này nói về các chữ Rache viết bằng máu trong vụ này. Nhưng cái tựa này dịch sai bét, vì các chữ này không đóng vai trò gì lớn ngoài việc gây hoang mang cho Scotland Yard và Sherlock cũng không bỏ nhiều thời gian coi các chữ này. Suy ra nó không đủ ảnh hưởng để được đưa lên tít.
Có một bản dịch tiếng Việt đổi luôn tựa đề này thành "Chiếc nhẫn tình cờ", có lẽ do người dịch lúng túng về tựa đề, hoặc cảm thấy nếu dịch tựa đề thì người đọc không hiểu.
Học tiếng Anh qua mức trung cấp, chúng ta sẽ biết rằng "study" không chỉ có nghĩa là "học". Nó có nghĩa sâu hơn "learn", và mang nghĩa là suy ngẫm, nghĩ ngợi về một vấn đề nào đó.
[Mở link trước khi đọc tiếp: link]
Bài viết ở link trích từ cuốn "East Wind Coming: A Sherlockian Study Book" của Yuichi Hirayama và John Hall, bàn về Sherlock Holmes ở Nhật, nơi có fanbase hùng hậu và lâu đời bậc nhất Á Đông (đơn giản do văn học Anh Victoria có ảnh hưởng rất sớm tới Nhật). Trong bài viết, tác giả cho biết cái tít đã được dịch trong bản tiếng Nhật năm 1931 là "Hiiro no kenkyuu", với hiiro là màu đỏ (hi = lửa, iro = màu), kenkyuu là Hán-Nhật cho "nghiên cứu". Tít này chuyển ra tiếng Việt có thể thành "Nghiên cứu (nghiền ngẫm) về màu đỏ" - cái tít khá vô nghĩa trong tiếng Việt.
Nếu mà tinh ý hơn, sẽ để ý thấy chữ "study" còn vài nghĩa khác. Trong âm nhạc, nó là các bản étude, tức là khúc luyện tập cho người chơi nhạc. Trong hội họa, nó là bản vẽ nháp trước khi họa sĩ cho lên tranh lớn. Theo bài, một vài người dịch tiếng Nhật cũng dùng nghĩa "tranh nháp" để dịch "A Study in Scarlet" thành "Hiiro no shuusaku", với "shuusaku" là "tập tác" = bản nháp. Mặc cho nhiều người tán thành, cộng với một tên nào đó trên wikipedia tiếng Anh cổ xúy cho việc hiểu "study" theo nghĩa "tranh nháp", mình vẫn thấy vụ "Bản nháp màu đỏ" hoàn toàn vô nghĩa nếu xét về nội dung của truyện: chả có bản nháp nào ở đây, cũng chả có màu đỏ gì luôn.
Có lẽ nên trở lại với nghĩa "nghiền ngẫm" của chữ study. Cái tựa thật ra bắt nguồn từ câu nói của Sherlock: "Có môt sợi chỉ đỏ giết người len lỏi trong cuốn len vô sắc của cuộc đời, và nhiệm vụ của chúng ta là gỡ mối nó, cô lập nó và vạch trần từng phân từng khúc cái sợi chỉ đỏ này" (QH dịch). Trong link cũng dẫn ra phân tích của Owen Edwards trong The Oxford Sherlock Holmes, chỉ ra rằng ở ngay đầu truyện, lúc bác sỹ John Watson được giới thiệu đến gặp Sherlock, người bạn giới thiệu đã nhận xét rằng "đây là một con người khác thường. Anh sẽ phải "study" anh ta thật kỹ". Theo mình, study nên được hiểu theo nghĩa "nghiền ngẫm/tìm tòi" như ở đây, John quan sát, tìm hiểu về con người Sherlock; Sherlock quan sát, lần mối cái sợi chỉ đỏ ẩn dụ.
Trên mạng, một số người cũng đề xuất chữ "vụ án màu đỏ" để dịch tựa này sang tiếng Việt. Trong các bản tiếng Nhật cũng có dịch theo kiểu study thành jiken = "sự kiện" (Hán-Nhật jiken và Hán-Việt "sự kiện" có sắc thái hơi khác nhau, jiken mang nghĩa scandal hơn cái sắc thái trung tính của "sự kiện").
Bài viết trong link cuối cùng đưa ra kết luận rằng cái tựa tiếng Nhật "hiiro no kenkyuu" (nghiên cứu màu đỏ) vẫn là cái tựa hợp nhất (trong tiếng Nhật). Mình không nhận xét về việc người Nhật thích cái tựa này hay có hiểu cái tựa này không, nhưng nếu tiếng Việt dịch theo kiểu này thì lại rõ ràng vô nghĩa. Có lẽ cái tựa tiếng Việt thích hợp nhất mà mình nghĩ ra được phải nên là "Truy tìm sợi chỉ đỏ", một cái tựa rất siêu hình, nhưng (có thể) theo đúng ý của Doyle khi đề cho cuốn Sherlock Holmes đầu tay.
Pê ét: để tham khảo, bản dịch tiếng Tàu tra trên wiki thấy ghi là "Huyết tự đích nghiên cứu" = "Nghiên cứu những con chữ máu". Hẳn cái tựa này nói về các chữ Rache viết bằng máu trong vụ này. Nhưng cái tựa này dịch sai bét, vì các chữ này không đóng vai trò gì lớn ngoài việc gây hoang mang cho Scotland Yard và Sherlock cũng không bỏ nhiều thời gian coi các chữ này. Suy ra nó không đủ ảnh hưởng để được đưa lên tít.
Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016
Về bản chất của nắng ngày
冬 の 日 や 馬上 に 氷る 影 法師
Fuyu no hi ya bajō ni kōru kage bōshi
Nắng mùa đông
Thầy tu trên lưng ngựa
Cái bóng đóng thành băng
-Bashō (Ghi chép trong tráp)
Ở đây fuyu no hi (đông nhật – ngày đông, mặt trời mùa đông) là quý ngữ. Ở đây dịch là "nắng mùa đông". Cái ánh nắng nhẹ mùa đông hiếm hoi ló ra càng làm rõ thêm nỗi lạnh mà người ngồi trên ngựa đang trải qua. Kage là ảnh, tức cái bóng. Bōshi là từ Hán Nhật "pháp sư", tức ông thầy chùa, ở đây chỉ Bashō.
Fuyu no hi ya bajō ni kōru kage bōshi
Nắng mùa đông
Thầy tu trên lưng ngựa
Cái bóng đóng thành băng
-Bashō (Ghi chép trong tráp)
Ở đây fuyu no hi (đông nhật – ngày đông, mặt trời mùa đông) là quý ngữ. Ở đây dịch là "nắng mùa đông". Cái ánh nắng nhẹ mùa đông hiếm hoi ló ra càng làm rõ thêm nỗi lạnh mà người ngồi trên ngựa đang trải qua. Kage là ảnh, tức cái bóng. Bōshi là từ Hán Nhật "pháp sư", tức ông thầy chùa, ở đây chỉ Bashō.
Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015
Bay lên nào, em bay lên nào
Bảo tàng Khoa học Luân Đôn nằm trên đường Đấu Xảo (Exhibition Road) ở phía Nam quận Kensington, Luân Đôn. Sở dĩ gọi là đường Đấu Xảo vì Đại Triển lãm Công nghiệp Quốc tế (tức Đấu Xảo Luân Đôn 1851) tổ chức trên cái đường này. Khu này có rất nhiều bảo tàng, nổi tiếng và hoành tráng hơn cả là Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, nhưng hôm nay chúng ta sẽ không bàn về cái này, mà chúng ta sẽ nói về Bảo tàng Khoa học, vì nó đang tổ chức một triển lãm rất thú vị tên là "Phi hành gia Xô Viết và sự ra đời của kỷ nguyên không gian".
Ghi chú: Chúng ta cùng chú ý tới từ tiếng Anh chỉ phi hành gia dùng ở đây. Đó là từ cosmonaut. Trong tiếng Anh, chúng ta có hai từ dùng để chỉ phi hành gia, đó là astronaut và cosmonaut. Đây đều là các thuật ngữ có các gốc từ tiếng Hy Lạp, cosmo- là vũ trụ, astro- là sao trên trời, -naut là thủy thủ tức là người lái thuyền (phi hành gia lái phi thuyền mà), ghép lại đều chỉ người đi chu du trên không gian. Tuy nhiên, theo thông lệ, người ta dùng astronaut để chỉ phi hành gia của Mỹ, hay của phe tư bản, còn cosmonaut để chỉ phi hành gia của Liên Xô, hay khối XHCN (bạn nào chơi Red Alert nếu để ý sẽ thấy). Vì từ phi hành gia tiếng Liên Xô là kosmonavt, Anh hóa sẽ thành cosmonaut. Chính xác hơn thì phải nói là ai bay lên bằng tàu của Mỹ thì gọi là astronaut, còn bay bằng tàu của Liên Xô thì gọi là cosmonaut, bất kể phe nào. Ví dụ như phi hành gia người Anh Helen Sharman bay lên Mir bằng tàu của Liên Xô, nên ở Anh người ta gọi bà này là cosmonaut (vụ này xem chương 5), còn sau này các phi hành gia người Anh khác bay lên bằng tàu của NASA đều được gọi là astronaut. Phạm Tuân với Yuri Gagarin sẽ là cosmonaut, còn Neil Amstrong với Matt Damon đều là astronaut.
Triển lãm này rất thú vị, có rất nhiều hiện vật (có cả các khoang chứa phi hành đoàn) được mang từ Nga về để triển lãm. Cách bài trí và dẫn chuyện rất hay, cộng với phim tư liệu và âm nhạc rất Liên Xô lồng vào rất thích. Triển lãm chia làm nhiều gian, nhưng nhìn theo chủ đề có thể phân thành 6 phần, ở dưới sẽ nói theo từng phần. Thông tin trong bài khoảng hơn 60% là từ triển lãm, còn lại là ở ngoài (tức là của người viết thêm vào). Dĩ nhiên là còn nhiều cái ở triển lãm mà chưa nói hết ra đây. Triển lãm sẽ kéo dài cho tới tháng 3, 2016, giá vé là £10.80 cho sinh viên (nhớ đem thẻ). Các bạn ở UK rất nên đi xem.
1. Tiến vào không gian
Giấc mơ vũ trụ của người Nga bắt đầu trỗi dậy từ khoảng sau Cách mạng Tháng Mười 1917, và kéo dài cho tới sau Thế chiến II. Sau khi lật đổ chế độ cũ và bắt đầu xây dựng xã hội mới. Trên cái nền triết lý kiến tạo thế giới mới đó của người Nga có cả việc tiến lên không gian để xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên đó. Tuy nhiên, giấc mơ này chủ yếu chỉ dừng lại ở các bản phác thảo, các tính toán bắn tên lửa, phi thuyền. Trong đó, nổi bật là các nghiên cứu và kế hoạch, cả về mặt khoa học lẫn triết học, đưa ra bởi Tsiolkovsky, người được coi là cha đẻ của khoa học tên lửa Xô Viết lẫn thế giới. Triển lãm có cả một bản phác thảo về mô hình công xã lao động trên vũ trụ được vẽ trên giấy.
Phải tới sau Thế chiến II thì những giấc mơ này mới được đưa vào hiện thực. Kết thúc chiến tranh, Liên Xô có một thuận lợi lớn là kỹ thuật và sức mạnh về tên lửa của pháo binh rất cao. Kỹ thuật tên lửa của Mỹ lúc đó còn thua, do chủ yếu là phát triển tàu đánh nhau với Nhật, nhưng về sau nhờ đem hết bộ sậu nghiên cứu tên lửa của Đức về mà từ từ Mỹ thắng thế.
Tổng kỹ sư trưởng của Liên Xô là nhà khoa học Sergei Korolev, vốn là một trong số những người ít ỏi sống sót trở về từ gulag trong cuộc Đại thanh trừng sau Cách mạng, do bị kết tội chống phá chính quyền cách mạng. Thông tin Korolev là tổng kỹ sư trưởng chương trình không gian của Liên Xô là thông tin tối mật, chỉ được tiết lộ ra sau khi ông chết năm 1966, do Liên Xô sợ điệp viên phương Tây ám sát ông. Cũng trong giai đoạn hậu chiến này, Khrushchev lên làm Tổng bí thư thay Stalin sau khi Stalin chết năm 1953. Thời ký Khrushchev lãnh đạo, văn hóa và khoa học dễ thở hơn, đã dẫn tới các bước tiến lớn của Liên Xô trong lĩnh vực không gian. Rồi điều gì tới cũng tới, năm 1957, Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sputnik I, lên không gian, làm toàn bộ thế giới phương Tây bàng hoàng. TIME của Mỹ cho Khrushchev làm "nhân vật của năm" năm 1957 luôn. Sputnik I bay lên làm công việc đo các thông số vật lý về nhiệt độ và áp suất của khí quyển ở tầng cao và gửi tín hiệu bằng ăng-ten về cho mặt đất. Có thể click link dưới để nghe tiếng beep beep huyền thoại của Sputnik I
https://en.wikipedia.org/wiki/File:Sputnik_beep.ogg
2. Những "người" tiên phong
Ghi chú: Chúng ta cùng chú ý tới từ tiếng Anh chỉ phi hành gia dùng ở đây. Đó là từ cosmonaut. Trong tiếng Anh, chúng ta có hai từ dùng để chỉ phi hành gia, đó là astronaut và cosmonaut. Đây đều là các thuật ngữ có các gốc từ tiếng Hy Lạp, cosmo- là vũ trụ, astro- là sao trên trời, -naut là thủy thủ tức là người lái thuyền (phi hành gia lái phi thuyền mà), ghép lại đều chỉ người đi chu du trên không gian. Tuy nhiên, theo thông lệ, người ta dùng astronaut để chỉ phi hành gia của Mỹ, hay của phe tư bản, còn cosmonaut để chỉ phi hành gia của Liên Xô, hay khối XHCN (bạn nào chơi Red Alert nếu để ý sẽ thấy). Vì từ phi hành gia tiếng Liên Xô là kosmonavt, Anh hóa sẽ thành cosmonaut. Chính xác hơn thì phải nói là ai bay lên bằng tàu của Mỹ thì gọi là astronaut, còn bay bằng tàu của Liên Xô thì gọi là cosmonaut, bất kể phe nào. Ví dụ như phi hành gia người Anh Helen Sharman bay lên Mir bằng tàu của Liên Xô, nên ở Anh người ta gọi bà này là cosmonaut (vụ này xem chương 5), còn sau này các phi hành gia người Anh khác bay lên bằng tàu của NASA đều được gọi là astronaut. Phạm Tuân với Yuri Gagarin sẽ là cosmonaut, còn Neil Amstrong với Matt Damon đều là astronaut.
Triển lãm này rất thú vị, có rất nhiều hiện vật (có cả các khoang chứa phi hành đoàn) được mang từ Nga về để triển lãm. Cách bài trí và dẫn chuyện rất hay, cộng với phim tư liệu và âm nhạc rất Liên Xô lồng vào rất thích. Triển lãm chia làm nhiều gian, nhưng nhìn theo chủ đề có thể phân thành 6 phần, ở dưới sẽ nói theo từng phần. Thông tin trong bài khoảng hơn 60% là từ triển lãm, còn lại là ở ngoài (tức là của người viết thêm vào). Dĩ nhiên là còn nhiều cái ở triển lãm mà chưa nói hết ra đây. Triển lãm sẽ kéo dài cho tới tháng 3, 2016, giá vé là £10.80 cho sinh viên (nhớ đem thẻ). Các bạn ở UK rất nên đi xem.
1. Tiến vào không gian
"Beep...beep...beep"
(Tiếng phát ra từ Sputnik I)
Phải tới sau Thế chiến II thì những giấc mơ này mới được đưa vào hiện thực. Kết thúc chiến tranh, Liên Xô có một thuận lợi lớn là kỹ thuật và sức mạnh về tên lửa của pháo binh rất cao. Kỹ thuật tên lửa của Mỹ lúc đó còn thua, do chủ yếu là phát triển tàu đánh nhau với Nhật, nhưng về sau nhờ đem hết bộ sậu nghiên cứu tên lửa của Đức về mà từ từ Mỹ thắng thế.
Tổng kỹ sư trưởng của Liên Xô là nhà khoa học Sergei Korolev, vốn là một trong số những người ít ỏi sống sót trở về từ gulag trong cuộc Đại thanh trừng sau Cách mạng, do bị kết tội chống phá chính quyền cách mạng. Thông tin Korolev là tổng kỹ sư trưởng chương trình không gian của Liên Xô là thông tin tối mật, chỉ được tiết lộ ra sau khi ông chết năm 1966, do Liên Xô sợ điệp viên phương Tây ám sát ông. Cũng trong giai đoạn hậu chiến này, Khrushchev lên làm Tổng bí thư thay Stalin sau khi Stalin chết năm 1953. Thời ký Khrushchev lãnh đạo, văn hóa và khoa học dễ thở hơn, đã dẫn tới các bước tiến lớn của Liên Xô trong lĩnh vực không gian. Rồi điều gì tới cũng tới, năm 1957, Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sputnik I, lên không gian, làm toàn bộ thế giới phương Tây bàng hoàng. TIME của Mỹ cho Khrushchev làm "nhân vật của năm" năm 1957 luôn. Sputnik I bay lên làm công việc đo các thông số vật lý về nhiệt độ và áp suất của khí quyển ở tầng cao và gửi tín hiệu bằng ăng-ten về cho mặt đất. Có thể click link dưới để nghe tiếng beep beep huyền thoại của Sputnik I
https://en.wikipedia.org/wiki/File:Sputnik_beep.ogg
2. Những "người" tiên phong
"Con đường tới những vì sao đã mở."
(Sergei Korolev - Tổng kỹ sư trưởng chương trình không gian Liên Xô)
(Sergei Korolev - Tổng kỹ sư trưởng chương trình không gian Liên Xô)
Sau thắng lợi Sputnik I, Liên Xô tiếp tục phóng hàng loạt tàu/vệ tinh không người lái lên không gian, và lên cả Mặt trăng. Liên Xô thắng Mỹ trong việc đáp mềm lên Mặt trăng (tức không va chạm làm bể tàu) với Luna 9 năm 1966.
Cùng lúc đó, nhằm thử nghiệm xem du hành vũ trụ có ảnh hưởng thế nào tới sinh vật, Liên Xô ào ạt phóng đủ thứ lên trời, bao gồm từ cây cỏ, nấm, vi trùng, côn trùng, chuột, thỏ và cuối cùng là chó. Trong khi bên Mỹ khoái chọn khỉ, thì Liên Xô chọn chó thay mặt cho toàn bộ lớp Thú, vì nó dễ huấn luyện và nghe lời. Bạn Laika tử nạn trong Sputnik II nhưng hai bạn sau là Belka và Strelka sống sót trở về. Tin này được báo chí khắp thế giới đưa ầm ĩ, ai ai cũng vui mừng (ít nhất là công chúng và giới khoa học). Belka và Strelka trở thành biểu tượng. Một bạn cún con do Strelka đẻ ra được gửi tặng cho con gái tổng thống Kennedy. Cuộc chạy đua vào không gian bắt đầu mở ra ở hai bờ Thái Bình Dương.
3. Con người tiến vào không gian
"Chinh phục không gian!"
(Tranh tuyên truyền của L. Golovanov)
(Tranh tuyên truyền của L. Golovanov)
Năm 1961, Liên Xô lại một lần nữa làm thế giới phát sốt khi đưa người lên không gian. Yuri Gagarin sau gần 2 tiếng đồng hồ bay trên quỹ đạo bỗng chốc nổi tiếng thế giới. Quy trình tuyển chọn và huấn luyện phi hành gia của Liên Xô đã chọn ra 20 người cuối cùng từ hơn một ngàn người ban đầu. Yuri được chọn làm người đầu tiên bay lên không gian không chỉ vì kỹ năng mà còn do lý lịch gia đình tầng lớp vô sản, lại có nụ cười đẹp ăn ảnh. Trái với quan niệm sai lầm rằng phi hành gia là phải cao to, Yuri thật ra chỉ cao có 1m57. Vì phi hành gia thời kỳ đầu phải nhỏ con thì mới nằm gọn được trong khoang phóng (lùn nhưng dĩ nhiên phải khỏe). Triển lãm có treo cái áo hàm đại tá của Yuri từng mặc, đúng là vóc người nhỏ so với kích cỡ người da trắng.
Trong 4 năm từ 1961 tới 1965, Liên Xô làm luôn cú ăn bốn: đưa người (đàn ông) đầu tiên lên vũ trụ, đưa người phụ nữ đầu tiên lên vũ trụ, đưa phi hành đoàn (3 người) đầu tiên lên vũ trụ, và lần đầu tiên thực hiện bước đi trong không gian.
Triển lãm có trưng bày hiện vật (thật) là cái khoang phóng Vostok 6 từng chứa Valentina Tereshkova (phi hành gia nữ đầu tiên) và Voskhod 1 từng chứa phi hành đoàn 3 người đầu tiên lên vũ trụ. Tận mắt nhìn vào bên trong sẽ hình dung được nó chật như thế nào.
Trong giai đoạn này, Liên Xô liên tiếp thắng Mỹ trong cuộc đua không gian, một phần cũng nhờ thể chế chính trị. Chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô cho phép họ có thể đổ một đống tiền vào tên lửa với phi thuyền, trong khi chính quyền kiểu Mỹ thì không thể làm như vậy được, một phần có lẽ vì chính phủ Mỹ phải đổ tiền vào điều khiển thị trường tự do cùng với các hoạt động khác. Kết quả là, tuy Liên Xô liên tục ghi bàn, nhưng đời sống nhân dân Xô Viết cũng chẳng khấm khá gì, thế nhưng tinh thần xây dựng chủ nghĩa xã hội lại rất cao.
4. Chương trình bí mật
"Chúng ta chọn đi lên Mặt trăng, không phải vì đây là một việc dễ làm,
mà bởi vì nó khó, [...] và vì chúng ta nhất định sẽ thắng (cuộc đua này)."
(Tổng thống J. F. Kennedy)
Sau khi Kennedy đưa ra "Kế hoạch 10 năm" nói trong vòng 1 thập kỷ sẽ đưa được người lên Trăng, cuộc đua không gian tới hồi gay cấn. Liên Xô gấp rút chỉn chu dòng phi thuyền mới Soyuz điều khiển dễ hơn, nhưng vì gấp quá đã khiến hai phi hành gia thiệt mạng.
Rồi ai cũng biết là tới 1969 thì cuối cùng Mỹ cũng thắng được Liên Xô một ván, nhưng là ván quan trọng: đưa được Neil Armstrong đáp lên Mặt trăng. Liên Xô ngoài mặt thì một mực tuyên bố không chạy đua đưa người lên Mặt trăng với Mỹ, thậm chí là từ chối hoàn toàn lời đề nghị họp tác Mỹ-Liên Xô của Kennedy để đưa người lên Trăng. Liên Xô chỉ thỉnh thoảng bắn vài cái Luna không người lên quỹ đạo mặt trăng, đáp xuống bề mặt, quay phim chụp ảnh và lấy mẫu đất về. Tuy nhiên, bên trong lại bí mật phát triển Chương trình Zond, để đối chọi với Chương trình Apollo của Mỹ. Chương trình đưa người lên Mặt trăng của Liên Xô được giữ bí mật tuyệt đối, chỉ lộ ra sau năm 1989, khi chính quyền Liên Xô công bố.
Để đưa người lên Trăng, Liên Xô cần phát triển dòng tên lửa đẩy mới. Tuy nhiên, nhiều thất bại xảy ra, cộng với việc tổng kỹ sư trưởng Korolev qua đời năm 1966, khiến Liên Xô chơi không lại bộ sâu von Braun (trùm rocket của Nazi, sau thành của Mỹ).
Sau rồi Liên Xô dẹp luôn chương trình đưa người lên Mặt trăng, coi như chịu thất bại trước Mỹ.
5. Tiền đồn trên không gian
"Dấu chân của chúng ta sẽ mãi còn trên các dặm đường
bụi bặm nơi những hành tinh xa xôi"
(Tranh tuyên truyền của U. Ivanov)
Đây là căn phòng áp chót của triển lãm. Cuộc đua không gian hạ nhiệt sau khi Apollo hoàn thành sứ mệnh, cũng là lúc cả Mỹ và Liên Xô phát hiện mình đã hết tiền. Tuy nhiên, thời kỳ sau đó lại mở lại sự hợp tác giữa hai bên trong lĩnh vực du hành không gian, một phần cũng nhờ Hiệp ước Ngoại tầng Không gian của Liên Hiệp Quốc năm 1967.
Liên Xô xây trạm không gian Salyut năm 1971, sau thêm trạm Mir 1986. Sau tới thời Gorbachev thì quan hệ giữa Anh và Liên Xô giảm căng thẳng. Gorbachev và Thatcher bắt tay xây dựng chương trình không gian, thậm chí bỏ thêm tiền túi, để cuối cùng đưa phi hành gia đầu tiên người Anh (là nữ luôn) là bà Sharman năm đó 27 tuổi, trước đó là nhà hóa học ở công ty sô cô la Mars (hay thế!), bay lên Mir. Đã nói ở trước, do bà Sharman bay lên Mir bằng tàu của Liên Xô, nên ở Anh, bà hay được gọi là cosmonaut.
Cứ mỗi một phi hành gia ở trên trời thì sẽ có hơn trăm người làm việc ở mặt đất. Căn phòng áp chót này có ảnh, tư liệu và hiện vật về công việc dưới đất và trên trời của các trạm không gian Liên Xô. Có nguyên bộ sưu tập quần áo của phi hành gia, tùy điều kiện sinh hoạt, lại còn có cả toilet (dùng chân không để hút chất thái, chứ không nó bay lung tung), phòng tắm cá nhân (kéo phéc mơ tuya lên rồi đổ nước vào), tủ lạnh (hàng tháng có tàu không người lái phóng lên mang theo thực phẩm tươi)...
Năm 1991, Liên Xô tan rã khiến cho phi hành gia Sergei Krikalev bị kẹt trên trạm Mir thêm gần 5 tháng mới được về nhà dưới danh nghĩa công dân Liên bang Nga.
6. Vũ trụ này là của chúng mình
"Địa cầu là cái nôi của nhân loại,
nhưng nhân loại không thể suốt đời ở mãi trong nôi."
(Tsiolkovsky)
Căn phòng cuối cùng của triển lãm chỉ có một mô hình người, mặt được làm theo mặt Gagarin, được dùng để phóng lên quỹ đạo mặt trăng, nhằm đo đạc lượng bức xạ mà từng phần trong cơ thể phải chịu. Ngoài ra không còn gì. Chỉ có tường được chiếu ánh sáng màu xanh dương phớt trắng và trần chiếu một hình chữ nhật màu đỏ. Tên tường có trích dẫn câu ở trên của Tsiolkovsky, người đặt nền móng cho giấc mơ không gian của Liên Xô. Rất mang tính biểu tượng.
Kết
Gác chuyện tranh cãi về chính trị, quân sự và kinh tế sang một bên, thì những gì Liên Xô đạt được hoàn toàn là những điều đáng trân trọng. Giấc mơ không gian của loài người đã trở thành hiện thực. Chúng ta đã từng khao khát được bay lên trời cao, nhưng mặt trời đã thiêu đốt giấc mơ của Ikarus, Rồi máy bay đã được tạo ra, nhưng vậy vẫn chưa đủ, chúng ta vẫn muốn đi xa hơn. Giai đoạn cuối 50, và thập niên 60 là những năm tháng mà tâm trí toàn nhân loại dường như ở trên mây, khi lần đầu tiên chúng ta thoát ra được đất mẹ, rồi lần đầu tiên chúng ta chạm được vào những thiên thể trên trời cao.
Tặng mọi người tấm hình cuối cùng:
(Chủ nghĩa xã hội là bệ phóng)
tabs:
khoa học tự nhiên,
không gian,
lịch sử,
Liên Xô,
Mỹ
Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015
Marco Polo season 1
Mình đăng ký Netflix xài free một tháng để coi Marco Polo. Phim này làm từ 2014, mới season 1, có 10 tập, do Netflix độc quyền. Kể ra Netflix cũng không có nhiều phim lắm để coi, nhưng nếu đăng ký để coi phim truyền hình dài tập kiểu Marco Polo, Breaking Bad, Better Call Saul này nọ thì cũng rẻ, mà chất lượng hình ảnh tốt.
Marco Polo là một phim rất hoành tráng vì quay đẹp, cảnh đẹp, nhà cửa đẹp, quần áo đẹp. Dàn diễn viên đóng rất có thần thái, Đại Hãn ra Đại Hãn, hoàng hậu ra hoàng hậu, công chúa ra công chúa. Có điều một vài vai nữ thì không đẹp lộng lẫy lắm. Do phim này Mỹ và Ý làm nên phải kiếm nữ chánh châu Á nói tiếng Anh tốt, chắc vậy mà khó kiếm diễn viên nữ đẹp kiểu phim cổ trang Tàu làm, kiểu Phạm Băng Băng đóng Võ Tắc Thiên này nọ.
Phim bối cảnh là cái thời mà văn hóa và sắc tộc hòa trộn một cách giống như siêu thực. Đó là cái lúc mà Bắc Kinh có tên gọi là Khanbaliq hay ghi theo kiểu Marco Polo ghi trong cuốn sách của ổng là Cambulac. Biên chữ Hán kiểu sách Tàu là Hãn Bát Lý, hay gọi kiểu Mông Cổ nhà Nguyên là Đại đô. Cambulac là Đại đô bởi vì nó là kinh đô của nhà Nguyên, tức là Hãn quốc bự nhất và quyền lực nhất của đế chế Mông Cổ. Thời Kublai (Hốt Tất Liệt) thì Mông Cổ đã bị chia rẽ ra thành 4 Hãn quốc, trong đó hai Hãn quốc mạnh nhất là Nguyên Mông và Kim Trướng (tức Lều Vàng - đóng đô ở Mông Cổ). Theo trong phim thì cung điện, nhà cửa ở Cambulac có đủ loại kiến trúc, giống kiểu trong cái hình ở dưới, mái vòm củ tỏi nằm lọt giữa một khung cảnh rất Tàu. Dân cư thì đủ loại từ Mông Cổ tới Ả-rập, Ba Tư bán buôn cưới hỏi với dân Chi Na bản địa, thêm anh Latin Marco Polo đi lại loanh quanh, ngẫm khác nào London với New York bây giờ.
Chỗ còn Tàu duy nhất của nước Tàu đó là khu miền Nam, gần sông Dương Tử. Nhà Tống thoi thóp gần chết thủ lại trong thành Tương Dương tường cao ngói vững. Coi phim Kim Dung nhiều thì sẽ biết Quách Tĩnh, Hoàng Dung kháng Mông về thủ ở thành Tương Dương giữ cho nhà Tống khỏi sụp hơn chục năm, đẻ con ra đặt tên theo tên thành là Quách Tương về sau lập phái Nga Mi. Phim Marco Polo dĩ nhiên không phải Truyện Anh hùng bắn chim hay Chim Thần Đại Hiệp nên không có mấy vụ này. Trong thành Tương Dương có ông vua Tống Lý Tông, sau là ấu đế Tống Độ Tông cùng với tể tướng Giả Tự Đạo gian thần nhưng là trùm Đường Lang Quyền (võ bọ ngựa).
Phim này dùng tiếng Anh giọng Anh (phần nhiều) và giọng Úc xuyên suốt phim, coi như tiếng Anh đại diện cho cái lingua franca thời đó. Đôi khi nhân vật nói tiếng Tàu, Ý, Ả-rập nữa nhưng không nhiều. Marco Polo lần đầu vào gặp Hãn Kublai thì chém được mấy câu tiếng Mông Cổ rồi thôi, làm mình nghĩ nếu mà phim này có thêm tí tiền đầu tư cho nói tiếng Latin, Mông Cổ, Ba Tư này kia thì nâng giá trị hơn rất nhiều. Nhưng rồi nghĩ lại đây cũng không hẳn là phim tài liệu, với lại phim chỉ bám theo lịch sử chứ không đi theo y xì nên bỏ tiền vô làm ngôn ngữ cũng không đáng lắm.
Không bám chắc theo lịch sử nhưng mà phim cho thấy là biên kịch có kiến thức rất tốt. Các bạn coi sẽ thấy rất đã.
Nhưng nếu mà nói Marco Polo là phim xuất sắc thì mình sẽ nói hem. Một vài chỗ trong kịch bản còn khá yếu. So về kịch bản thì phim này đọ không nổi hai series đỉnh cao coi gần đây là Breaking Bad với Sherlock. Nhưng mà coi nó vẫn hay và thích. Giải trí vậy là ngon rồi.
Marco Polo là một phim rất hoành tráng vì quay đẹp, cảnh đẹp, nhà cửa đẹp, quần áo đẹp. Dàn diễn viên đóng rất có thần thái, Đại Hãn ra Đại Hãn, hoàng hậu ra hoàng hậu, công chúa ra công chúa. Có điều một vài vai nữ thì không đẹp lộng lẫy lắm. Do phim này Mỹ và Ý làm nên phải kiếm nữ chánh châu Á nói tiếng Anh tốt, chắc vậy mà khó kiếm diễn viên nữ đẹp kiểu phim cổ trang Tàu làm, kiểu Phạm Băng Băng đóng Võ Tắc Thiên này nọ.
Phim bối cảnh là cái thời mà văn hóa và sắc tộc hòa trộn một cách giống như siêu thực. Đó là cái lúc mà Bắc Kinh có tên gọi là Khanbaliq hay ghi theo kiểu Marco Polo ghi trong cuốn sách của ổng là Cambulac. Biên chữ Hán kiểu sách Tàu là Hãn Bát Lý, hay gọi kiểu Mông Cổ nhà Nguyên là Đại đô. Cambulac là Đại đô bởi vì nó là kinh đô của nhà Nguyên, tức là Hãn quốc bự nhất và quyền lực nhất của đế chế Mông Cổ. Thời Kublai (Hốt Tất Liệt) thì Mông Cổ đã bị chia rẽ ra thành 4 Hãn quốc, trong đó hai Hãn quốc mạnh nhất là Nguyên Mông và Kim Trướng (tức Lều Vàng - đóng đô ở Mông Cổ). Theo trong phim thì cung điện, nhà cửa ở Cambulac có đủ loại kiến trúc, giống kiểu trong cái hình ở dưới, mái vòm củ tỏi nằm lọt giữa một khung cảnh rất Tàu. Dân cư thì đủ loại từ Mông Cổ tới Ả-rập, Ba Tư bán buôn cưới hỏi với dân Chi Na bản địa, thêm anh Latin Marco Polo đi lại loanh quanh, ngẫm khác nào London với New York bây giờ.
Chỗ còn Tàu duy nhất của nước Tàu đó là khu miền Nam, gần sông Dương Tử. Nhà Tống thoi thóp gần chết thủ lại trong thành Tương Dương tường cao ngói vững. Coi phim Kim Dung nhiều thì sẽ biết Quách Tĩnh, Hoàng Dung kháng Mông về thủ ở thành Tương Dương giữ cho nhà Tống khỏi sụp hơn chục năm, đẻ con ra đặt tên theo tên thành là Quách Tương về sau lập phái Nga Mi. Phim Marco Polo dĩ nhiên không phải Truyện Anh hùng bắn chim hay Chim Thần Đại Hiệp nên không có mấy vụ này. Trong thành Tương Dương có ông vua Tống Lý Tông, sau là ấu đế Tống Độ Tông cùng với tể tướng Giả Tự Đạo gian thần nhưng là trùm Đường Lang Quyền (võ bọ ngựa).
Phim này dùng tiếng Anh giọng Anh (phần nhiều) và giọng Úc xuyên suốt phim, coi như tiếng Anh đại diện cho cái lingua franca thời đó. Đôi khi nhân vật nói tiếng Tàu, Ý, Ả-rập nữa nhưng không nhiều. Marco Polo lần đầu vào gặp Hãn Kublai thì chém được mấy câu tiếng Mông Cổ rồi thôi, làm mình nghĩ nếu mà phim này có thêm tí tiền đầu tư cho nói tiếng Latin, Mông Cổ, Ba Tư này kia thì nâng giá trị hơn rất nhiều. Nhưng rồi nghĩ lại đây cũng không hẳn là phim tài liệu, với lại phim chỉ bám theo lịch sử chứ không đi theo y xì nên bỏ tiền vô làm ngôn ngữ cũng không đáng lắm.
Không bám chắc theo lịch sử nhưng mà phim cho thấy là biên kịch có kiến thức rất tốt. Các bạn coi sẽ thấy rất đã.
Nhưng nếu mà nói Marco Polo là phim xuất sắc thì mình sẽ nói hem. Một vài chỗ trong kịch bản còn khá yếu. So về kịch bản thì phim này đọ không nổi hai series đỉnh cao coi gần đây là Breaking Bad với Sherlock. Nhưng mà coi nó vẫn hay và thích. Giải trí vậy là ngon rồi.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)











