Tối qua mình đi tập kiếm. Tập kiếm xong thay vì đi về nhà thì mình lại quay về lab làm tiếp. Tới nửa đêm thì mình về nhà. Lúc đo thấy vừa mệt vừa đói khủng khiếp. Vừa muốn ngủ vừa muốn nói chuyện gì đó với Quỳnh nhưng Quỳnh bận rồi với lại mình mệt nên mình đi ngủ.
Lúc quay trở lại lab tối qua, Kristers vẫn còn ở đó. Nó hỏi mày quay lại làm gì vậy. Kristers ba bữa nay đang vật lộn với styrene ở trong cái glovebox. Hôm qua nó lại còn phải ngồi chưng cất cái chất quỷ gì của nó để lọc ra. Nhìn nó cũng tội mà thôi cũng kệ. Nó nói mày đi tập kiếm được cũng mừng đó, hôm nay tao định đi đạp xe nhưng chưa đi được mà đã 11 giờ tối rồi. Kristers là người Latvia nên nó thích ăn khoai tây. Hầu như ngày nào nó cũng ăn khoai tây. Khoai tây là tình yêu của nó. Chắc nó yêu khoai tây cũng gần bằng yêu bạn gái nó, hoặc hơn. Đó là những cái chuyện tào lao tụi mình hay nói giỡn về Latvia và khoai tây, riết rồi không biết cái nào là thiệt cái nào là giỡn nữa.
Kristers vô sau mình gần 6 tháng. Nó đứng làm ở kế bên mình. Mình thích nó vì nó nói chuyện nhạc cổ điển với chuyện liên xô với các chuyện nhảm nhí khác với mình. Nó là người Baltic đầu tiên mình gặp trong đời. Nó cho mình nghe nhạc Gershwin. Nó giúp mình khám phá lại nhạc Ravel, để mình thấy được nhạc Ravel đỉnh cao như thế nào. Bạn gái nó cũng tốt tính. Có lần mình dẫn tụi nó đi ăn xong ba đứa ngồi uống bia tới tối nói chuyện nhảm nhí gì mình quên hết rồi.
Hồi nô en có một bữa trong lab chỉ có mình với Kristers, lúc đó đang bật nonstop nhạc The Planets của Holst. Mình thích nhất bài Sao Mộc, là cái bài vui nhất. Không biết sao bữa đó đúng ra là lễ mà prof lại vô làm. Xong lát hồi chán quá prof đi lòng vòng vô lab mình. Lúc này thì đang chơi bài Sao Hoả. Prof kêu tụi bây chơi nhạc gì mà dark music dữ vậy. Đúng là bài Sao Hoả là một cái bài rất mang không khí chiến tranh, nhưng không phải chiến tranh kiểu hoành tráng hào hùng mà là chiến tranh kiểu nộ khí âm binh lởn vởn. Từ đó mình với Kristers kêu bài Sao Hoả của Holst là dark music.
Sáng nay mình phải đi lên uỷ ban quận làm cái thẻ cư trú mới. Đi tới uỷ ban thì mình phát hiện mình để quên hộ chiếu ở nhà, vậy là phải lật đật chạy ngược về nhà. Về tới nhà, mở tủ ra thì phát hiện ra thật ra mình đã bỏ hộ chiếu vô ba lô rồi. Đáng lẽ tối qua nên về nhà ngủ sớm.
Trên đường đi về nhà mình thấy ở bờ tường có một con voi nhồi bông màu hồng bị bỏ rơi đã 4 ngày nay. Khi mình đạp xe thì không thấy nó, nhưng khi đi bộ ra bến tàu thì ngày nào cũng thấy. Mỗi ngày con voi đều đổi chỗ. Cứ như có người nào thay đổi vị trí cho nó. Có khi nó ngồi trên bờ tường. Có khi nó treo trên hàng rào. Nhìn nó thấy cứ tội tội.
Trang
Mây và sóng
Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.
Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018
Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018
Nào chốn nào chẳng gió xuân
Trong phim Gió, lần cuối cùng ông Jiro gặp Naoko là trước khi ra sân bay để cho bay thử mẫu prototype bay được đầu tiên của chiếc Zero. Trong phim, lúc đó là mùa xuân. Miyazaki cho vẽ rất nhiều hoa anh đào, nhưng lồng ghép rất khéo, mãi mình mới nhận ra được.
Lúc Naoko trốn từ trên núi trở về thì là cuối mùa đông. Lúc làm đám cưới thì đã có anh đào đầu mùa bay lả tả trong gió. Lúc Jiro về nhà gặp vợ lần cuối, tức là cảnh Naoko nói: "Nó nhất định sẽ bay mà. Anh Jiro, thương anh nhiều", là anh đào đã nở rộ cả cây. Lúc chiếc Zero đầu tiên bay lên trời, anh đào đã ở tràn hai bên bờ sông.
Naoko gắn liền với cái máy bay của Jiro. Ông Jiro yêu vợ ổng hơn hay yêu cái máy bay của ổng hơn? Hay là não ổng tự liên hệ hai đối tượng này lại rồi yêu hai cái cùng lúc. Lúc hai người gặp nhau khi đã lớn, ông Jiro chơi máy bay giấy với Naoko, có khi lúc này não ổng đã tự tạo liên kết liên hệ giữa người ổng yêu với cái máy bay.
Ở đoạn cuối, Miyazaki đưa ra một biểu tượng mới: hoa anh đào, để gắn liền cả hai đối tượng: Naoko và máy bay lại. Hoa anh đào tượng trưng cho cái đẹp chóng tàn, cho nỗi u buồn man mác về cái đẹp vô thường, về niềm vui và hạnh phúc vô thường. Nói cách khác thì hoa anh đào ý nói rằng Naoko sắp chết rồi, và cái Zero cũng sắp chết. Ở cảnh trước khi về nhà, ông Jiro nói chuyện với ông bạn chuyên than thở của mình. Ông bạn bán than nói về cái máy bay ném bom của ổng thiết kế ("Tụi mình đâu phải dân bán vũ khí, tụi mình chỉ muốn làm ra máy bay đẹp thôi"). Miyazaki cho vẽ cảnh một phi đội máy bay ném bom đi rải bom ở Trung Quốc bị không lực Trung Hoa Dân Quốc (coi kĩ sẽ thấy có hình bạch nhật thanh thiên trên máy bay tiêm kích) bắn vào bình xăng và nổ tan tành. Cảnh đầu tiên chiếc Zero bay ban đầu ngỡ trái ngược với cảnh nguyên phi đội bị ăn hành trước đó, nhưng lại được trộn lẫn với cảnh Naoko ra đi, và như đã nói, được gắn kết chặt chẽ với hoa anh đào. Sau niềm vui là ngay lập tức tới cảnh ông Jiro đi ra một nghĩa địa máy bay. Trong phim, Naoko không có mộ, chỉ có hàng hàng xác những chiếc Zero mang cờ thái dương nằm chết trong lửa đạn.
Đúng là Naoko chính là cái máy bay của Jiro. Chiện thật buồn. Hay đúng hơn Naoko chính là cái máy bay của Miyazaki.
__________________
Sách Mitsubishi A6M Zero của Osprey viết về vụ thử prototype đầu tiên của chiếc Zero như sau. Ghi ra đây để thấy phim của Miyazaki tuy bịa về ông Jiro và vợ ổng nhưng theo sát thực tế lịch sử về cái máy bay Zero tình yêu đích thực của Miyazaki đến mức nào.
"Mẫu prototype bay được đầu tiên đã được gỡ ra và vận chuyển đến sân bay Kakamigahara bằng xe bò (y hệt trong phim). Sau khi được lắp ghép lại, chiếc máy bay được xét duyệt và kiểm tra sơ bộ lần cuối. Chuyến bay đầu tiên của prototype Zero diễn ra vào ngày 1/4 năm 1940 (chính là giữa mùa xuân sang có hoa anh đào). Thời tiết vào ngày bay thử đầu tiên rất thuận lợi, có gió nhẹ. Sân bay Kakamigahara, nằm ở thành phố Gifu, do Không lực Đế quốc Nhật Bản quản lí, nên chuyến bay thử phải chờ đến khi quân đội tập luyện xong mới được diễn ra. Lúc này, chiếc máy bay được kéo ra và chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến bay thử.
"Phi công chính cho chuyến bay thử là Shima Katsumo [...] Vào lúc 17h30, chiếc A6M1 cất cánh. Phi công thực hiện một loạt các bài kiểm tra tốc độ thấp. Shima Katsumo và Aratani Harumi tường trình lại rằng máy bay A6M1 có cách điều khiển tương tự chiếc A5M, nhưng cả hai phi công đều cảm nhận được rung động rất lớn khi cho máy bay tăng độ cao, và khi động cơ ở trạng thái nghỉ. [...]"
Sau chuyến bay thử đầu, chiếc A6M1 Zero đã được chỉnh sửa lại nhiều lần, cho bay thử suốt một tháng ròng. Rồi mẫu prototype số 2 được đưa ra. Khi bay thử mẫu A6M2, một phi công đã thiệt mạng. Lúc cho bay mẫu thứ 2, ông Jiro thật ngoài đời không có mặt, mà lúc đó đang ở Mitsubishi tại Nagoya. Tiếp tục sau nhiều chỉnh sửa tới prototype 12, cuối tháng 7 năm 1940, thì Không lực Đế quốc mới chấp nhận chiếc A6M, và đặt tên là máy bay Zero.
Tên chiếc Zero là A6M Type 00, rồi gắn kèm số model, như A6M2a chẳng hạn. Ý nghĩa mỗi chữ và số như sau:
- A: dùng để gọi máy bay tiêm kích (chiến đấu cơ) đặt trên mẫu hạm (tiếng Nhật ghi chữ Hán là hạm thượng chiến đấu cơ).
- 6: thế hệ máy bay thứ 6 của Không lực Đế quốc.
- M: Mitsubishi
- Type 00: tiếng Nhật ghi là "linh thức". Linh = 0, thức = type. Đặt theo năm của lịch cũ là năm 2600 (tức năm 1940).
___________________
Tựa đề là thơ Nguyễn Trãi.
Lúc Naoko trốn từ trên núi trở về thì là cuối mùa đông. Lúc làm đám cưới thì đã có anh đào đầu mùa bay lả tả trong gió. Lúc Jiro về nhà gặp vợ lần cuối, tức là cảnh Naoko nói: "Nó nhất định sẽ bay mà. Anh Jiro, thương anh nhiều", là anh đào đã nở rộ cả cây. Lúc chiếc Zero đầu tiên bay lên trời, anh đào đã ở tràn hai bên bờ sông.
Naoko gắn liền với cái máy bay của Jiro. Ông Jiro yêu vợ ổng hơn hay yêu cái máy bay của ổng hơn? Hay là não ổng tự liên hệ hai đối tượng này lại rồi yêu hai cái cùng lúc. Lúc hai người gặp nhau khi đã lớn, ông Jiro chơi máy bay giấy với Naoko, có khi lúc này não ổng đã tự tạo liên kết liên hệ giữa người ổng yêu với cái máy bay.
Ở đoạn cuối, Miyazaki đưa ra một biểu tượng mới: hoa anh đào, để gắn liền cả hai đối tượng: Naoko và máy bay lại. Hoa anh đào tượng trưng cho cái đẹp chóng tàn, cho nỗi u buồn man mác về cái đẹp vô thường, về niềm vui và hạnh phúc vô thường. Nói cách khác thì hoa anh đào ý nói rằng Naoko sắp chết rồi, và cái Zero cũng sắp chết. Ở cảnh trước khi về nhà, ông Jiro nói chuyện với ông bạn chuyên than thở của mình. Ông bạn bán than nói về cái máy bay ném bom của ổng thiết kế ("Tụi mình đâu phải dân bán vũ khí, tụi mình chỉ muốn làm ra máy bay đẹp thôi"). Miyazaki cho vẽ cảnh một phi đội máy bay ném bom đi rải bom ở Trung Quốc bị không lực Trung Hoa Dân Quốc (coi kĩ sẽ thấy có hình bạch nhật thanh thiên trên máy bay tiêm kích) bắn vào bình xăng và nổ tan tành. Cảnh đầu tiên chiếc Zero bay ban đầu ngỡ trái ngược với cảnh nguyên phi đội bị ăn hành trước đó, nhưng lại được trộn lẫn với cảnh Naoko ra đi, và như đã nói, được gắn kết chặt chẽ với hoa anh đào. Sau niềm vui là ngay lập tức tới cảnh ông Jiro đi ra một nghĩa địa máy bay. Trong phim, Naoko không có mộ, chỉ có hàng hàng xác những chiếc Zero mang cờ thái dương nằm chết trong lửa đạn.
Đúng là Naoko chính là cái máy bay của Jiro. Chiện thật buồn. Hay đúng hơn Naoko chính là cái máy bay của Miyazaki.
__________________
Sách Mitsubishi A6M Zero của Osprey viết về vụ thử prototype đầu tiên của chiếc Zero như sau. Ghi ra đây để thấy phim của Miyazaki tuy bịa về ông Jiro và vợ ổng nhưng theo sát thực tế lịch sử về cái máy bay Zero tình yêu đích thực của Miyazaki đến mức nào.
"Mẫu prototype bay được đầu tiên đã được gỡ ra và vận chuyển đến sân bay Kakamigahara bằng xe bò (y hệt trong phim). Sau khi được lắp ghép lại, chiếc máy bay được xét duyệt và kiểm tra sơ bộ lần cuối. Chuyến bay đầu tiên của prototype Zero diễn ra vào ngày 1/4 năm 1940 (chính là giữa mùa xuân sang có hoa anh đào). Thời tiết vào ngày bay thử đầu tiên rất thuận lợi, có gió nhẹ. Sân bay Kakamigahara, nằm ở thành phố Gifu, do Không lực Đế quốc Nhật Bản quản lí, nên chuyến bay thử phải chờ đến khi quân đội tập luyện xong mới được diễn ra. Lúc này, chiếc máy bay được kéo ra và chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến bay thử.
"Phi công chính cho chuyến bay thử là Shima Katsumo [...] Vào lúc 17h30, chiếc A6M1 cất cánh. Phi công thực hiện một loạt các bài kiểm tra tốc độ thấp. Shima Katsumo và Aratani Harumi tường trình lại rằng máy bay A6M1 có cách điều khiển tương tự chiếc A5M, nhưng cả hai phi công đều cảm nhận được rung động rất lớn khi cho máy bay tăng độ cao, và khi động cơ ở trạng thái nghỉ. [...]"
Sau chuyến bay thử đầu, chiếc A6M1 Zero đã được chỉnh sửa lại nhiều lần, cho bay thử suốt một tháng ròng. Rồi mẫu prototype số 2 được đưa ra. Khi bay thử mẫu A6M2, một phi công đã thiệt mạng. Lúc cho bay mẫu thứ 2, ông Jiro thật ngoài đời không có mặt, mà lúc đó đang ở Mitsubishi tại Nagoya. Tiếp tục sau nhiều chỉnh sửa tới prototype 12, cuối tháng 7 năm 1940, thì Không lực Đế quốc mới chấp nhận chiếc A6M, và đặt tên là máy bay Zero.
Tên chiếc Zero là A6M Type 00, rồi gắn kèm số model, như A6M2a chẳng hạn. Ý nghĩa mỗi chữ và số như sau:
- A: dùng để gọi máy bay tiêm kích (chiến đấu cơ) đặt trên mẫu hạm (tiếng Nhật ghi chữ Hán là hạm thượng chiến đấu cơ).
- 6: thế hệ máy bay thứ 6 của Không lực Đế quốc.
- M: Mitsubishi
- Type 00: tiếng Nhật ghi là "linh thức". Linh = 0, thức = type. Đặt theo năm của lịch cũ là năm 2600 (tức năm 1940).
___________________
Tựa đề là thơ Nguyễn Trãi.
Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018
Dạ lai u mộng
Đêm rồi mộng ảo chợt về nhà
Bên song cửa
Đang điểm trang
Nhìn nhau không nói
Chỉ ngàn lệ tuôn tràn
Liệu mấy năm ròng đoạn trường ấy
Đêm trăng tỏ
Đồi thông non
Đoạn trên là phần đuôi của bài từ theo điệu Giang thành tử của Tô Thức. Bài có tựa nhỏ là Đêm 20 tháng Giêng ghi lại giấc mộng.
Bài này mình nghĩ là một trong những bài thơ tình cổ buồn nhất của Trung Quốc. Tô Thức viết về giấc mộng gặp lại người vợ chết trẻ của mình. Trong giấc mơ, trở về quê cũ, ông thấy mình đứng bên song cửa xưa. Bên kia song là vợ vẫn đang trang điểm như ngày nào. Bốn mắt nhìn nhau không nói nên lời chỉ có lệ chảy tràn xuống áo (bị nhiễm thập ngũ tòng quân chinh rồi nên có cụm này dùng hoài).
Bài từ còn lời 1, nhưng mình thích lời 2 hơn vì nó thảm hơn. Lời 1 mang tính chất kể lể âm dương đôi ngả.
夜來幽夢忽還鄉
小軒窗
正梳妝
相顧無言
惟有淚千行
料得年年腸斷處
明月夜
短松崗
Dạ lai u mộng hốt hoàn hương
Tiểu hiên song
Chính sơ trang
Tương cố vô ngôn
Duy hữu lệ thiên hàng.
Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ
Minh nguyệt dạ
Đoản tùng cương
(bản thu cuối cùng của du Pré trước khi mất dần khả năng kéo cello rồi qua đời chính là cái bản nhạc này, bài nhạc nghe như u mộng của César Franck.)
Bên song cửa
Đang điểm trang
Nhìn nhau không nói
Chỉ ngàn lệ tuôn tràn
Liệu mấy năm ròng đoạn trường ấy
Đêm trăng tỏ
Đồi thông non
Đoạn trên là phần đuôi của bài từ theo điệu Giang thành tử của Tô Thức. Bài có tựa nhỏ là Đêm 20 tháng Giêng ghi lại giấc mộng.
Bài này mình nghĩ là một trong những bài thơ tình cổ buồn nhất của Trung Quốc. Tô Thức viết về giấc mộng gặp lại người vợ chết trẻ của mình. Trong giấc mơ, trở về quê cũ, ông thấy mình đứng bên song cửa xưa. Bên kia song là vợ vẫn đang trang điểm như ngày nào. Bốn mắt nhìn nhau không nói nên lời chỉ có lệ chảy tràn xuống áo (bị nhiễm thập ngũ tòng quân chinh rồi nên có cụm này dùng hoài).
Bài từ còn lời 1, nhưng mình thích lời 2 hơn vì nó thảm hơn. Lời 1 mang tính chất kể lể âm dương đôi ngả.
Tranh Mai Trung Thứ lần trước xem bán đấu giá nhưng tiền kinh quá mua không nổi.
小軒窗
正梳妝
相顧無言
惟有淚千行
料得年年腸斷處
明月夜
短松崗
Dạ lai u mộng hốt hoàn hương
Tiểu hiên song
Chính sơ trang
Tương cố vô ngôn
Duy hữu lệ thiên hàng.
Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ
Minh nguyệt dạ
Đoản tùng cương
(bản thu cuối cùng của du Pré trước khi mất dần khả năng kéo cello rồi qua đời chính là cái bản nhạc này, bài nhạc nghe như u mộng của César Franck.)
Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018
Kí ức là một lời nói xạo hoa mĩ
(ảnh ăn trộm của Quỳnh, từ phim nào thì ai cũng biết)
Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay
Trông thế giới phút chim bay
Nguyễn Trãi
Trước Tết mình mua một cây hoa trà trắng về đem vào Viện để chăm. Mình gọi cây hoa trà là "nó", vì trong đầu mình không có khái niệm gán giới tính cho cây hoa trà. Elena thì kêu cây hoa trà là "she", chắc tại vì Elena người Ý nên trong đầu bạn tự mặc định cái cây là giống cái. Nó (cây hoa trà) có nhiều nụ nhưng chỉ ra được đúng một bông hoa. Sau một tuần hít thở đủ thứ lành mạnh trong lab, tất cả các nụ hoa khác đều tèo. Riêng cây hoa trà thì vẫn sống, chỉ có nụ hoa là tèo. Lá bắt đầu ua úa. Sau Tết, khi mình quay trở lại Thụy thì cây hoa trà (đã được dời xuống phòng uống cà phê) đã xanh mơn mởn trở lại (nhưng tất cả các nụ vẫn tèo).
Khi bị bệnh nằm ở nhà đọc Đôrêmon thì mình đọc lại truyện bố Nôbita kể về cô gái hoa bách hợp. Nhớ có lần mình ghi rằng cái tập này nói về việc kí ức là một lời nói xạo hoa mĩ.
Kí ức của mình cũng là nhiều lời nói xạo. Đôi khi mình quen với một lời nói xạo hoa mĩ diễn đi diễn lại trong đầu tới nỗi mình đầu mình cho rằng đó là 90% kí ức thật. Lí do thì vô vàn, có thể lúc ghi nhận kí ức đó đầu mình quá lộn xộn nên về sau, não tự động cường điệu một số cảm giác vào để đưa ra một loại kí ức chứa đựng được. Hãm nhất là trường hợp trước khi bắt đầu ghi nhận, mình quá bối rối nên đầu mình tự diễn trước một loạt các tình huống sẽ xảy ra, rồi tới khi sự kiện xảy ra thật thì não mình bị rối loạn với các kịch bản tự diễn trước đó và xây nên một bản kí ức mới để đóng vào kho.
Dĩ nhiên không phải kí ức nào cũng bị hoa mĩ hóa hoặc cường điệu hóa quá mức. Nhiều kí ức vẫn hiện lên khá chân phương, vui hay buồn, điên hay tỉnh. Dù vậy thì kí ức vẫn là một loại thực thể chủ quan và bị ảnh hưởng bởi thế giới quan thay đổi liên tục của mình. Mình tạo ra kí ức và kí ức tạo ngược lại mình. Mình thích chuyện này.
Kí ức về bông hoa trà màu trắng toát nở trong phòng thí nghiệm giữa bầu không khí lành mạnh dĩ nhiên sẽ mãi đẹp. Giống như cô gái hoa bách hợp của bố Nôbita.
Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018
Thập ngũ tòng quân chinh – Total War: Three Kingdoms
Trailer gốc của bản Total War Tam quốc dùng 1 bài nhạc phủ cổ thời Hán làm nhạc nền: "Mười lăm tuổi đi tòng quân, Tám mươi tuổi được về quê". Hẳn bài này sẽ là nhạc chủ đề chính. Ở shogun 2, bài hát chính thức của game rất mang tính âm và đi ngược với tinh thần chung là rất dương. Bài Cánh chim thời gian của shogun 2 hòa trộn haiku lẫn Đường thi và thi ca Tây cổ điển. Lời bài này thì ý là của cô gái nói với 1 người tình (hay người cha/mẹ nói với người con) là lính ra trận trong một sáng mù sương, rằng bao nhiêu lá rụng khỏi cây cũng là bấy nhiêu ngày sẽ trôi qua, rằng người ở lại nằm dưới cội hoa hay ánh trăng nhưng lại tỉnh mộng sớm quá, thôi hãy về đây, thôi đừng khóc, sinh tử li biệt cũng đã thành phận rồi. Người chơi đùng một phát nhận ra ngay bài này đang kể tội ai.
Bài nhạc phủ dùng trong trailer Tam quốc vang lên rõ nhất lời hát đoạn cao trào Lã Bố đánh với Trương Phi và Quan Vân Trường: Thập ngũ tòng quân chinh, Bát thập thuỷ đắc quy. Dĩ nhiên đây không phải lời của 3 người trên hát, càng không phải của 3 ông ngồi ngựa đằng sau là Đổng Trác, Lưu Bị hay Tào Tháo. Đây là lời 1 người lính quèn (may mà) sống tới được 80 tuổi để về quê rồi thấy quê nhà hoang vu, thỏ sợ chạy vào chuồng chó, trĩ hoảng hơi người đập cánh bay. Người về quê ra bếp đốt lửa thổi cơm, ra vườn hái rau nấu canh, rồi ra cửa đông mà biết ngóng ai chỉ thấy lệ chảy tràn xuống áo.
Tinh thần phản chiến trong game chiến tranh được ẩn giấu như vậy.
Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017
Lỡ trận gió đầu thu
Lại tranh của Mai Trung Thứ
Em đứng nhìn
ngỡ mình lỡ trận gió đầu thu.
Mặt hồ trong
dày đặc lớp sương mù.
Mây trong nội
đùn ra ngoài cửa biển.
Gió trên ngàn
cuốn theo đường chân hươu.
Khiên chu trung lưu
dập dềnh trên hồ thẳm.
Nắng thu tràn
thêu hoa dệt gấm.
Trận gió thu
qua rồi không trở lại.
Em lỡ làng
thấy mất cả mùa thu.
Mùa thu cũ
vẫn còn vương hương tóc.
Nước dưới cầu
vẫn chảy đều như trước.
Cơn gió muộn
khóc vội qua kẽ song.
Mùa hè lơ lửng
có gì nữa mà mong.
Mùa thu mới
tỏa mùi qua ổ trúc.
Nấm mọc lên
ồ ạt trên gỗ mục.
Hồ xanh hơn
tưới mát cả rừng thông.
Nhờ lặt hoa tàn mới tường ngọc rụng
Nhân nguyệt rủ tỏ hẵng khỏi khêu đèn.*
______________
Nguyễn Trãi:
Lặt hoa tàn, xem ngọc rụng
Soi nguyệt xủ, kẻo đèn khêu.
Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017
Thị phi nào đến cõi yên hà
Như thường lệ, buổi sáng sớm thứ Bảy, hầu như chỉ có một mình mình ở Viện. Mình bật nhạc đỏ volume thật to, như lí do đã trình bày trên facebook là vì lab mình có trào lưu bật nhạc đỏ tăng năng suất lao động (thật ra chỉ có mình và Alissa là chơi, Sung Hwan vẫn chuyên cần với nhạc HQ), rồi bỏ đi làm vài việc lặt vặt.
Buổi trưa mình đi ăn bún chả ở tiệm VN, tiện mua bánh mì xá xíu về tối ăn. Đi về ngang một tiệm trà Nhật nên ghé vào mua tí tiễn trà.
Buổi tối ngồi ở nhà đọc Nguyễn Trãi:
Am trúc hiên mai, ngày tháng qua,
Thị phi nào đến cõi yên hà.
Bữa ăn dầu có dưa muối,
Áo mặc nài chi gấm là.
Nước dưỡng cho thanh đìa thưởng nguyệt,
Ðất cày ngõ ải rãnh ương hoa.
Trong khi hứng động bề đêm tuyết,
Ngâm được câu thần dắng dắng ca.
Ở nơi lều trồng trúc, hiên trồng mơ (mai), mà ngày tháng trôi qua. Chuyện thị phi nào đến được cõi vốn chìm trong khói sông này. Tới bữa thì ăn dưa muối, quần áo cần gì gấm thêu với lụa là. Ta giữ cho nước thanh ngoài đìa (trì, tức ao) để mà xem trăng. Ta cày cho đất khô và thông khí để mà ươm hoa. Trong khi đêm tuyết, hứng bỗng nổi lên. Nhờ vậy, ta ngâm được câu thần mà đắc chí cứ ca mãi không thôi.
Bản Ngôn chí số 3 này chép theo phiên của Trần Trọng Dương. Một số từ tra từ sách của anh Dương:
– ngõ = cho, từ cổ, như "ngõ hầu".
– ải = đất khô và thông khí.
______________________________
Buổi sáng mình thức dậy, ăn müesli, đọc Nichijou rồi đi đến Viện. Buổi tối mình tắt bơm, đổ nitơ lỏng vào bình và đi về nhà. Trên đường về nhà, mình học tiếng Pháp qua podcast hoặc tiếp tục luyện truyện ngắn Cây Xuân. Ít nhất cần có một sự lặp đi lặp lại nào đó để giữ đầu óc được tỉnh táo. Giống như Sung Hwan mỗi buổi chiều đều đi ăn hamburger.
Ngày tháng qua tròn ba nguyệt.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



