Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Luca Turin và giới khoa học Xô Viết

Đọc các sách vở về hóa hương, nước hoa, về khứu giác, nhất là các sách xuất bản khoảng năm 2000 trở đi, cuốn nào không nhắc tới Luca Turin hay cái lý thuyết rung động mùi hương của Turin, thì cuốn đó thiếu sót khá lớn.

Tôi biết tới Turin vào năm đầu tiên tôi đến cái đất nước này, trong những ngày lùng sục thư viện, và kể từ khi tôi bắt đầu dịch cuốn "The secret of scent" của Turin. Và tôi mê từ con người ông Turin cho tới ngôn ngữ của ổng, cái hài của ổng, cho tới cái lý thuyết về mùi hương độc đáo và tuyệt vời của ổng. Năm ngoái, tôi từng làm một bài thuyết trình PowerPoint khi đi phỏng vấn thực tập ở Syngenta về lý thuyết rung động mùi hương của Turin, nhưng tôi không được nhận.

Từ khi sinh học bắt đầu nhìn được phân tử, và người ta bắt đầu sử dụng hình dạng của phân tử để giải thích đủ thứ cơ chế sinh lý, từ enzyme tiêu hóa trong ruột cho tới kháng thể bạch cầu vân vân, các nhà sinh lý học bắt đầu mê mẩn với cái suy nghĩ theo thuyết khóa-chìa khóa, và tới khi đụng vào khứu giác, chúng ta lại vẫn tiếp tục nghĩ theo lối đó, phải có các thụ thể có hình dạng thích hợp để các phân tử mùi lắp vào y chang như lắp lego. Nhưng rồi chúng ta kẹt luôn ở đó, làm sao giải thích được cơ chế nào mà cơ thể con người có thể có hàng trăm ngàn cái ổ khóa để cho mũi chúng ta có thể phân biệt được cả trăm ngàn mùi hương một cách tức thì, trong khi cả trăm ngàn kháng thể do bạch cầu tạo ra ghép khớp vào từng loại kháng nguyên mầm bệnh cũng phải tốn thời gian vài ngày theo kiểu thử sai. Rồi nếu hình dạng một phân tử mùi quyết định mùi hương của nó, thì làm sao giải thích được có đủ thứ phân tử hình dạng na ná nhau lại có mùi hoàn toàn khác biệt, trong khi một đống phân tử khác hình dạng hoàn toàn khác biệt lại có mùi na ná nhau (ví dụ: các phân tử mùi xạ có thể chia được làm 4 nhóm có hình dạng rất khác nhau: xạ nitro, xạ vòng lớn, xạ đa vòng và xạ vòng no - xem hình).


Lý thuyết rung động mùi hương của Turin sử dụng các dao động của các liên kết phân tử, xem mũi con người như một cái máy phổ hồng ngoại IR, thứ mà các sinh viên hóa học được học cách đọc - nhìn vào phổ IR ngoằn ngoèo đoán được phân tử gồm các nhóm chức nào - ngay từ năm một. Cái mũi chúng ta đọc từng phân tử, từng mũi phổ. Vì thế, các phân tử có phổ tương tự nhau sẽ có mùi tương tự nhau. Lý thuyết này vốn dĩ không phải của Turin nghĩ ra, nó được đưa ra từ năm 1928, sau đó bị bỏ xó vì không ai tin, sau này có được vực dậy vài lần, nhưng dù có bằng chứng về mùi, nhưng nó vẫn gặp một số phản ví dụ, và quan trọng là vẫn chưa ai tìm ra được cơ chế làm sao mũi có thể là một cái máy phổ. Mãi cho tới khi người ta tìm ra thụ thể bắt cặp protein-G (Nobel 2004 cho Linda Buck và Richard Axel), rồi Turin dùng hiệu ứng đường hầm điện tử để giải thích thì lý thuyết này mới sống dậy thật sự.

(Tạm ngừng phần này ở đây, dĩ nhiên tôi sẽ còn viết nhiều về Turin)
______________________________

Bài này tôi vốn không muốn đi sâu vào cái lý thuyết hay ho của Turin mà muốn giới thiệu về một cuốn sách siêu hay của Chandler Burr viết về Luca Turin và mùi hương (theo tôi thấy còn hay hơn cuốn sách của Luca Turin tự viết về lý thuyết của mình). Cuốn sách siêu hay này có một đoạn hay kinh điển mà Luca Turin kể về giới khoa học thời kỳ Xô Viết, mà tôi đã dịch ở dưới:



~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
ÔNG HOÀNG CỦA MÙI HƯƠNG
tác giả: Chandler Burr 

[...] Dưới con mắt của Turin, nước Nga đã luôn là đầu tàu nơi cư ngụ của hàng loạt những nhà phù thủy khoa học lập dị. Hồi xưa ông từng đọc tạp chí Biofizika bằng phiên bản tiếng Anh gọi là Soviet Biophysics (tạp chí Vật lý sinh học Xô Viết), vốn là tờ tạp chí đầy những thứ hay ho lạ lùng - những thứ "nếu mà đúng, thì rất hay ho", theo lời ông nói.

[...] Turin tới làm ở Matxcơva 5 lần ở 5 thời điểm khác nhau, nghiên cứu đủ thứ gì ông thích. Ngành sinh học của Nga bây giờ, ông nói một cách luyến tiếc, đã gần như bị xóa sổ. "Không tài trợ, không thiết bị, toàn là tuyệt vọng, toàn là xuất cảnh. Những người giỏi nhất trốn hết qua Mỹ với Israel." Ông nhún vai, thở dài cho một thời đã qua. Thứ mà ông đặc biệt thích là sách khoa học, mua chỉ vài xu Anh đúng theo nghĩa đen (*giá hiện giờ 1 xu Anh = 350 VND) ở mấy cửa hiệu Xô Viết teo tóp. Ông sẽ đi thẳng tới Dom Knigi (Nhà Sách) ở Prospekt Kalinina (Đại lộ Kalinina), tầng tám phía bên phải, ở đó sẽ có hàng chồng sách mỗi chồng gần 2 mét, sách về vật lý lượng tử, về sinh lý, về điện hóa, về luyện kim, đủ thứ. Mặt ông sáng lên. "Có một cuốn rất hay kêu là Cứng hơn cả kim cương, nói về mấy thứ ngọc có đốp thêm nitơ vào. Tôi thích cuốn đó." Ông cười sung sướng, rồi mím môi, nhìn trầm ngâm. "Những người viết ra mấy cuốn sách đó toàn là những người mang giầy sờn rách rẻ tiền, mặc áo vải polyester bẩn. Đống sách tôi gom được sau mỗi chuyến đó, nặng phải bằng một con bê con. Nhìn vào đống sách đó, tôi nghĩ "làm sao mình tha được đống này về nhà, thôi mai mình quay lại", thế nhưng hôm sau quay lại thì nguyên đám đó đã biến mất. Biến mất mãi mãi. Ở đó sẽ không còn gì luôn. Thế nên khi mình tìm được, thì phải cố mà tha ra tới quầy tính tiền, người ta sẽ gói sách lại bằng một cái giấy gói lạ lùng nhất, đẹp nhất với một cái dây cũng rất lạ - ở Liên bang Xô Viết thì cái gì cũng lạ hết - rồi mình vác nó ra taxi, rồi vác ra bưu điện, rồi gửi máy bay về nhà. Tôi đã mua nhiều sách tới mức mang không nổi, năm mươi kí lô sách, cả chồng cả tháp những cuốn sách vĩ đại, ác liệt, tuyệt vời đó.

"Rồi còn những nhà khoa học Xô Viết thì cũng hay ếu (fucking) chịu được. Tôi nhớ có một lão người Anh rất ngựa, có lần đứng thuyết trình ở Mátxcơva vào một ngày hè khá oi. Lão này mặc một bộ vét vải lanh màu thuốc lá, đội một cái nón vành panama, trông rất là thực dân. Thính giả của lão này là 25 nhà khoa học Liên Xô trông vô cùng nhếch nhác, mặc áo xống rách rưới, tồi tàn, tệ hại, nhìn thấy tưởng như mấy người này ăn xin trên đường phố. Lão kia thì vừa thuyết trình vừa tỏ vẻ kẻ cả, chiếu cố kiểu dân Anh, rồi tới phần hỏi-đáp, 25 nhà khoa học Liên Xô này đã quay chín lão người Anh luôn. 25 nhà khoa học đó, họ trông như dân vô gia cư thì sao, có vấn đề gì không? Vấn đề là họ hoàn toàn không tào lao. Khoa học đối với họ không phải là một cái "nghề", không phải là để diện áo choàng tiến sỹ đi qua đi lại, không phải màu mè hoa lá, nó là khoa học thuần túy, nó là cái câu hỏi Thế này là thế nào? Làm sao chúng ta giải quyết được cái này? Ôi trời ơi. Họ sống trong những khu ký túc tối tăm của Đại học Quốc gia Matxcơva, vốn là một cái trường đại học dành riêng cho khoa học, cái tòa nhà (lại fucking) vĩ đại ở trên đỉnh đồi. Hồi tôi đến đó lần cuối, họ fax hỏi tôi: "Ông muốn có học hàm gì?", tôi fax trả lời: "Đại Công tước (Grand Duke)". Họ fax ngược lại: "Đại Công tước hiện tại có người đang dùng, gợi ý nên dùng Giáo sư thỉnh giảng (visiting professor)".

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Né xuống đó má [tựa chôm của Cao Huân]

Năm nay tui không chơi PES (tui chơi FIFA) nhưng mà PES2014 có cho cái bài Nessun dorma vô làm nhạc nền. Bài này không phải lần đầu tiên được gắn với đá banh, vì theo trên mạng người ta nói hồi World Cup Italia '90, đài BBC bên Anh quốc đã từng dùng làm nhạc nền trước mỗi trận đấu rồi.

Nessun dorma nghĩa là Không ai được ngủ (Nessun là dạng nói tắt không có nguyên âm cuối của từ nessuno (không ai) trong tiếng Ý, dorma là thể mệnh lệnh ngôi ba số ít của dormire (ngủ)). Nếu mà bài này phát mùa World Cup ở VN, chắc thiệt là hợp, nhưng có vấn đề là không nhiều người biết tiếng Ý, mà chắc cũng chẳng bao nhiêu người hiểu được cái thâm ý sâu xa đó hehe. Thật ra, đây là một aria của Puccini nằm trong tuồng opera Turandot. Đây là bài do chàng hoàng tử Calaf hát đoạn đầu cảnh cuối của vở. Tuồng này bối cảnh ở Peking, thời Mông Cổ, kể về công chúa Turandot trái tính trái nết, tàn nhẫn lạnh lùng này kia, nhưng được cái xinh, nên có nhiều người tới cầu hôn. Ai tới cầu hôn sẽ phải trả lời 3 câu đố, nếu trả lời được thì sẽ được cưới, không thì sẽ bị chặt đầu. Chàng hoàng tử Calaf này do yêu cô công chúa (mới vừa dòm thấy yêu luôn, đúng là tuồng cải lương) nên quyết định cầu hôn luôn và trả lời đúng hết 3 câu đố. Nhưng không chúa lật kèo và không chịu cưới. Calaf mới thỏa hiệp bằng cách cho công chúa 1 đêm để đoán được tên của mình (tên của Calaf) là gì. Nếu công chúa đoán được thì Calaf sẽ chịu chết, còn không thì công chúa phải cưới Calaf.

Công chúa vì vậy mới bắt tất cả mọi người trong cung cùng thức với mình (Không ai được ngủ) để cùng tìm tên của Calaf. Nếu tới bình minh không tìm ra được tên Calaf, tất cả người hầu sẽ bị xử tử.



Tui sẽ dịch bài hát ở dưới. Tui dịch (có kèm bình luận) từ cả nguyên gốc tiếng Ý và bản dịch tiếng Anh (dĩ nhiên là tui không biết tiếng Ý, nhưng ngồi tra từ điển và ngữ pháp trên google không phải là chuyện quá khó).



Nessun dorma! Nessun dorma! 
Không ai được ngủ! Không ai được ngủ!

Tu pure, o Principessa, nella tua fredda stanza, guardi le stelle che tremano d'amore, e di speranza!
Cả nàng cũng thế, Công Chúa điện hạ, trong phòng riêng lạnh lẽo của nàng, ngắm nhìn tinh tú trên trời run lên vì tình yêu, và cả vì hy vọng!

Ma il mio mistero è chiuso in me; il nome mio nessun saprà! No, No! Sulla tua bocca lo dirò quando la luce splenderà!
Nhưng còn bí mật của ta thì được ta cất giấu; tên ta sẽ không ai được biết! Không, không! (Chỉ tới) khi ánh ngày chiếu rạng, trên môi nàng, ta sẽ nói ra (tên ta).

Ed il mio bacio scioglierà il silenzio che ti fa mia!
Và nụ hôn của ta sẽ làm tan biến cái tịch tĩnh đó, khiến nàng trở thành của ta!

Chorus: Il nome suo nessun saprà, E noi dovrem, ahimè, morir, morir!
Dàn đồng ca những người hầu phía sau: Tên của chàng sẽ không ai biết, Và chúng ta sẽ phải, than ôi, sẽ phải chết thôi!

Dilegua, o notte! Tramontate, stelle! Tramontate, stelle! All'alba vincerò! Vincerò! Vincerò!
Đây là câu cuối, hoành tráng nhứt: Tan biến đi, hỡi đêm tối! Lặn đi, lặn đi, này sao trời kia! Tới bình minh, ta sẽ chiến thắng! Ta sẽ chiến thắng! Ta sẽ chiến thắng!


Bỏ qua nội dung nhảm nhí của vở tuồng cũng như bi kịch hôn nhân diễn ra sau đó (cưới người muốn giết mình về xong làm gì? - mặc dù khúc cuối công chúa Turandot có vẻ giả bộ yêu hoàng tử), thì chúng ta cùng thấy được tài năng viết aria rất hay của Puccini và sự khôn lanh của Konami khi cho bài này vô làm nhạc nền PES2014. Chơi game đá banh mà cứ ta sẽ chiến thắng, ta sẽ chiến thắng, chẳng phải hào hứng lắm ru?

Mời mọi người cùng nghe Pavarotti hát (bản trong PES2014 chắc chắn không phải giọng Pavarotti, nghe là biết luôn):

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Akai Kutsu 赤い靴





Giày đỏ - Akai kutsu
Sáng tác: lời thơ Ujō Noguchi, nhạc Nagayo Motōri.
Trình bày: Yuki Saori và Yasuda Sachiko


赤い靴 はいてた 女の子
Akai kutsu haiteta onna no ko
Cô bé mang giày đỏ
異人さんに つれられて 行っちゃった
Ijin-san ni tsurerarete ittyatta 
được một người ngoại quốc đưa đi


横浜の 埠頭から 船に乗って
Yokohama no hatoba kara funeninotte 
Trên con tàu từ cảng Yokohama
異人さんに つれられて 行っちゃった
Ijin-san ni tsurerarete ittyatta
cô bé được một người ngoại quốc đưa đi


今では 青い目に なっちゃって
Imade wa aoi me ni nattyatte
Giờ đây mắt cô chắc đã xanh biếc
異人さんの お国に いるんだろう 
Ijin-san no okuni ni irundarou
(khi) sống trên đất nước của người ngoại quốc


赤い靴 見るたび 考える
Akai kutsu mirutabi kangaeru
Mỗi lần (mỗi độ) trông thấy giày đỏ, tôi lại nghĩ về em
異人さんに 逢(あ)うたび 考える
Ijin-san ni autabi kangaeru
Mỗi độ gặp người ngoại quốc là tôi lại nghĩ về cô bé mang giày đỏ.

___________________________


Có hai truyện ngắn Đô rê mon nói về nỗi hoài niệm gây ấn tượng đối với tôi là truyện "Cô bé mang giày đỏ" và truyện "Cô gái giống hoa bách hợp". Truyện hoa bách hợp thì là câu chuyện về bố của Nôbita, nói về việc ký ức là một lời nói xạo hoa mỹ, truyện này không liên quan ở đây, ngứa miệng nói ra chơi thôi, hehe. 


Truyện "Cô bé mang giày đỏ" là ký ức của Nôbita về cô bạn tuổi thơ mang đôi giày đỏ, rồi một ngày cô bé đột ngột cùng gia đình đi sang Mỹ định cư, Nôbita không còn gặp lại nữa. Tình hình có vẻ giống trong lời bài hát.


Bản của Yuki Saori và Yasuda Sachiko hát ở trên là một bản rất giàu cảm xúc. Mỗi một khổ thơ đều có hai nhân vật: cô bé đi giày đỏ và người ngoại quốc được gọi bằng Ijin-san. Ijin (dị-nhân = người lạ, người khác; dĩ nhiên ở đây không nói tới mấy vụ X-men em của ngày hôm qua) là từ cổ trong tiếng Nhật từ khoảng cuối thời Mạc phủ tới thời Minh Trị dùng để chỉ người ngoại quốc. Trong bản của Yuki Saori và Yasuda Sachiko này, mỗi khổ thơ, tôi nghe được hai dòng cảm xúc đi song song nhau. Dòng thứ nhất ở câu đầu, khi nói về cô bé mang giày đỏ - là một cảm xúc nuối tiếc và nhớ thương. Dòng thứ hai ở câu sau, đặc biệt nhấn mạnh ở ba chữ I-jin-san đầu mỗi câu, dường mang ý trách móc cái ông I-jin-san tại sao lại mang cô bé giày đỏ đi mất.


Bài hát này được sáng tác năm 1922, trước khi thế chiến 2 nổ ra. 

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Samidare

   五月雨  や    蠶        煩ふ     桑   の   畑
Samidare ya kaiko wazurau kuwa no hata
-- Bashô --

Tháng năm mưa dầm
Con tằm bệnh
Nương dâu
-- Bashô -- 





Sa-midare là tên riêng để chỉ những cơn mưa vào tháng Sa (tháng Sa-tsuki, từ tsuki nghĩa là trăng-tháng rồi), vốn là tháng thứ năm trong âm lịch cũ của Nhật Bản (sau Minh Trị thì dẹp lịch âm). Samidare vì vậy là quý ngữ trong haiku để chỉ mùa đầu mùa hè.

Mưa Samidare là mưa đầu mùa hè, là những cơn mưa dài, và dai dẳng. Khi chuyển ngữ thơ haiku có samidare (Bashô có một đống các bài khác bắt đầu bằng samidare), các sách tiếng Anh thường dịch là "constant rain" - mưa dầm, hay "first summer rain" - mưa đầu hạ, ...

Ở Việt Nam, mùa mưa kéo dài từ khoảng tháng 5 tới tháng 10 âm lịch. Nhưng chúng ta không có cái tên đặc biệt nào cho mưa đầu mùa hạ (đầu mùa mưa) như samidare. Dĩ nhiên tôi có thể bắt chước bản dịch tiếng Anh và dịch là "Mưa dầm đầu hạ", thay vì "Tháng năm mưa dầm", như thế có vẻ cũng hay hơn:

Mưa dầm đầu hạ
Con tằm bệnh
Nương dâu
--Bashô--


Ở Việt Nam, có mưa đầu tháng Bảy gọi là mưa Ngâu, gắn với truyền thuyết đêm Thất tịch (7/7 âm lịch), Ngưu lang - Chức nữ gặp nhau khóc lóc trên trời làm mưa rớt xuống. Đó là tên riêng duy nhất dành cho mưa trong tiếng Việt mà tôi nhớ được ở thời điểm này. Nếu đi hỏi nông dân, chắc họ rành hơn tôi. Ở Nhật thì lễ Thất tịch Tanabata (bây giờ diễn ra vào đêm 7/7 Dương lịch) không có mưa nhiều (đọc trên mạng thấy người ta thường cầu cho không mưa vào đêm này), chắc thế nên không thấy có tên riêng hay quý ngữ cho mưa vào dịp này.


Tôi nghĩ linh tinh, thế là dùng chữ mưa ngâu để dịch, dùng như vậy hóa ra lại là hay nhất, nhưng nó làm lệch bản gốc mất.

Tháng bảy mưa ngâu
Con tằm bệnh
Nương dâu
--(dựa theo) Bashô --


___________________________

Ngoài ra còn một chữ nữa, đó là chữ hat畑. Ai học kanji theo cuốn Basic Kanji Book chắc đều gặp chữ này ngay mấy bài đầu. Chữ này là kokuji (quốc tự), nghĩa là chữ cho người Nhật chế ra chứ không được người Hán xài, do đó không có âm Hán (dĩ nhiên cũng không có âm Hán Việt). 

Chữ hata vốn là chữ điền 田 có thêm bộ Hỏa. Người Tàu nửa trên sông Dương Tử trồng lúa mì, nửa dưới trồng lúa nước, dùng chữ điền để chỉ cả ruộng lúa mì lẫn ruộng lúa nước. Người Nhật trồng lúa nước, nên chữ điền 田 nó mang nghĩa khá ướt (kiểu chữ ruộng trong tiếng Việt). Khi thêm bộ hỏa vào, chữ hata 畑 mang nghĩa khô hơn, và để chỉ nơi trồng cây trái khô, không ngập nước. Tương tự trong tiếng Việt có chữ đồng hoặc chữ nương, hoặc chữ rẫy mang nghĩa khá khô ráo hơn chữ ruộng, mặc dầu người ta vẫn kêu đồng lúa nhưng chữ đồng trong này nó chỉ khoảng không gian nhiều hơn là chỉ vật thể.

Và cũng giống tiếng Việt có các từ ghép ruộng đồng, ruộng nương, ruộng rẫy (có từ này nha, google đê) tiếng Nhật cũng có từ ghép 田畑, đọc là tahata, tahatake, hoặc đọc chữ điền bằng âm Hán denbata.

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

Furusato



ふるさと や 寄る も 障る も 茨の花
小林 一茶

Furusato ya yoru mo sawaru mo ibara no hana
Kobayashi Issa

Sáng nay chị Bò tag mình vô một bức hình chị Bò chụp một khu vườn đẹp, kèm với một bài thơ haiku của Issa do ông Thái Bá Tân dịch.

Tôi chạm nhẹ nhàng
vào mọi cái
Thế mà luôn bị
gai châm.

Thú thật là mình rất thích cái phong điệu của bài haiku này. Nhưng mình ngờ là ông Thái Bá Tân dịch từ bài gốc ở trên của Issa mà mình tìm được trên mạng. Nếu là vậy thực thì bản dịch trên dịch rất tầm bậy tầm bạ. Mà cũng không phải chuyện bất ngờ vì thơ haiku ông Thái Bá Tân dịch trước giờ đã rất tầm bậy rồi.

Một vài chữ:
ふるさと (furusato) hay được viết bằng kanji với hai chữ cố hương hoặc cố lý, tùy vào bản mình tìm được trên mạng.
や (ya) theo Jisho.org là từ đệm ngắt quãng hay dùng trong hài cú, liên ca,...
茨の花 (ibara no hana) (bụi) hoa gai, nhiều trang tiếng Nhật có chú thích ibara là bara (hoa hồng).

Và mình dịch là
Quê cũ về đây
mấy bụi hoa gai
cũng xòe chắn lối

Mình thích cả hai bản. Bản nghi là bị chế ở trên cũng rất hay, nhưng nói thật nó không hợp kiểu haiku lắm. 

Nói thêm, bài này từ tập Thất phiên Nhật ký của Issa.

Hình là con đường mòn trên đồi trong chuyến đi với chú Olivier năm 2012, ở gần Dorset, người trong hình là chú Olivier. Cũng đã hai năm rồi, không gặp lại chú Olivier nữa.

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Tempest



Có một bận tôi thấy người ta gặt lúa trên đồng. Từ đằng phía Nam cơn bão đang chuyển đến. Tôi nhắm mắt lại và thấy Umbreon nói khẽ: hãy gặt cho sớm để còn về tránh bão. Tôi hỏi, nhưng tôi có gặt gì đâu. Tôi chỉ đang đứng trên triền cỏ, phóng mắt nhìn về phía cơn bão. Những người nông dân vẫn từ tốn gặt lúa, một người ngước lên nhìn tôi và hô váng: Này, hãy xuống đây gặt phụ chúng tôi.

Tôi tần ngần một hồi rồi cởi dép và xắn quần bắt đầu lội xuống ruộng. Vừa đặt chân xuống, người nông dân ban nãy quay người lại và bảo ý ông ấy là hãy sang phụ bên ruộng lúa mì, bên đấy đang thiếu người. Tôi quay người lại thì thấy đằng sau mình là một ruộng lúa mì vàng rực. Cảnh tượng gì thế này, tôi hỏi bâng quơ, làm thế nào mà cạnh bên ruộng lúa nước lại có ruộng lúa mì. Espeon khẽ đáp, thôi thì cứ xuống mà phụ họ gặt thôi.

- Phải gặt mau lên, kẻo trời mưa mất - ai đó nói.

Tôi đứng giữa ruộng lúa mì khô, chân quần vẫn xắn cao. Có người tới đưa cho tôi một lưỡi liềm. Tôi phải làm gì đây?

- Cứ vung lên mà gặt - Espeon thở nhẹ - rồi xếp các cuống rạ theo hàng. Hãy làm liền tay.

Trong lúc cúi người gặt những thân ra trĩu vàng bông lúa, đầu tôi chợt chạy những câu thơ của Tagore:

Tôi chạy như con xạ hươu trong bóng tối rừng cây, say vui vì hương thơm ngào ngạt của chính mình. Đêm nay là đêm giữa mùa Xuân; gió này là gió từ phương Nam thổi lại.

Tagore cất lên những lời như kia một trăm năm trước, vào một ngày nắng đẹp, một ngày tối trời hay một ngày im lìm trước cơn bão chuyển?

Tôi cứ thế mà gặt, lưng xoay ngược với hướng cơn bão. Tôi nhớ lần trước, cũng một lần có bão, tôi đi trên con đường vắng, tay cầm một bọc cá. Gió thổi ào ào, gió thốc vào mặt. Tôi nghe tiếng những con cá ư ử hát trong tiếng gió rít. Lũ cá hát những bài hát có giai điệu rất ngân rất vang, nhưng rất nhẹ. Những rung động thanh âm đọng lại vi tế trên vành tai tôi, lùa vào trong trí não. Đó là cơn bão lần trước, cơn bão gắn liền với bài hát của lũ cá.

Còn cơn bão này, nó vẫn đang ở sau lưng. Khi bão tới, tôi sẽ chạy chăng? Chạy như con hươu xạ chăng, chạy vui say trong mùi xạ hương ngút ngàn của mình chăng? Hay tốt hơn tôi nên đứng yên mà hát bài ca của lũ cá? Này thì nước cứ rơi, này thì gió cứ lên, này thì thời gian cứ trôi. Ùm ùm ùm ùm. Tinh a linh a tinh.

Tôi nhìn thấy Espeon bên cạnh. Trời càng lúc càng chuyển tối. Tôi nghe tiếng Espeon thì thầm trong đầu, hỏi tôi có nhớ căn phòng tối có cửa sổ không, căn phòng ở giữa những điều thuần khiết. Tôi bảo tôi vẫn nhớ chứ, nhưng tại sao lại hỏi tôi về chuyện đó lúc này. Espeon thở nhẹ, vì hãy tưởng tượng mình trở lại vào căn phòng tối, điều sẽ rất có ích cho tôi lúc này.

Tôi gặt thêm vài cuống rạ nữa, rồi quay sang nói với Espeon, tưởng chừng như đây là lúc thích hợp nhất để nói với nó điều này: Này Espeon ơi, tôi bị mất khả năng diễn đạt rồi. Tôi không biết cách nói những điều phức tạp nữa. Hiện giờ tôi chỉ còn diễn tả cho người khác được những điều giản đơn mà thôi.

Thế thì đừng nói nữa. Cứ đứng vào bóng tối mà im lặng thôi. Như là Umbreon vậy.

Dứt lời, tôi chợt thấy mình như bị hút vào cơn bão. Bão đến rồi chăng? Nhưng đã gặt xong đâu.

Tôi nghe mọi thanh âm nhỏ dần. Tiếng những người nông dân. Tiếng mưa rơi, tiếng gió thổi, tiếng thời gian vút qua ngọn cây. Tôi chợt nghe mình ngân nga lời ca của lũ cá:

Bão cuốn qua đây
bão dữ bão dữ 
quét sạch đất này 
quét sạch thân này
Mới ngày nào may may cùng gió hạ
Ngỡ ra rằng trời trong thì gió cả
Ngoảnh mặt đi thì bão đã cấp kỳ
Vung tay luống nghĩ chi chi
Nghìn nghìn tơ sợi
Trùng trùng mây khói
...

Rồi Tagore chen lời lũ cá:

Tôi nhớ một ngày khi còn thơ ấu đi thả thuyền giấy trong lạch nước. Ngày đó tháng bảy mưa sụt sùi; chỉ có một mình, song tôi sung sướng với trò chơi. Tôi thả chiếc thuyền giấy bồng bềnh trên lạch nước.
Bỗng dưng, mây phong ba kéo kín bầu trời; gió thổi mạnh từng cơn rồi mưa đổ ào như thác lũ. Nhiều lằn nước đục ngầu tràn tới làm suối dâng cao và nhận chìm con thuyền tôi thả.
Chua xót, tôi thầm nghĩ phong ba đến với ý định tàn ác chống lại và chỉ nhằm huỷ diệt hạnh phúc của riêng tôi.

Trong lặng im ồ ạt ào đến ở ngay khoảnh khắc tiếng thơ dứt lời, tôi ngửi thấy hương xạ.

Con hươu vẫn còn chạy trong đêm đen chăng?



________________
Hai bài của Tagore trong The Gardener, Đỗ Khánh Hoan dịch.

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

Bóng đè

Sáng nay mình bị bóng đè. Lần đầu tiên trải nghiệm hiện tượng này sau một thời gian dài không điều khiển được giấc mơ lucid dream làm cho mình thấy rất thú vị.

Thời điểm bóng xuất hiện là lúc mình sắp tỉnh dậy. Đầu óc mình gần như tỉnh, khoảng 80%. Đột nhiên mình cảm thấy có cái gì rớt xuống đập và cọ vào chân. Mình tưởng thằng em mình nằm trên giường lăn xuống đất nên cố mở mắt chồm dậy, nhưng không chồm dậy được. Mình vẫn thoáng thấy chân thằng em mình còn ở trên giường. Vậy thì cái gì ở dưới đất đang cọ vào chân mình? Khoảng 1 phút sau, cái gì đó bắt đầu đạp vào người mình. Nó đạp không đau, nhưng có vài cú cũng mạnh mạnh. Mới đầu mình kệ, nhưng tới mấy cú mạnh thì mình quyết tâm phải chồm dậy để xem nó là cái gì mà đạp mình vậy. Mình không chồm được, cũng không huơ tay được. Mở mồm ra la lên thì cũng không la được.

Tới lúc đó mình bắt đầu thấy ớn. Nhưng đột ngột, vì não mình đã tỉnh gần hết, mình nhớ ra rằng cái này là bóng đè thôi, chả có gì đâu. Thế là mình nằm im, và thở sâu. Sau vài đợt thở, mình huơ tay thử, vẫn chưa được. Cái bóng thôi không đạp nữa nhưng vẫn còn giữ tay giữ chân mình. Thế là mình nằm thở tiếp. Chừng gần 1 phút sau, mình huơ tay thử, lần này thì từ từ mình cử động được. Cái bóng thấy thế liền chuốn đi. Cơn bóng đè chấm dứt.

Sau đó mình chồm dậy, nhìn xung quanh, rõ ràng không có gì cả. Rồi mình tỉnh lại, thấy mình vẫn đang nằm ngửa, tay đặt lên ngực ở đúng cái tư thế mà cái bóng giữ yên không cho mình động đậy. Hoàn toàn tất cả những cử động cũng như suy nghĩ đều diễn ra trong não, mắt mình hoàn toàn nhắm trong suốt thời gian đó, không hề mở ra, mình cũng không chồm dậy lúc cái bóng biến đi.

Lần đầu tiên mình có một trải nghiệm mà qua đó mình cảm thấy mình có thể điều khiển được nỗi sợ tốt như vậy.

Hình: một cái tiểu tượng làm ở Nhật thời Minh Trị, bán sang châu Âu. Đây là hình con khỉ cầm một cành cây có một con chuồn chuồn nhỏ đậu ở đầu cành cây. Chụp ở bảo tàng Ashmolean, Oxford.