Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Né xuống đó má [tựa chôm của Cao Huân]

Năm nay tui không chơi PES (tui chơi FIFA) nhưng mà PES2014 có cho cái bài Nessun dorma vô làm nhạc nền. Bài này không phải lần đầu tiên được gắn với đá banh, vì theo trên mạng người ta nói hồi World Cup Italia '90, đài BBC bên Anh quốc đã từng dùng làm nhạc nền trước mỗi trận đấu rồi.

Nessun dorma nghĩa là Không ai được ngủ (Nessun là dạng nói tắt không có nguyên âm cuối của từ nessuno (không ai) trong tiếng Ý, dorma là thể mệnh lệnh ngôi ba số ít của dormire (ngủ)). Nếu mà bài này phát mùa World Cup ở VN, chắc thiệt là hợp, nhưng có vấn đề là không nhiều người biết tiếng Ý, mà chắc cũng chẳng bao nhiêu người hiểu được cái thâm ý sâu xa đó hehe. Thật ra, đây là một aria của Puccini nằm trong tuồng opera Turandot. Đây là bài do chàng hoàng tử Calaf hát đoạn đầu cảnh cuối của vở. Tuồng này bối cảnh ở Peking, thời Mông Cổ, kể về công chúa Turandot trái tính trái nết, tàn nhẫn lạnh lùng này kia, nhưng được cái xinh, nên có nhiều người tới cầu hôn. Ai tới cầu hôn sẽ phải trả lời 3 câu đố, nếu trả lời được thì sẽ được cưới, không thì sẽ bị chặt đầu. Chàng hoàng tử Calaf này do yêu cô công chúa (mới vừa dòm thấy yêu luôn, đúng là tuồng cải lương) nên quyết định cầu hôn luôn và trả lời đúng hết 3 câu đố. Nhưng không chúa lật kèo và không chịu cưới. Calaf mới thỏa hiệp bằng cách cho công chúa 1 đêm để đoán được tên của mình (tên của Calaf) là gì. Nếu công chúa đoán được thì Calaf sẽ chịu chết, còn không thì công chúa phải cưới Calaf.

Công chúa vì vậy mới bắt tất cả mọi người trong cung cùng thức với mình (Không ai được ngủ) để cùng tìm tên của Calaf. Nếu tới bình minh không tìm ra được tên Calaf, tất cả người hầu sẽ bị xử tử.



Tui sẽ dịch bài hát ở dưới. Tui dịch (có kèm bình luận) từ cả nguyên gốc tiếng Ý và bản dịch tiếng Anh (dĩ nhiên là tui không biết tiếng Ý, nhưng ngồi tra từ điển và ngữ pháp trên google không phải là chuyện quá khó).



Nessun dorma! Nessun dorma! 
Không ai được ngủ! Không ai được ngủ!

Tu pure, o Principessa, nella tua fredda stanza, guardi le stelle che tremano d'amore, e di speranza!
Cả nàng cũng thế, Công Chúa điện hạ, trong phòng riêng lạnh lẽo của nàng, ngắm nhìn tinh tú trên trời run lên vì tình yêu, và cả vì hy vọng!

Ma il mio mistero è chiuso in me; il nome mio nessun saprà! No, No! Sulla tua bocca lo dirò quando la luce splenderà!
Nhưng còn bí mật của ta thì được ta cất giấu; tên ta sẽ không ai được biết! Không, không! (Chỉ tới) khi ánh ngày chiếu rạng, trên môi nàng, ta sẽ nói ra (tên ta).

Ed il mio bacio scioglierà il silenzio che ti fa mia!
Và nụ hôn của ta sẽ làm tan biến cái tịch tĩnh đó, khiến nàng trở thành của ta!

Chorus: Il nome suo nessun saprà, E noi dovrem, ahimè, morir, morir!
Dàn đồng ca những người hầu phía sau: Tên của chàng sẽ không ai biết, Và chúng ta sẽ phải, than ôi, sẽ phải chết thôi!

Dilegua, o notte! Tramontate, stelle! Tramontate, stelle! All'alba vincerò! Vincerò! Vincerò!
Đây là câu cuối, hoành tráng nhứt: Tan biến đi, hỡi đêm tối! Lặn đi, lặn đi, này sao trời kia! Tới bình minh, ta sẽ chiến thắng! Ta sẽ chiến thắng! Ta sẽ chiến thắng!


Bỏ qua nội dung nhảm nhí của vở tuồng cũng như bi kịch hôn nhân diễn ra sau đó (cưới người muốn giết mình về xong làm gì? - mặc dù khúc cuối công chúa Turandot có vẻ giả bộ yêu hoàng tử), thì chúng ta cùng thấy được tài năng viết aria rất hay của Puccini và sự khôn lanh của Konami khi cho bài này vô làm nhạc nền PES2014. Chơi game đá banh mà cứ ta sẽ chiến thắng, ta sẽ chiến thắng, chẳng phải hào hứng lắm ru?

Mời mọi người cùng nghe Pavarotti hát (bản trong PES2014 chắc chắn không phải giọng Pavarotti, nghe là biết luôn):

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Akai Kutsu 赤い靴





Giày đỏ - Akai kutsu
Sáng tác: lời thơ Ujō Noguchi, nhạc Nagayo Motōri.
Trình bày: Yuki Saori và Yasuda Sachiko


赤い靴 はいてた 女の子
Akai kutsu haiteta onna no ko
Cô bé mang giày đỏ
異人さんに つれられて 行っちゃった
Ijin-san ni tsurerarete ittyatta 
được một người ngoại quốc đưa đi


横浜の 埠頭から 船に乗って
Yokohama no hatoba kara funeninotte 
Trên con tàu từ cảng Yokohama
異人さんに つれられて 行っちゃった
Ijin-san ni tsurerarete ittyatta
cô bé được một người ngoại quốc đưa đi


今では 青い目に なっちゃって
Imade wa aoi me ni nattyatte
Giờ đây mắt cô chắc đã xanh biếc
異人さんの お国に いるんだろう 
Ijin-san no okuni ni irundarou
(khi) sống trên đất nước của người ngoại quốc


赤い靴 見るたび 考える
Akai kutsu mirutabi kangaeru
Mỗi lần (mỗi độ) trông thấy giày đỏ, tôi lại nghĩ về em
異人さんに 逢(あ)うたび 考える
Ijin-san ni autabi kangaeru
Mỗi độ gặp người ngoại quốc là tôi lại nghĩ về cô bé mang giày đỏ.

___________________________


Có hai truyện ngắn Đô rê mon nói về nỗi hoài niệm gây ấn tượng đối với tôi là truyện "Cô bé mang giày đỏ" và truyện "Cô gái giống hoa bách hợp". Truyện hoa bách hợp thì là câu chuyện về bố của Nôbita, nói về việc ký ức là một lời nói xạo hoa mỹ, truyện này không liên quan ở đây, ngứa miệng nói ra chơi thôi, hehe. 


Truyện "Cô bé mang giày đỏ" là ký ức của Nôbita về cô bạn tuổi thơ mang đôi giày đỏ, rồi một ngày cô bé đột ngột cùng gia đình đi sang Mỹ định cư, Nôbita không còn gặp lại nữa. Tình hình có vẻ giống trong lời bài hát.


Bản của Yuki Saori và Yasuda Sachiko hát ở trên là một bản rất giàu cảm xúc. Mỗi một khổ thơ đều có hai nhân vật: cô bé đi giày đỏ và người ngoại quốc được gọi bằng Ijin-san. Ijin (dị-nhân = người lạ, người khác; dĩ nhiên ở đây không nói tới mấy vụ X-men em của ngày hôm qua) là từ cổ trong tiếng Nhật từ khoảng cuối thời Mạc phủ tới thời Minh Trị dùng để chỉ người ngoại quốc. Trong bản của Yuki Saori và Yasuda Sachiko này, mỗi khổ thơ, tôi nghe được hai dòng cảm xúc đi song song nhau. Dòng thứ nhất ở câu đầu, khi nói về cô bé mang giày đỏ - là một cảm xúc nuối tiếc và nhớ thương. Dòng thứ hai ở câu sau, đặc biệt nhấn mạnh ở ba chữ I-jin-san đầu mỗi câu, dường mang ý trách móc cái ông I-jin-san tại sao lại mang cô bé giày đỏ đi mất.


Bài hát này được sáng tác năm 1922, trước khi thế chiến 2 nổ ra. 

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Samidare

   五月雨  や    蠶        煩ふ     桑   の   畑
Samidare ya kaiko wazurau kuwa no hata
-- Bashô --

Tháng năm mưa dầm
Con tằm bệnh
Nương dâu
-- Bashô -- 





Sa-midare là tên riêng để chỉ những cơn mưa vào tháng Sa (tháng Sa-tsuki, từ tsuki nghĩa là trăng-tháng rồi), vốn là tháng thứ năm trong âm lịch cũ của Nhật Bản (sau Minh Trị thì dẹp lịch âm). Samidare vì vậy là quý ngữ trong haiku để chỉ mùa đầu mùa hè.

Mưa Samidare là mưa đầu mùa hè, là những cơn mưa dài, và dai dẳng. Khi chuyển ngữ thơ haiku có samidare (Bashô có một đống các bài khác bắt đầu bằng samidare), các sách tiếng Anh thường dịch là "constant rain" - mưa dầm, hay "first summer rain" - mưa đầu hạ, ...

Ở Việt Nam, mùa mưa kéo dài từ khoảng tháng 5 tới tháng 10 âm lịch. Nhưng chúng ta không có cái tên đặc biệt nào cho mưa đầu mùa hạ (đầu mùa mưa) như samidare. Dĩ nhiên tôi có thể bắt chước bản dịch tiếng Anh và dịch là "Mưa dầm đầu hạ", thay vì "Tháng năm mưa dầm", như thế có vẻ cũng hay hơn:

Mưa dầm đầu hạ
Con tằm bệnh
Nương dâu
--Bashô--


Ở Việt Nam, có mưa đầu tháng Bảy gọi là mưa Ngâu, gắn với truyền thuyết đêm Thất tịch (7/7 âm lịch), Ngưu lang - Chức nữ gặp nhau khóc lóc trên trời làm mưa rớt xuống. Đó là tên riêng duy nhất dành cho mưa trong tiếng Việt mà tôi nhớ được ở thời điểm này. Nếu đi hỏi nông dân, chắc họ rành hơn tôi. Ở Nhật thì lễ Thất tịch Tanabata (bây giờ diễn ra vào đêm 7/7 Dương lịch) không có mưa nhiều (đọc trên mạng thấy người ta thường cầu cho không mưa vào đêm này), chắc thế nên không thấy có tên riêng hay quý ngữ cho mưa vào dịp này.


Tôi nghĩ linh tinh, thế là dùng chữ mưa ngâu để dịch, dùng như vậy hóa ra lại là hay nhất, nhưng nó làm lệch bản gốc mất.

Tháng bảy mưa ngâu
Con tằm bệnh
Nương dâu
--(dựa theo) Bashô --


___________________________

Ngoài ra còn một chữ nữa, đó là chữ hat畑. Ai học kanji theo cuốn Basic Kanji Book chắc đều gặp chữ này ngay mấy bài đầu. Chữ này là kokuji (quốc tự), nghĩa là chữ cho người Nhật chế ra chứ không được người Hán xài, do đó không có âm Hán (dĩ nhiên cũng không có âm Hán Việt). 

Chữ hata vốn là chữ điền 田 có thêm bộ Hỏa. Người Tàu nửa trên sông Dương Tử trồng lúa mì, nửa dưới trồng lúa nước, dùng chữ điền để chỉ cả ruộng lúa mì lẫn ruộng lúa nước. Người Nhật trồng lúa nước, nên chữ điền 田 nó mang nghĩa khá ướt (kiểu chữ ruộng trong tiếng Việt). Khi thêm bộ hỏa vào, chữ hata 畑 mang nghĩa khô hơn, và để chỉ nơi trồng cây trái khô, không ngập nước. Tương tự trong tiếng Việt có chữ đồng hoặc chữ nương, hoặc chữ rẫy mang nghĩa khá khô ráo hơn chữ ruộng, mặc dầu người ta vẫn kêu đồng lúa nhưng chữ đồng trong này nó chỉ khoảng không gian nhiều hơn là chỉ vật thể.

Và cũng giống tiếng Việt có các từ ghép ruộng đồng, ruộng nương, ruộng rẫy (có từ này nha, google đê) tiếng Nhật cũng có từ ghép 田畑, đọc là tahata, tahatake, hoặc đọc chữ điền bằng âm Hán denbata.

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

Furusato



ふるさと や 寄る も 障る も 茨の花
小林 一茶

Furusato ya yoru mo sawaru mo ibara no hana
Kobayashi Issa

Sáng nay chị Bò tag mình vô một bức hình chị Bò chụp một khu vườn đẹp, kèm với một bài thơ haiku của Issa do ông Thái Bá Tân dịch.

Tôi chạm nhẹ nhàng
vào mọi cái
Thế mà luôn bị
gai châm.

Thú thật là mình rất thích cái phong điệu của bài haiku này. Nhưng mình ngờ là ông Thái Bá Tân dịch từ bài gốc ở trên của Issa mà mình tìm được trên mạng. Nếu là vậy thực thì bản dịch trên dịch rất tầm bậy tầm bạ. Mà cũng không phải chuyện bất ngờ vì thơ haiku ông Thái Bá Tân dịch trước giờ đã rất tầm bậy rồi.

Một vài chữ:
ふるさと (furusato) hay được viết bằng kanji với hai chữ cố hương hoặc cố lý, tùy vào bản mình tìm được trên mạng.
や (ya) theo Jisho.org là từ đệm ngắt quãng hay dùng trong hài cú, liên ca,...
茨の花 (ibara no hana) (bụi) hoa gai, nhiều trang tiếng Nhật có chú thích ibara là bara (hoa hồng).

Và mình dịch là
Quê cũ về đây
mấy bụi hoa gai
cũng xòe chắn lối

Mình thích cả hai bản. Bản nghi là bị chế ở trên cũng rất hay, nhưng nói thật nó không hợp kiểu haiku lắm. 

Nói thêm, bài này từ tập Thất phiên Nhật ký của Issa.

Hình là con đường mòn trên đồi trong chuyến đi với chú Olivier năm 2012, ở gần Dorset, người trong hình là chú Olivier. Cũng đã hai năm rồi, không gặp lại chú Olivier nữa.

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Tempest



Có một bận tôi thấy người ta gặt lúa trên đồng. Từ đằng phía Nam cơn bão đang chuyển đến. Tôi nhắm mắt lại và thấy Umbreon nói khẽ: hãy gặt cho sớm để còn về tránh bão. Tôi hỏi, nhưng tôi có gặt gì đâu. Tôi chỉ đang đứng trên triền cỏ, phóng mắt nhìn về phía cơn bão. Những người nông dân vẫn từ tốn gặt lúa, một người ngước lên nhìn tôi và hô váng: Này, hãy xuống đây gặt phụ chúng tôi.

Tôi tần ngần một hồi rồi cởi dép và xắn quần bắt đầu lội xuống ruộng. Vừa đặt chân xuống, người nông dân ban nãy quay người lại và bảo ý ông ấy là hãy sang phụ bên ruộng lúa mì, bên đấy đang thiếu người. Tôi quay người lại thì thấy đằng sau mình là một ruộng lúa mì vàng rực. Cảnh tượng gì thế này, tôi hỏi bâng quơ, làm thế nào mà cạnh bên ruộng lúa nước lại có ruộng lúa mì. Espeon khẽ đáp, thôi thì cứ xuống mà phụ họ gặt thôi.

- Phải gặt mau lên, kẻo trời mưa mất - ai đó nói.

Tôi đứng giữa ruộng lúa mì khô, chân quần vẫn xắn cao. Có người tới đưa cho tôi một lưỡi liềm. Tôi phải làm gì đây?

- Cứ vung lên mà gặt - Espeon thở nhẹ - rồi xếp các cuống rạ theo hàng. Hãy làm liền tay.

Trong lúc cúi người gặt những thân ra trĩu vàng bông lúa, đầu tôi chợt chạy những câu thơ của Tagore:

Tôi chạy như con xạ hươu trong bóng tối rừng cây, say vui vì hương thơm ngào ngạt của chính mình. Đêm nay là đêm giữa mùa Xuân; gió này là gió từ phương Nam thổi lại.

Tagore cất lên những lời như kia một trăm năm trước, vào một ngày nắng đẹp, một ngày tối trời hay một ngày im lìm trước cơn bão chuyển?

Tôi cứ thế mà gặt, lưng xoay ngược với hướng cơn bão. Tôi nhớ lần trước, cũng một lần có bão, tôi đi trên con đường vắng, tay cầm một bọc cá. Gió thổi ào ào, gió thốc vào mặt. Tôi nghe tiếng những con cá ư ử hát trong tiếng gió rít. Lũ cá hát những bài hát có giai điệu rất ngân rất vang, nhưng rất nhẹ. Những rung động thanh âm đọng lại vi tế trên vành tai tôi, lùa vào trong trí não. Đó là cơn bão lần trước, cơn bão gắn liền với bài hát của lũ cá.

Còn cơn bão này, nó vẫn đang ở sau lưng. Khi bão tới, tôi sẽ chạy chăng? Chạy như con hươu xạ chăng, chạy vui say trong mùi xạ hương ngút ngàn của mình chăng? Hay tốt hơn tôi nên đứng yên mà hát bài ca của lũ cá? Này thì nước cứ rơi, này thì gió cứ lên, này thì thời gian cứ trôi. Ùm ùm ùm ùm. Tinh a linh a tinh.

Tôi nhìn thấy Espeon bên cạnh. Trời càng lúc càng chuyển tối. Tôi nghe tiếng Espeon thì thầm trong đầu, hỏi tôi có nhớ căn phòng tối có cửa sổ không, căn phòng ở giữa những điều thuần khiết. Tôi bảo tôi vẫn nhớ chứ, nhưng tại sao lại hỏi tôi về chuyện đó lúc này. Espeon thở nhẹ, vì hãy tưởng tượng mình trở lại vào căn phòng tối, điều sẽ rất có ích cho tôi lúc này.

Tôi gặt thêm vài cuống rạ nữa, rồi quay sang nói với Espeon, tưởng chừng như đây là lúc thích hợp nhất để nói với nó điều này: Này Espeon ơi, tôi bị mất khả năng diễn đạt rồi. Tôi không biết cách nói những điều phức tạp nữa. Hiện giờ tôi chỉ còn diễn tả cho người khác được những điều giản đơn mà thôi.

Thế thì đừng nói nữa. Cứ đứng vào bóng tối mà im lặng thôi. Như là Umbreon vậy.

Dứt lời, tôi chợt thấy mình như bị hút vào cơn bão. Bão đến rồi chăng? Nhưng đã gặt xong đâu.

Tôi nghe mọi thanh âm nhỏ dần. Tiếng những người nông dân. Tiếng mưa rơi, tiếng gió thổi, tiếng thời gian vút qua ngọn cây. Tôi chợt nghe mình ngân nga lời ca của lũ cá:

Bão cuốn qua đây
bão dữ bão dữ 
quét sạch đất này 
quét sạch thân này
Mới ngày nào may may cùng gió hạ
Ngỡ ra rằng trời trong thì gió cả
Ngoảnh mặt đi thì bão đã cấp kỳ
Vung tay luống nghĩ chi chi
Nghìn nghìn tơ sợi
Trùng trùng mây khói
...

Rồi Tagore chen lời lũ cá:

Tôi nhớ một ngày khi còn thơ ấu đi thả thuyền giấy trong lạch nước. Ngày đó tháng bảy mưa sụt sùi; chỉ có một mình, song tôi sung sướng với trò chơi. Tôi thả chiếc thuyền giấy bồng bềnh trên lạch nước.
Bỗng dưng, mây phong ba kéo kín bầu trời; gió thổi mạnh từng cơn rồi mưa đổ ào như thác lũ. Nhiều lằn nước đục ngầu tràn tới làm suối dâng cao và nhận chìm con thuyền tôi thả.
Chua xót, tôi thầm nghĩ phong ba đến với ý định tàn ác chống lại và chỉ nhằm huỷ diệt hạnh phúc của riêng tôi.

Trong lặng im ồ ạt ào đến ở ngay khoảnh khắc tiếng thơ dứt lời, tôi ngửi thấy hương xạ.

Con hươu vẫn còn chạy trong đêm đen chăng?



________________
Hai bài của Tagore trong The Gardener, Đỗ Khánh Hoan dịch.

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

Bóng đè

Sáng nay mình bị bóng đè. Lần đầu tiên trải nghiệm hiện tượng này sau một thời gian dài không điều khiển được giấc mơ lucid dream làm cho mình thấy rất thú vị.

Thời điểm bóng xuất hiện là lúc mình sắp tỉnh dậy. Đầu óc mình gần như tỉnh, khoảng 80%. Đột nhiên mình cảm thấy có cái gì rớt xuống đập và cọ vào chân. Mình tưởng thằng em mình nằm trên giường lăn xuống đất nên cố mở mắt chồm dậy, nhưng không chồm dậy được. Mình vẫn thoáng thấy chân thằng em mình còn ở trên giường. Vậy thì cái gì ở dưới đất đang cọ vào chân mình? Khoảng 1 phút sau, cái gì đó bắt đầu đạp vào người mình. Nó đạp không đau, nhưng có vài cú cũng mạnh mạnh. Mới đầu mình kệ, nhưng tới mấy cú mạnh thì mình quyết tâm phải chồm dậy để xem nó là cái gì mà đạp mình vậy. Mình không chồm được, cũng không huơ tay được. Mở mồm ra la lên thì cũng không la được.

Tới lúc đó mình bắt đầu thấy ớn. Nhưng đột ngột, vì não mình đã tỉnh gần hết, mình nhớ ra rằng cái này là bóng đè thôi, chả có gì đâu. Thế là mình nằm im, và thở sâu. Sau vài đợt thở, mình huơ tay thử, vẫn chưa được. Cái bóng thôi không đạp nữa nhưng vẫn còn giữ tay giữ chân mình. Thế là mình nằm thở tiếp. Chừng gần 1 phút sau, mình huơ tay thử, lần này thì từ từ mình cử động được. Cái bóng thấy thế liền chuốn đi. Cơn bóng đè chấm dứt.

Sau đó mình chồm dậy, nhìn xung quanh, rõ ràng không có gì cả. Rồi mình tỉnh lại, thấy mình vẫn đang nằm ngửa, tay đặt lên ngực ở đúng cái tư thế mà cái bóng giữ yên không cho mình động đậy. Hoàn toàn tất cả những cử động cũng như suy nghĩ đều diễn ra trong não, mắt mình hoàn toàn nhắm trong suốt thời gian đó, không hề mở ra, mình cũng không chồm dậy lúc cái bóng biến đi.

Lần đầu tiên mình có một trải nghiệm mà qua đó mình cảm thấy mình có thể điều khiển được nỗi sợ tốt như vậy.

Hình: một cái tiểu tượng làm ở Nhật thời Minh Trị, bán sang châu Âu. Đây là hình con khỉ cầm một cành cây có một con chuồn chuồn nhỏ đậu ở đầu cành cây. Chụp ở bảo tàng Ashmolean, Oxford.

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Người đưa tiễn

Tôi xem lại phim Người đưa tiễn (Okuribito 送り人 - hay tên chính thức dùng toàn hiragana おくりびと), mà xúc động hơn rất nhiều so với lần xem đầu tiên 4 năm trước. Không, có lẽ tôi quên mất cảm giác của mình bốn năm trước mất rồi. Làm sao mà tôi dám nói chắc được tôi trải qua những gì tận bốn năm trước.

Anh Daigo là nhạc công cello thất nghiệp, bán cây cello đắt tiền, cùng vợ dọn về quê sống. Anh đọc trên báo thấy mẩu quảng cáo, lương cao, không cần kinh nghiệm, đọc tưởng là một công ty lữ hành du lịch nào đó tên là NK. Đến chỗ công ty xin việc, anh được nhận luôn, rồi mới biết đó là công ty khâm liệm. NK là chữ viết tắt của Noukan (Nạp quan). Ông chủ trả anh luôn tiền lương ngày đầu tiên, bảo rằng anh có cái duyên, hãy cứ thử xem sao. Thế rồi Daigo bắt đầu bằng việc đi theo phụ giúp và quan sát ông chủ làm công việc liệm xác.

Công việc đầu tiên của anh là một ca khó: một cụ già neo đơn chết trong căn nhà đã hai tuần, bốc mùi lên rồi. Sau công việc đầu tiên này, về nhà nhìn thấy đĩa thịt gà sống mà anh Daigo chỉ muốn nôn ọe. Sau đó là một cảnh mà tôi cho là rất hay và rất thấm, đó là cảnh mà anh nắm chặt tay vợ mình và ngửi, rồi ôm chầm lấy vợ. Anh chỉ muốn tìm lại cái mùi sống, cái sinh khí quen thuộc sau cú sốc nghề nghiệp đầu tiên. Dĩ nhiên là lúc này vợ anh vẫn chưa biết anh làm gì ở cái công ty mới đó.

Daigo tiếp tục công việc với ông chủ. Ở lần thứ hai, Daigo và ông chủ đến trễ 5 phút, bị người chồng mất vợ càu nhàu. Ông chồng trong cơn đau buồn, tỏ ý coi thường hai "người đưa tiễn", bảo rằng loại người "sống nhờ vào người khác chết". Chính ở lần làm việc thứ hai này mà người xem được chứng kiến công việc của ông chủ và Daigo diễn ra như thế nào. Công việc của họ là nút các lỗ của người quá cố lại, thay y phục, rồi trang điểm cho người quá cố trước khi nhập quan. Ông chủ làm thật tỉ mỉ trong khi Daigo chủ yếu ngồi xem và phụ giúp ông. Đoạn này cũng là một đoạn vô cùng cảm động. Người chồng mất vợ ngồi thừ người ra nhìn vợ mình được trang điểm lại thật đẹp, y như chỉ đang ngủ, không hiểu câu ông chủ hỏi rằng nhà có cây son môi vợ ông hay tô không. Cuối cùng, khi hai người ra về, người chồng đến xin lỗi, và cảm ơn, vì hai người đã làm cho ngày hôm nay trở thành ngày vợ mình đẹp nhất.

Chuyện chết chóc không phải là một chuyện dễ nói. Khi phim ra mắt tại Nhật, đạo diễn Takita Yōjirō cũng đã lo ngại không biết người xem phim sẽ phản ứng thế nào. Nhưng sau đó phim được Oscar phim nước ngoài xuất sắc của năm. Trong phim, khi vợ Daigo và bạn bè phát hiện anh làm nghề "đưa tiễn", họ cũng đều phản ứng dữ dội. Vợ anh - cô vợ dễ thương, yêu anh, vâng lời - đã phản ứng bằng cách bỏ về nhà bố mẹ. Nhưng Daigo vẫn làm công việc của mình, có lẽ vì anh cảm nhận được gì đó từ công việc này. Qua từng lần đi khâm liệm, Daigo chứng kiến từng người khác nhau qua đời, người già, trẻ em, thanh niên..., từng gia cảnh khác nhau, nơi thì đau buồn, tiếc nuối, chỗ thì tràn ngập lòng biết ơn người qua đời.

Tôi mê nhạc của Joe Hisaishi làm cho phim này. Tiếng nhạc cello của Okuribito nằm trong ipod của tôi từ đó tới nay, cùng tôi đi qua một quãng đời, giờ được nghe lại, tôi xúc động vô cùng. Nhạc không chỉ còn gắn với phim mà đã gắn với ký ức của tôi đi qua bao nhiêu năm, thậm chí nếu tôi có quên những ký ức đó là gì thì vẫn còn lại những rung cảm ghi vào não, mà khi nghe lại tiếng nhạc, có gì đó lờ mờ lại trở lại, mông lung như sương như khói. Những ký ức đó là vui hay buồn, tôi quên mất rồi, tôi chỉ cảm thấy thời gian của đời mình trải ra một lần nữa, huyền hoặc và riêng tây như một giấc mơ.

(Ngày trước có lần tôi nghĩ về những giấc mơ của mình như thế này:

Những giấc mơ kỳ lạ của tôi, tôi rất muốn có thể chia sẻ cùng ai đó. Tôi muốn được dẫn ai đó vào giấc mơ của mình, để chỉ cho họ xem, à, cái này này, tớ nghĩ nó nghĩa là thế này, thế kia, cái kia, hình như tớ mơ thấy nó mấy lần rồi, trông rất quen quen,... Tôi muốn cho họ thấy những thứ mà đáng lẽ chỉ có tôi được thấy.

Nhưng tôi dần nhận ra rằng, trong cuộc đời này, có nhiều thứ chúng ta phải tự làm một mình, làm trong nỗi cô đơn không phải do tự nguyện, nỗi cô đơn gắn chặt với chúng ta. Mơ là một trong những chuyện như vậy. Dù có bao nhiêu người đi bên cạnh, chúng ta vẫn phải tự lê bước  trên con đường cuộc đời mình, bằng chính đôi chân của mình. Dù gì, chúng ta vẫn phải đi một mình. Một mình.)



Bản Okuribito của Joe Hisaishi sáng tác, trong đoạn này có cảnh tờ sheet nhạc có ghi tựa tiếng Anh là A wayfarer.

Phim có nói về người cha của Daigo, ông theo người tình bỏ đi khi anh còn nhỏ. Ký ức của anh về cha là một người đàn ông không rõ mặt, và anh giận ông. Anh chỉ nhớ ông là người cho anh học cello lúc anh còn bé, và là người dạy cho anh trò lá thư bằng đá - hãy tặng một viên đá cho người mình yêu thương, người được tặng sẽ cảm nhận hòn đá, sần hay nhẵn, to hay nhỏ, màu sáng hay tối, mà từ đó lại cảm nhận được điều mà người kia muốn gửi cho mình là gì.

Cuối phim, cuối cùng Daigo vứt bỏ được cơn giận để mà đến nhìn mặt cha lần cuối - ông vừa qua đời ở một thành phố khác. Nhìn hai nhân viên nhà tang lễ định khuân xác cha mình bỏ vào quan tài, Daigo ngăn lại, và anh tự tay liệm cho cha mình, tự tay tiễn ông đi. Rồi anh phát hiện tay cha đang nắm chặt hòn đá ngày xưa lúc nhỏ anh trao cho cha mình. Hòn đá cuội trắng, nhỏ, và nhẵn. Cha đưa cho anh hòn đá tối, to và sần. Giờ khi chết, cha trao lại cho anh hòn đá ngày xưa. Hòn đá trắng và nhẵn, giống một lời xin lỗi muộn ông gửi tới đứa con. Daigo cuối cùng tới đây mới nhận ra người nằm trước mặt chính là cha mình, bóng hình của ông trong ký ức anh giờ đã hiện rõ khuôn mặt. Anh áp hòn cuội trắng lên bụng vợ mình, đang mang đứa con của anh, như một kiểu trao truyền lại ký ức.

Xem phim để thấy rằng cái chết thật ra chỉ là một việc bình thường. Chúng ta tiếp cận với cái chết hằng ngày. Phải có cái chết đi để cái khác sống tiếp. Động vật, cỏ cây, thậm chí là các tế bào của chúng ta chết từng khoảnh khắc. Nỗi đau buồn khi người thân yêu từ giã mình mà biến mất là có thật, thậm chí có thể còn là một nỗi sợ thường trực. Thế nhưng hay là nghĩ về cái chết như một chuyện bình thường, như hít vào, như thở ra, như điều chúng ta đối diện hằng ngày, để mà trân trọng cái sống, yêu quý những gì hiện diện xung quanh, những gì mình ăn vào, những gì mình thải ra, những gì chết đi để nuôi sống mình, yêu thương tất cả để từ từ nhận ra rằng thật ra chúng ta chỉ là một.

Dàn diễn viên của phim ai cũng dễ thương, tôi phải nói như vậy. Thỉnh thoảng tôi phải xem một phim như thế này, sau một thời kỳ khô hạn, nó giống như một liều thuốc cho tâm hồn tôi, bón vào cho tươi tốt trở lại.