Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Nghèo cũng phải cho Tèo đi học

Tranh: Họa sĩ Bút Chì - Đỗ Hữu Chí.


Đừng lấy luận điệu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ra để chửi 1 tác phẩm trí tuệ của người khác nếu như mình còn không biết tiếng Việt nó trong sáng ở chỗ nào.

______________________

Báo Người Lao Động là cái báo mạnh mồm nhất trong việc chê cuốn "Sát thủ đầu mưng mủ" của họa sĩ Thành Phong với 2 bài báo toàn chê. Báo Tuổi trẻ với 3 bài báo, một bài vừa nửa khen nửa chê, vừa mở đường cho dư luận, một bài phân tích (có xu hướng khen) của 2 nhà ngôn ngữ học, một bài nói về việc cuốn sách bị thu hồi. Báo Thanh niên tôi không thấy bài nào. Ngoài ra còn rất nhiều các trang thông tin nhỏ lẻ khác cũng đưa tin.

Tôi chưa thấy một chuyên gia có bằng cấp (nghĩa là có học vấn và có tư cách để phát ngôn) chê cuốn sách này trên các phương tiện thông tin đại chúng. Với cái mạng internet rộng khắp, giờ đây bất cứ một tên cha căng chú kiết nào có máy vi tính nối mạng đều có thể lên facebook, lên các diễn đàn online mà phán như thánh. Rồi các tờ báo kiểu như NLĐ tha hồ mà lượm lặt những cái chê vớ vẩn đó để viết thành 1 bài báo. Trong 1 bài viết ngắn ngủn, chủ yếu là trích tranh vẽ cũng như trích lời của cuốn sách và lời của các "chuyên gia" trên mạng về cuốn sách, "nhà báo" Hàn Đông đã có thể kéo 1 cái tít rất kêu "Sát thủ đầu mưng mủ": Sách đại tào lao. Tôi hoàn toàn không hiểu bạn "nhà báo" này có suy nghĩ tí nào về cái tít của mình không, một khi chưa phân tích kĩ càng cũng như chưa tìm hiểu rõ nguồn cơn (ít nhất nếu bạn "nhà báo" ấy có tìm hiểu rồi cũng nên ghi ra trên mặt báo chứ) mà đã gắn cho cuốn sách ấy ba chữ đại tào lao nặng nề. Viết báo vài chữ, trích tranh và lời người khác từa lưa, đến tôi cũng có thể viết báo gửi cho NLĐ.

Tới bài báo thứ hai, NLĐ cũng chả khác. Cái bạn Y.Anh nào đó, phóng viên báo Người Lao Động, cũng trích dẫn lời của ông Vũ Hoàng Giang, phó Giám đốc Nhã Nam trả lời phỏng vấn trên trang của VTC. Bạn phóng viên này cũng chỉ trích dẫn vài câu của ông Giang, rồi bắt bẻ những câu đấy, bảo rằng ông đổ dầu vào lửa với lại xuyên tạc tục ngữ VN, rồi được dịp tiếp tục tha hồ đấm vào mặt cuốn sách bằng những từ kiểu như "nhảm nhí", "méo mó", "mất đi sự trong sáng của tiếng Việt", "đi ngược lại với truyền thống đạo lý" này nọ. Tôi cảm thấy thật là chán báo NLĐ.

Tôi sẽ không nói về chuyện giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ở đây. Chuyện đó có vẻ như tôi chả hiểu gì cả nhưng ai nói nghe cũng đúng quá. Tôi chả hiểu gì cả vì tiếng Việt mượn hàng đống từ vựng của tiếng Hán, rồi tiếng Pháp, rồi sau này là tiếng Anh, chưa kể nhiều tiếng khác. Rồi chính vì mượn hàng đống từ tiếng Hán như thế mà hàng đống người Việt đã, đang và sẽ dùng sai rất nhiều từ không phải là của mình, nhiều từ dùng sai đã thành từ dùng đúng. Hàng đống từ (may mà) còn được dùng đúng (nghĩa là nghĩa của từ đó không khác biệt lắm so với từ gốc trong ngôn ngữ gốc), vẫn đang bị hàng đống người dùng sai (mà không biết). Nói chuyện đó vào đây sẽ là 1 kiểu ngụy biện "cá trích đỏ" (red herring - nói lảng sang 1 chuyện chả hề liên quan để lái chủ đề tranh luận đi).

Báo chí giờ đây đã là một thế lực trong việc dẫn đường dư luận. Có những vấn đề về lối nghĩ, lối ứng xử, đạo đức, ... của cả 1 thế hệ sẽ được báo chí dẫn đường. Báo chí vì thế cũng cần có những người chỉ lối, là những chuyên gia và nhà khoa học, những học giả có kinh nghiệm, có thẩm quyền lên tiếng về các vấn đề lớn, kết hợp với tiếng nói của dư luận để định hướng cho cả một thế hệ những người trẻ đọc báo. Báo chí cần những người biết làm báo cũng như có ý thức đàng hoàng về việc làm của mình.

Tôi chỉ muốn nói ngôn ngữ là thứ luôn vận động, không cho nó vận động thì nó sẽ chết. Các ngôn ngữ chết (Latin, Sankrit (là tiếng Phạn ấy)) là những ngôn ngữ chỉ có thể dùng để các dân tộc khác nhau truyền bá thông tin với nhau, bởi lẽ từ vựng và ngữ pháp của những ngôn ngữ đó đóng kín rồi, không thêm vào, không bớt ra nữa.

Một ngôn ngữ sống là một ngôn ngữ khỏe mạnh và dồi dào sinh lực trong việc tiếp thu những cái mới. Một dân tộc muốn phát triển mạnh mẽ về học thuật là một dân tộc có một thứ ngôn ngữ sống lành mạnh, nghĩa là một ngôn ngữ sinh sản dồi dào nhưng đủ đề kháng để lọc bỏ những u nhọt, cũng như đủ tự tin để vượt qua sự bảo thủ để mà tiếp thu. Tiếng Nhật là một ngôn ngữ như thế, 200 năm trước người Nhật đã mang từ vựng khoa học từ các ngôn ngữ Tây phương mà phiên âm thẳng vào ngôn ngữ của họ, khác với chúng ta phiên âm từ tiếng Hán, rồi hãy nhìn xem họ đã trở thành 1 cường quốc như thế nào.

Tôi thật sự chán vì quyết định thu hồi này. Tác phẩm của Thành Phong - một họa sĩ trẻ, từng nhận được giải thưởng quốc tế, được biết đến với nhiều tranh biếm họa xuất sắc - khó có thể coi là một tác phẩm nghệ thuật hay văn học hay gì gì đấy mà những người nào đấy cho rằng phải như thế mới xứng đáng in thành sách, nhưng chắc hẳn không phải là 1 quyển sách rẻ tiền. Khi mà những quyển truyện ma vẫn có chỗ đứng trong các nhà sách nhỏ, khi mà những truyện cười dân gian đọc chả có gì mắc cười vẫn được Tuổi trẻ Cười đăng hàng tháng, khi mà truyện Trạng Quỳnh chơi xỏ Chúa Trịnh, sứ Tàu với nhiều câu lắm khi tục tĩu được in đi in lại hàng trăm ngàn lần (vốn là những mẩu chuyện nhỏ thể hiện cái bản tính trân quý những trò láu cá, khôn lỏi của người Việt mình) vẫn được phát hành, thì việc thu hồi quyển sách của Thành Phong thực sự là điều không hề công bằng. Việc liên hệ những câu nói vui đã được chọn lọc của giới trẻ (bằng chứng là không có câu nào quá tục tĩu được đưa vào sách) với những hình ảnh nhiều khi tạo nên những liên tưởng mới lạ, gây ra tiếng cười cho người đọc có thể được gọi bằng từ nào ngoài từ "sáng tạo". Quyển sách đúng là một tác phẩm lao động trí tuệ của Thành Phong. Sáng tạo là 1 vốn quý mà không phải người trẻ nào cũng có được, giờ đây bị vùi dập bởi một đám người mang đạo đức (có thể giả, có thể thật), nhưng chẳng hề ngồi xem xét kỹ càng mọi việc, chẳng buồn dùng đến trí tưởng tượng của mình mà cứ lao đầu vào dùng đạo đức (của mình) để phán xét. Thế có tức không?

___________________


Đầu óc hẹp hòi triệt tiêu trí tưởng tượng. Không khoan nhượng, lý thuyết tách rời khỏi thực tế, ngôn từ sáo rỗng, lý tưởng vay mượn, hệ thống cứng nhắc. Đó chính là những cái làm mình thực sự kinh hãi.

(Kafka bên bờ biển - Haruki Murakami - Dương Tường dịch)
___________________


Ôi, chán như con gián.

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

Trải nghiệm triết học (1)

CÓ CẢ MỘT ĐẠI DƯƠNG ĐÓNG BĂNG BÊN TRONG CHÚNG TA. Triết học là một lưỡi rìu.

Mọi thứ bạn tin đều đáng ngờ. Bạn đã bao giờ đặt câu hỏi một cách thật sâu sắc về mọi thứ chưa? Sự chấp nhận một niềm tin, mà không chút mảy may phê phán gợn lên trong bạn, được truyền cho bạn từ cha mẹ bạn, từ thầy cô giáo bạn, từ các chính trị gia và các lãnh tụ tôn giáo, đó là một điều nguy hiểm. Nhiều niềm tin chỉ đơn giản là một sự ngộ nhận. Một vài trong số đó lại là những lời lừa dối, được tạo dựng nhằm mục đích điều khiển bạn. Ngay cả khi những điều được truyền đạt đó là đúng, chúng cũng không phải là chân lý của bạn. Chấp nhận một điều mà không hề thắc mắc gì, điều đó biến bạn thành một con rối, một con người thứ cấp.

Niềm tin có thể truyền đạt lại. Kiến thức cũng có lẽ có thể truyền đạt lại. Nhưng sự minh triết không bao giờ có thể truyền đạt. Mục tiêu của triết học là đạt lấy sự minh triết. Mọi cố gắng nhằm truyền đạt triết học đều không mang tính triết học*.

Minh triết đòi hỏi phải biết thắc mắc những điều đáng thắc mắc, nghi ngờ những điều đáng ngờ. Vì chưng mọi thứ đều đáng thắc mắc và đáng ngờ, minh triết đòi hỏi phải thắc mắc và nghi ngờ mọi thứ. Đó chính là triết học: nghệ thuật nghi ngờ mọi thứ.

(Phần Một: Bắt đầu vào triết học)

Daniel Kolak và Raymond Martin (2006) Trải nghiệm triết học (The Experience of Philosophy) 6th edition. New York, Oxford: Oxford University Press.

____________________

*: Trying to hand down philosophy is unphilosophical

____________________

Đây là quyển sách đầu tiên tôi mượn về từ thư viện.

Nguyên bản tiếng Anh của lời mở đầu phần một là một đoạn văn ngắn rất gợi hứng. Mục tiêu của đoạn văn hướng tới đó là kêu gọi mọi người hãy biết thắc mắc. Chữ "question" và "questionable", tôi dịch bằng cả 2 từ: đáng ngờ và đáng thắc mắc. Xét về mặt cảm quan cá nhân, tôi thấy nếu chỉ chuyển nghĩa bằng 1 từ tiếng Việt, nó không mang lại đầy đủ ý nghĩa cho mục tiêu của triết học.

Tôi chợt nhớ về "Thế giới của Sophie", quyển sách triết học đầu tiên tôi đọc trong đời, năm tôi 13 tuổi. Nhà triết học Alberto luôn nói với Sophie rằng, trẻ con là những triết gia bẩm sinh, vì chúng luôn thắc mắc, các triết gia thực thụ là những người vẫn còn giữ được niềm hân hoan thơ trẻ và tươi mới đó vì họ luôn nhìn thế giới quanh mình bằng một con mắt lạ lẫm và luôn đặt câu hỏi. Hầu hết, khi người ta lớn lên, chúng ta đều tự ngộ nhận rằng mình biết đủ rồi và tự cho mình cái quyền tỏ ra quen thuộc với thế giới này. Hệt như một chú học trò giỏi toán tỏ vẻ khinh người trước một thầy giáo già đã học toán, làm toán và dạy toán hơn 30 năm; chúng ta cũng y như vậy. Chúng ta sống trên đời vài chục năm thế mà đã tự cho rằng mình biết hết vạn sự ở cái thế giới già cỗi này, thông tuệ hết mọi phức tạp tinh vi của cái xã hội đã hình thành hàng chục ngàn năm nay. Bằng cách đó, chúng ta tự tước đi của mình cái quyền ngạc nhiên về thế giới.

Nhiều nhà nghiên cứu đã viết rằng về bản chất, dân tộc Việt Nam là một dân tộc ít có tư duy triết học. Giáo sư Trần Đình Sử một lần phân tích câu chuyện dân gian Thầy bói xem voi (bấm vào link để xem) đã nhận xét tâm thức dân tộc Việt thiếu một tầm triết lý, nếu so sánh với các dân tộc lớn Trung Hoa, Ấn Độ... Tôi đã từng quan sát trong số các bạn bè mình, tôi cũng thấy nhiều khi có một sự thiếu nghiêm túc khi đề cập đến các khái niệm hình thành nên tư duy về bản chất của mọi thứ trong cuộc sống quanh ta.

Các bạn tôi giờ đây hầu hết đều đang học năm thứ nhất đại học. Ở Việt Nam, các bạn sẽ phải cày bừa để vượt qua được cái môn gọi là chủ nghĩa Mác - Lênin. Có trường gọi đó là học triết học, có trường gọi là học chính trị. Về phần mình, tôi nghĩ đó không phải là một môn triết học. Đừng tưởng ở các nước tư bản phương Tây, Các Mác không được đánh giá cao. Mác được đại học Cambridge bình chọn là nhà tư tưởng đứng đầu của thiên niên kỉ, làm thay đổi bộ mặt của xã hội cũng như nhận thức của nhân loại về lao động. Thư viện trường tôi đang học có cả một tủ các tác phẩm của Mác và Ăng-ghen. Dạy sinh viên về tư tưởng của những người vĩ đại đặt nền móng cho lý tưởng mà đất nước đang theo đuổi là một việc làm không có gì sai trái, thế nhưng làm sao có thể gọi đó là một môn triết học cho được khi mà sinh viên thậm chí còn không có ý muốn tìm hiểu gì về bản chất các mối quan hệ sản xuất là như thế nào.

Tôi nhận thấy ngay từ việc nhảy thẳng vào Mác mà dạy, bắt đầu từ những năm đầu cấp 3 trong môn GDCD mà không cho thấy một quá trình phát triển tư duy của nhân loại đã là một thất bại to lớn của cách dạy triết học (mặc dù là sơ cấp) ở nước ta. Tôi không hề biết sinh viên chuyên ngành triết học sẽ học như thế nào, nhưng một đất nước mạnh phải là một đất nước hiểu mình đang làm gì, và sinh viên, kể cả kỹ sư, bác sĩ, nhà giáo, nhà khoa học, nhà kinh tế, chưa kể nhà lãnh đạo, những cái đầu tương lai của đất nước, cần phải ít nhất có một hiểu biết nhất định về triết học, vì triết học không chỉ là một môn học về nhân loại đã tư duy những gì và như thế nào mà còn là một môn học dạy người ta phải biết tư duy những gì và như thế nào.Việc tước bỏ những Plato, Aristotle, Kant, hay tất cả những người trước Mác và sau Mác khỏi kiến thức của đại đa số học sinh sinh viên chính là một cách làm thui chột bản năng tò mò và thắc mắc, chẳng khác nào việc tước đi tinh thần triết học khỏi những bộ óc tương lai này.

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Freshers' coming

Tôi đứng giặt tất trên tầng hai nhìn xuống từng đoàn xe hơi chạy vào Wessex Lane, thấy từng gia đình người Anh, cha, mẹ, tay xách, nách mang nào chăn gối, nào va li túi xách cho những đứa con vừa trưởng thành, đang bước vào cuộc sống mới của mình, cuộc sống gọi là "college". Rõ ràng ở nơi nào cũng thế, phương Tây hay phương Đông, cũng sẽ tới lúc những đấng sinh thành phải thả tay mình ra, để cho những đứa con lông cánh đã đủ vững có thể bay cao.

Rõ ràng ở nơi nào cũng thế, tôi cũng thấy những cái ôm chặt lúc chia tay. Rõ ràng ở nơi nào cũng thế, tôi cũng cảm nhận được những tình cảm khó nói nên lời, chỉ hiện rõ lên khuôn mặt của các bậc mẹ cha khi rời xa con mình.

Tuy thế, đối với những đứa con phương Tây này, những đứa mới lần đầu xa nhà này, tôi đều thấy chúng có vẻ gì đó khá trưởng thành. Chúng có vẻ tự hào lắm vì được bước vào cuộc sống tự lập.

______________________

Trong mấy ngày sinh viên bản xứ chưa đến, kí túc xá yên ắng và buồn tẻ. Đêm nay, đêm đầu tiên sinh viên đến đông đủ, Wessex Lane bỗng ồn ào lạ thường. Đã 10 giờ đêm rồi mà bọn nó vẫn bật nhạc nhảy múa.

Quán bar đã mở. Nhạc đã xập xình. Tôi không biết đó là của sinh viên cũ hay là những "người lớn nhỏ tuổi" vừa xa cha mẹ bước vào không gian đại học nữa.

______________________

May mà 10 giờ rưỡi nhạc đã tắt rồi.

Ở một kí túc xá đại học, nhất là phương Tây, chuyện đó cũng bình thường thôi. Vui mà. Ở Việt Nam cũng nhạc nhẽo ầm ĩ thế.

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

Một hành trình dài phía trước

Buổi tối trước ngày đi Olivine, Umbreon nói với tôi. Nó nói một cách hăng say và quyết liệt. Tôi chưa từng thấy Umbreon như thế bao giờ.

Nó nói về những điều nó tin tưởng, về những thứ nó cần phải làm, về những điều nó căm ghét.

Bóng tối bao phủ lấy nó như một vầng hào quang. Nó ở trong bóng tối mà còn sáng hơn những kẻ lò dò ngoài ánh mặt trời.

Tôi ở trong bóng tối nhưng tôi không làm trò bá đạo. Umbreon nói như thế.

Tôi sẽ đi trên con đường mà tôi cho là đúng. Sẽ có những thứ cố kéo tôi ra khỏi con đường ấy. Nhưng vì tôi ở trong bóng tối, chúng sẽ khó lòng mà kéo được tôi.

Những con hẻm ngập tràn bóng tối ùa đến, hết đợt này đến đợt khác, như những ân điển dào dạt, những luồng khí ào ạt cuốn đi những hạt bụi lửng lơ. Ánh trăng sẽ lu mờ vì chưng những vệt sáng trên người Umbreon đang rực rỡ trong bóng tối.

Thôi thì chúng ta sẽ đi, Umbreon ạ. Chúng ta sẽ đi cùng nhau.

Bởi vì phía trước sẽ là một hành trình dài.



Sáng hôm sau, Espeon nói: Chúng ta sẽ tới Olivine đầu tiên.

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

Chúng ta không có gì phải ganh tị với thế giới


[...]Mục tiêu của Kim Nhật Thành không đơn giản chỉ nhằm xây dựng một đất nước mới; ông muốn xây dựng nên một dân tộc tốt hơn, định hình lại bản chất nhân dân.Vì mục đích đó, ông dựng nên một học thuyết, juche, chủ thể. Học thuyết juche dựa trên quan điểm của Marx và Lenin về đấu tranh giữa chủ đất và nông dân nghèo, giữa người giàu và người nghèo. Học thuyết đơn giản tuyên bố rằng chính con người, không phải một vị Chúa nào, mới là người quyết định số phận của chính họ. Nhưng Kim Nhật Thành gạt bỏ mọi giáo điều của chủ nghĩa Cộng sản truyền thống về thế giới đại đồng. Ông là một người Triều Tiên dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Ông nói với nhân dân Triều Tiên rằng họ là một dân tộc đặc biệt - gần như là một dân tộc được lựa chọn - và rằng họ không cần phải dựa dẫm vào những người láng giềng hùng mạnh nào nữa, Trung Quốc, Nhật hay Nga. Nam Triều Tiên là một nỗi ô nhục vì họ đang dựa dẫm vào người Mỹ. "Thực hành chủ nghĩa juche, nói ngắn gọn, nghĩa là trở thành chủ thể của cuộc cách mạng và tái thiết đất nước của chính mình. Điều này nghĩa là gắn chặt với một tư thế độc lập, bác bỏ mọi sự phụ thuộc vào các nước khác, sử dụng chính khối óc của mình, tin vào chính sức mạnh của mình, thể hiện một tinh thần tự chủ cách mạng," ông đã trình bày chi tiết như thế trong nhiều luận thuyết của mình. Thật sự những phát ngôn trên đúng là rất có sức quyến rũ đối với một dân tộc đầy kiêu hãnh nhưng bị ngoại bang chà đạp lên phẩm giá của họ đã hàng trăm năm nay.

Ngay khi nắm quyền, Kim Nhật Thành đã dùng những tư tưởng từ thời còn là một người kháng chiến chống Nhật này để đưa lên thành một công cụ điều khiển xã hội. Ông nói với người Bắc Hàn rằng sức mạnh của họ, của loài người được tạo ra khi cộng gộp tất cả ý chí cá nhân thành chí ý của tập thể. Tập thể dù muốn hay không cũng không thể làm theo bất kì điều gì nhân dân muốn thông qua một quy trình dân chủ. Nhân dân phải tuân theo một lãnh tụ tuyệt đối và tối cao vô điều kiện. Lãnh tụ vĩ đại ấy, dĩ nhiên không ai khác ngoài Kim Nhật Thành.

Và như thế vẫn còn chưa đủ, Kim Nhật Thành muốn có cả tình yêu thương. Những bức tranh tường với màu sắc sống động vẽ ông vây quanh bởi các thiếu nhi má hồng nhìn lên ông với lòng kính ngưỡng còn ông thì nhìn xuống các em với nụ cười rộng và trắng tinh. Đồ chơi và xe đạp tràn ngập trong khung cảnh đằng sau các bức họa - Kim Nhật Thành không muốn làm Joseph Stalin; ông muốn làm ông già Noel. Đôi má lúm đồng tiền làm cho hình ảnh của ông hiện lên dễ thương hơn so với các nhà độc tài khác. Ông đã được xem như một người cha, trong một ngữ cảnh đầy tính chất Khổng giáo đòi hỏi sự kính trọng và tình yêu. Ông muốn được người người nhà nhà Triều Tiên yêu mến như máu thịt của họ. Thứ chủ nghĩa Cộng sản Nho giáo này có nhiều nét tương đồng với văn hóa đế quốc của Nhật Bản, nơi mà hoàng đế là mặt trời để cho mọi thứ đều phải cúi đầu, hơn là những điều được Karl Marx hình dung về một xã hội Cộng sản.

Những nhà độc tài đều giống nhau ở một mức độ nào đó. Từ Liên Xô của Stalin tới Trung Quốc của Mao, từ Ceauşescu của Romania tới Saddam Hussein của Iraq, các chế độ này đều có những thứ giống nhau: đều có những bức tượng lù lù ở mọi quảng trường thành phố, đều có các bức chân dung treo ở mọi phòng ban, đều có đồng hồ đeo tay in hình lãnh tụ trên mặt số. Nhưng Kim Nhật Thành đã đưa sự sùng bái cá nhân lên một tầm cao hơn. Điều khiến ông khác biệt so với những nhà độc tài khác nằm ở tài giữ vững sức mạnh của lòng tin. Kim Nhật Thành hiễu rõ quyền lực của tôn giáo. Cậu của ông từng là một giáo sĩ Kháng cách trong những năm trước khi chủ nghĩa Cộng sản lên nắm quyền, khi mà Bình Nhưỡng còn là một cộng đồng đạo Cơ Đốc lớn, từng được mệnh danh là "Jerusalem của phương Đông". Khi lên nắm quyền, Kim Nhật Thành đã đóng cửa nhà thờ, cấm Kinh Thánh, trục xuất các tín đồ về các miền quê và sử dụng các hình ảnh cũng như tín điều Cơ Đốc cho việc quảng bá bản thân.

Các phát thanh viên nói về Kim Nhật Thành hay Kim Chính Nhật không ngừng nghỉ, y như những nhà truyền đạo Ngũ Tuần (1 nhánh của đạo Tin Lành). Báo chí Bắc Triều Tiên viết về những câu chuyện rất mực siêu nhiên. Bão tố ầm ầm trên biển bỗng dưng yên ả khi thủy thủ đang bám víu lấy con tàu chìm hát lên bài ca ca ngợi chủ tịch Kim Nhật Thành. Khi chủ tịch Kim Nhật Thành đi vào vùng phi quân sự bán đảo Triều Tiên, một làn sương kì ảo đã bao quanh lấy ông nhằm bảo vệ ông khỏi những tay súng bắn tỉa đang ẩn nấp của Nam Hàn. Ông có thể làm cây nở hoa và làm tuyết tan chảy. Nếu Kim Nhật Thành là Chúa cha, thì Kim Chính Nhật là Chúa con. Như Chúa Giê-su, sự ra đời của Kim Chính Nhật đã được báo trước bằng những ngôi sao trên trời và có kèm sự xuất hiện của một cầu vồng đôi rực rỡ. Một con chim én đã xà xuống từ trời để hát vang trong ngày sinh nhật của "vị đại tướng sẽ thống lĩnh thế giới".

Chúng ta có thể cười cợt vì những trò tuyên truyền quá lố và sự cả tin của người dân Bắc Triều Tiên, nhưng hãy nghĩ rằng họ được truyền đạo như thế từ khi còn ẵm ngửa, suốt mười bốn tiếng đồng hồ một ngày trong nhà trẻ của các xí nghiệp; nghĩ rằng trong suốt năm mươi năm, mọi bài hát, phim, báo chí, panô quảng cáo đều được thiết kế để thánh hóa Kim Nhật Thành; nghĩ rằng đất nước đó đã bị đóng cửa kín mít khỏi mọi thứ gây nên bất cứ một nỗi nghi hoặc nào về tính thần thánh của chủ tịch Kim. Ai có thể chống lại điều đó?



Năm 1972, kỉ niệm 60 năm ngày thành lập, một cột mốc quan trọng của Triều Tiên, Đảng Lao Động phát hành huy hiệu Kim Nhật Thành. Trước đó rất lâu, toàn bộ nhân dân được yêu cầu phải đeo trên ngực trái, bên trên trái tim. Trong nhà bà Song, cũng như nhà nhiều người khác, một bức chân dung chủ tịch Kim Nhật Thành đóng khung được treo trên bức tường trống trơn. Người dân không được phép treo bất kì thứ gì khác lên bức tường đó, kể cả ảnh của người thân họ hàng. Chủ tịch Kim Nhật Thành là gia đình của bạn - ít nhất cho tới thập niên 80, khi chân dung Kim Chính Nhật, thư kí Đảng Lao Động, được treo cùng với người cha. Sau cùng thì thêm một bức chân dung thứ ba, gồm cả người cha lẫn người con. Báo chí Bắc Triều Tiên thích đăng những truyện kể nhân dân về các công dân anh hùng đã hy sinh thân mình đưa bức chân dung khỏi ngọn lửa hay khỏi dòng nước lũ. Đảng Lao Động phân phát chân dung miễn phí, kèm theo một mảnh vải trắng đặt trong một cái hộp bên dưới. Mảnh vải chỉ được dùng để lau chùi bức chân dung. Điều này đặc biệt quan trọng trong mùa mưa, khi nấm mốc có thể chui xuống bên dưới mặt kính. Khoảng một lần mỗi tháng, thanh tra của Bộ Chuẩn mực Công cộng sẽ ghé vào từng nhà để kiểm tra các bức chân dung.
[...]

(Nothing to envy - Barbara Demick - chương 3: Những người tin tưởng)

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Giản dị như bài ca.


“The Ants Dream!” by Rakesh Rock


Bài 16 - tập Người làm vườn (The Gardener) - Rabindranath Tagore

Tay chặt trong tay và mắt dõi tìm trong mắt: như thế, lần đầu tiên tim ta nhận thấy nhau. Trong một đêm tháng ba ánh trăng rực rỡ, ngọt ngào trong không gian thứ chất thơm của làn da và mái tóc, cây sáo của tôi bỏ quên nằm trên đất và vòng hoa em kết vẫn còn dang dở. 


Tình yêu giữa chúng ta giản dị như bài ca. 


Mắt tôi đắm say trong tấm khăn của em màu vàng nghệ thắm. 
Vòng hoa nhài em kết làm tim tôi rộn rã như một lời ngợi ca. 
Đó là trò chơi cho đi rồi lại giữ lại, hé mở rồi lại đậy che; có cả nụ cười mỉm lẫn nỗi thẹn thùng, và cả cơn tranh giành dớ dẩn vui say. 


Tình yêu giữa chúng ta giản dị như bài ca. 


Không một bí ẩn bên ngoài hiện tại, không một cố gắng đạt điều bất khả, không một bóng tối bao trùm nét quyến rũ, không phải dò dẫm đi trong sâu thẳm đêm đen. 


Tình yêu giữa chúng ta giản dị như bài ca. 


Chúng ta không để du ngôn lạc lối nơi lặng im vĩnh hằng; không với tay tới hư không nơi vô vọng. 
Cho và nhận thế là đã đủ. 
Chúng ta không vắt kiệt niềm hoan lạc thành chất rượu khổ đau. 


Tình yêu giữa chúng ta giản dị như bài ca.

______________
Bài này tui dịch lần đầu là ngày 1/9 năm 2008, là đúng 3 năm trước. Tự nhiên thấy có người search google bài này rồi vào blog tui, làm tui chợt nhớ, xem lại thì đúng đã hơn 3 năm trôi qua từ hồi tui mày mò dịch thơ Tagore.

Bản dịch lần này đã có chỉnh sửa. "Tình yêu của chúng ta" đổi thành "Tình yêu giữa chúng ta", phải có lý do gì đó thì Tagore mới viết "The love between you and me" chứ không viết "The love of yours and mine" hay là "The love of ours", hay đại loại vậy. Cũng có chỉnh sửa thêm một số từ.
______________