Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.

Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012

Buddhism: A very short introduction

Tôi khoái cuốn "Buddhism: A very short introduction" (dịch bừa là Phật giáo: Một bài vỡ lòng rất ngắn) của Damien Keown thứ nhất là vì nó rất dễ đọc. Đây là cuốn đầu tiên tôi đọc trong bộ "A very short introduction" của nhà xuất bản Oxford mặc dù đã ngắm nghía từ rất lâu. Damien Keown là giáo sư đạo đức học phật giáo ở đại học London. Trong thư viện trường tôi còn một cuốn bự của ổng hơn tên là "Nature of Buddhist Ethics" (Bản chất của đạo đức học Phật giáo). Văn phong của Keown trong cuốn Buddhism: A very short introduction rất dễ đọc, đúng tinh thần là một cuốn sách vỡ lòng.

Tôi khoái cuốn sách cũng bởi vì lí do thứ hai, điểm nhìn. Sách của Keown viết nhắm vào đối tượng là người đọc phương Tây. Cách ông đặt vấn đề và phân chia thứ tự các phần của sách rất trôi chảy và thú vị:

1. Phật giáo và con voi
2. Đức Phật
3. Nghiệp và tái sinh
4. Bốn sự thật cao quý (hay còn kêu là Tứ diệu đế)
5. Phật giáo Đại thừa
6. Phật giáo ở châu Á
7. Thiền
8. Đạo đức học
9. Phật giáo ở phương Tây

Chính vì hướng vào đối tượng là người đọc Tây phương, Keown thường đưa ra những so sánh và đối chiếu vài khái niệm trong Phật giáo với Kitô giáo trong suốt quyển sách. Ông bắt đầu cuốn sách bằng cách đặt vấn đề, phải chăng Phật giáo là một religion? Từ religion được dịch là tôn giáo nhưng có từ nguyên khá phức tạp, theo cách hiểu ở phương Tây thì nó mang nghĩa dính dáng tới God, nghĩa là 1 đấng sáng tạo tối cao. Ông đặt ra vấn đề, Phật giáo là một tôn giáo, một trường phái triết học, một lối sống hay một quy tắc luân lí? Xét về mặt thần học thì Phật giáo không có một đấng sáng tạo, xét kĩ cũng không phải một giáo phái vô thần (atheism - godless, phủ nhận sự tồn tại của 1 đấng sáng tạo). Có thể đưa ra một nhóm phân loại mới cho Phật giáo là một tôn giáo không dính dáng gì tới thần (non-theistic). Rồi Keown sau đó đưa ra lý thuyết của Ninian Smart về 7 phương diện của tôn giáo nhằm mục đích mở rộng cái định nghĩa chật hẹp của từ religion, nếu chỉ tập trung vào 1 phương diện của Phật giáo thì chẳng khác nào lặp lại sai lầm của những người mù khi sờ voi cả (Keown, 2000).

Một cách rất chậm rãi và có phần chi tiết, nhưng lại rất đơn giản, Keown trình bày cho độc giả phương Tây về vũ trụ quan Phật giáo. Tưởng là quen thuộc với mình nhưng thật sự mà nói, cái thế giới quan bắt nguồn từ văn hóa Ấn này có nhiều điểm khiến tôi cũng bất ngờ. Keown trình bày đơn giản mà đầy đủ về sáu đường luân hồi, về cách nhìn thế giới quay vòng khác với thế giới quan tuyến tính có một điểm mở đầu và một điểm kết thúc của phương Tây, với liên hệ và so sánh giữa kinh Khởi thế (Agganna Sutta) và sách Sáng Thế, và về nghiệp. Ông cũng có một phần viết từ điểm nhìn của phương Tây về thế giới quan Phật giáo, lý giải một vài thắc mắc về điểm lấn cấn nhất đối với người phương Tây - sự tái sinh, đồng thời đặt ra và nêu hướng giải quyết câu hỏi: có nhất thiết phải tin vào sáu đường, các thể loại thần ma, thiên đàng địa ngục để theo đạo Phật?

Điểm thú vị nhất của quyển sách là phần 5, khi Keown giới thiệu về Mahayana (Phật giáo Đại thừa), với hàng loạt những đối chiếu với Kitô giáo. Từ đầu sách, Keown đã phân rõ một điều, tuy trong thực tế chưa chắc đã rạch ròi như thế, rằng một người theo đạo Bụt chọn cho mình hoặc theo Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) hoặc theo Phật giáo Đại thừa, hệt như một người Kitô giáo phải chọn hoặc là Công giáo Roma hoặc là Kháng Cách. Ông cũng sớm khẳng định một vài tương đồng giữa Kitô giáo với Phật giáo Đại thừa, trường phái được xác định là cũng ra đời trước hoặc sau Công nguyên khoảng 100 năm, mặc dầu cũng sớm cảnh báo là không có một bằng chứng nào vững chắc về sự liên hệ giữa 2 tín ngưỡng này cả*. Sự tương đồng đó chính là việc cả 2 đều có khái niệm về đấng cứu thế, ở Kitô giáo rõ ràng là Đức Kitô, ở Mahayana là khái niệm về các bodhisattva (bồ tát). Bodhisattva là những đấng đã giác ngộ nhưng thề sẽ tái sinh tới vô hạn kiếp để cứu độ và đưa những người khác vào nirvana.

Keown đưa người đọc tiếp cận với những khái niệm mới được hình thành ở Phật giáo Đại thừa, những khái niệm biến Phật giáo thành một tôn giáo có một đấng nhân từ vô lượng tương tự Đức Chúa Cha dõi theo nhân quần dưới thế. Ông lý giải về khái niệm Tam thân, một khái niệm mới đem lại một cái nhìn mới về Phật học (Buddhology) và vũ trụ quan, rằng một vị Buddha (Bụt, Phật, Bậc thức tỉnh) có 3 thân: Pháp thân (thể tính vũ trụ của Phật, Keown bảo không khác mấy với cách mấy người Kitô giáo nói về Chúa trời như là Sự tuyệt đối hay Mục đich tối thượng), Báo thân (là thân của Phật trong các cõi tịnh độ, hiểu như là cõi Phật, cõi thanh tịnh, không phải là niết bàn nhưng là chốn có điều kiện tu tập tốt nhất để đạt nirvana; Bụt Amitabha thề là ngài sẽ cứu vớt tất cả những người nguyện tin vào ngài bằng cách nói câu Namo Amitabha Buddha (tôi nương tựa vào Phật A di đà) lên tịnh độ của ngài), và Ứng thân (thân Phật dưới hình người).

Cùng với sự phát triển về thế giới quan là sự nở rộ của nhiều trường pháo triết học Phật giáo. Keown ngụ ý rằng Phật giáo Đại thừa là một thể rất lớn, bao hàm nhiều trường phái khác nhau, đều phát triển Phật giáo theo những con đường khác nhau, ví như một dụ ngôn của Phật trong Liên hoa kinh (Lotus Sutra) về ngôi nhà cháy: người cha muốn cứu những đứa con ra khỏi ngôi nhà cháy, ông phải đưa ra những món quà khác nhau để dụ chúng ra khỏi nhà, tùy theo từng người mà có những phương tiện khác nhau để được cứu độ. Đại thừa phát triển khái niệm về đức tin, người ta từ đó nghĩ rằng có thể được cứu độ phần nào nhờ đức tin, tin vào bụt A di đà, người sẽ vớt mình vào tịnh độ và từ đó sẽ có cơ hội được giải thoát cao hơn.

Mặc dầu sách của Damien Keown có chú các kinh điển tham khảo khá đầy đủ, nhưng tôi không thích chút nào khi phần nói về thiền, đặc biệt là các tầng nhập định, những miêu tả về trạng thái các tầng này không có một chú thích nguồn kinh điển hay sách vở nào cả, khiến tôi rất hoang mang không biết được đây là ghi chép trong kinh hay là trải nghiệm của ai đó hay của chính ông Keown, hay là thế nào. Nói chung đây là điểm duy nhất tôi không thích trong sách.

Tôi còn thích sách của Keown ở điểm thứ ba, đó là cách tiếp cận của ông rất khoa học và duy lý, đặc biệt là ở hai phần cuối, Đạo đức học (Ethics) và Phật giáo ở phương Tây. Ở phần Đạo đức học, ông đề cập đến các vấn đề từ truyền thống như Dharma (hay được dịch là pháp, hiểu theo nghĩa là luật của vũ trụ), đức hạnh (virtues), Ahimsa (Bất hại) cho tới những vấn đề bắt nguồn từ phương Tây như phá thai, quyền (trong thế đối lập với nghĩa vụ (duty) - khái niệm quen thuộc của văn hóa Ấn), quyền/phẩm hạnh con người - những khái niệm rộ lên từ thời Khai sáng, cả cái khái niệm Upaya (Skillful means - phương tiên thiện xảo). Ở phần Phật giáo ở phương Tây, sau khi nói về sự truyền bá và quan tâm tới Phật giáo đối với phương Tây theo 3 con đường, ông lý giải lí do vì sao nhà sử học Arnold Toynbee gọi sự gặp gỡ giữa Phật giáo và phương Tây là "một trong những va chạm lớn nhất thế kỉ 21" (hiểu theo nghĩa tích cực, gây tiếng vang, tạo hiệu ứng gì đấy). Một cách tỉnh táo, ông giải thích những thuận lợi của Phật giáo trong việc tương thích với tư duy phương Tây về một số mặt. Ông cũng nói về việc Phật giáo có thể biến đổi và phát triển như thế nào để phù hợp và tạo thành một tôn giáo hiện đại.



*Tôi chưa nghiên cứu và cũng không dám lộng ngôn nhưng sự liên hệ giữa văn minh Hy Lạp và văn minh Ấn Độ thời kì một hai thế kỉ trước và sau Công nguyên không phải là điều gì bí ẩn. Có sự tồn tại của vương quốc Ấn-Hy Lạp, khi mà nghệ thuật Phật giáo kết hợp với nghệ thuật Hy Lạp cổ. Có sự tồn tại của bộ kinh Milinda vấn đáp, chép lại cuộc vấn đáp giữa tì kheo Nagasega và vua Menandros I (hay còn gọi là vua Milinda). Nói chung là có một sự liên hệ giao lưu văn hóa, nhưng học giả nói như vậy thì cứ tin như vậy đã.






Các bạn quan tâm muốn tìm hiểu sơ lược về Phật giáo có thể tìm cuốn này đọc. Sách viết dễ hiểu và khá đầy đủ, theo hướng nhìn của phương Tây. Cách đây 6 tháng khi tôi còn ở Sài Gòn thì Thư quán Sinh viên của Phương Nam trên đường Lê Duẩn kế bên trường Dược đối diện trường Nhân văn là một kho "A very short introduction", giá khoảng vài chục ngàn 1 cuốn. Nếu bạn tới đó tìm hy vọng sẽ có.

Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2012

Không có điều gì mới lạ dưới ánh mặt trời

11 Bấy giờ nhìn vào hết mọi việc do chính tôi làm, và bao gian lao vất vả tôi phải chịu, tôi nhận thấy: tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát; dưới bầu trời, có lợi lộc gì đâu! 12 Rồi tôi đưa mắt nhìn và để tâm suy về cái khôn, cái điên và cái dại. Người nối ngôi vua sẽ làm gì? Ðiều mà thiên hạ đã làm trước. 13 Tôi đã thấy cái khôn lợi hơn cái dại, ánh sáng lợi hơn bóng tối.
14 Người khôn biết mở mắt nhìn,
kẻ dại bước đi trong tăm tối.
Còn tôi, tôi biết : cả hai sẽ cùng chung một số phận.
15 Và tôi tự nhủ: "Số phận của kẻ dại làm sao, thì số phận của tôi cũng như thế. Vậy tôi khôn cho lắm để làm gì?" Tôi lại tự nhủ : đó cũng chỉ là phù vân. 16 Ðời đời nhớ người dại, mãi mãi nhớ người khôn : làm gì có chuyện đó! Tại vì có việc gì xảy ra, việc đó cũng rơi vào quên lãng ngay trong những ngày kế tiếp. Tất cả đều chết, người khôn cũng như kẻ dại.
17 Tôi đâm ra chán ghét cuộc đời, vì đối với tôi, dưới ánh mặt trời, mọi việc làm ra đều xấu cả: quả thế, tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát.
18 Tôi đã chán ghét mọi gian lao vất vả tôi phải chịu dưới ánh mặt trời, những gì tôi để lại cho người đến sau tôi. 19 Nào ai biết được người ấy khôn hay dại? Nhưng người ấy lại là kẻ có thẩm quyền trên những gì tôi đã phải vất vả và khôn khéo mới làm ra dưới ánh mặt trời. Chuyện đó cũng chỉ là phù vân! 20 Bấy giờ tôi đâm ra thất vọng về bao gian lao vất vả tôi đã phải chịu dưới ánh mặt trời.
21 Quả thế, có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Ðiều ấy cũng chỉ là phù vân và lại là đại hoạ. 22 Chuyện gì xảy ra cho con người sau bao mối bận tâm và bao gian lao vất vả nó phải chịu dưới ánh mặt trời?
23 Phải, đối với con người ấy, trọn cuộc đời chỉ là đau khổ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền! Ngay cả ban đêm, nó cũng không được yên lòng yên trí. Ðiều ấy cũng chỉ là phù vân!
24 Ðối với con người, không có gì tốt hơn là ăn uống và hưởng những thành quả do công lao khó nhọc mình làm ra! Nhưng chính tôi đã thấy là điều đó cũng do Thiên Chúa mà đến, 25 vì có ai ăn uống, có ai cảm thấy vui mừng phấn khởi mà không nhờ Thiên Chúa ban cho? 26 Ai đẹp lòng Thiên Chúa, thì Người ban cho trí khôn ngoan, sự hiểu biết và niềm vui; ai có tội, thì Người bắt phải vất vả gom góp và tích trữ, để trao lại cho kẻ đẹp lòng Người. Ðiều ấy cũng chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát.


trích sách Ecclesiastes 2:11-26. Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ Phụng vụ
___________________

Sách Ecclesiastes (tiếng Việt dịch là sách Giảng viên), là một sách trong bộ Cựu Ước. Sách được coi là lời của vua Solomon, vị vua vĩ đại của dân Do Thái.

Tựa đề là câu trích nổi tiếng từ sách này.

Bản dịch này dịch chữ hebel của tiếng Hebrew mà tiếng Anh hay dùng chữ meaningless thành chữ phù vân trong tiếng Việt, lấy ý từ cụm "a chasing after the wind" cũng có trong sách. Phần 1 và 2 của quyển sách, vua Solomon nói về sự vô nghĩa. Đầu tiên vua phán rằng Tất cả mọi thứ đều vô nghĩa ('Everything is meaningless'). Sau đó vua đi vào từng khía cạnh, Trí tuệ là vô nghĩa, Hoan lạc là vô nghĩa, Làm việc Vất vả Cống hiến cũng vô nghĩa, vì tất cả đều như là đuổi theo một cơn gió, đều không đạt được gì dưới ánh mặt trời. 


Đọc sách này khi tới ăn cơm ở nhà thờ Above Bar Church (ABC), nghe mọi người nói chuyện, hiểu được người phương Tây hiểu về ý nghĩa của cuộc sống theo phương diện nào.

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Nắng ấm - Mùa xuân - Lugia và Kekulé

Khi ngủ, tôi mơ thấy Lugia bay trên đại dương. Tôi nằm trên lưng nó mà nhìn đôi cánh lớn đập một cách mạnh mẽ. Mỗi khi nhìn thấy Lugia tôi lại nghĩ đến tiếng ocarina thổi vang Bài ca Lugia.

Khi Lugia làm một cú lượn rộng, tôi thấy đuôi nó cong một đường đẹp đẽ. Đuôi nó vòng qua cánh bên phải mà gần như chạm vào mặt Lugia. Nhìn cảnh này, tôi nhớ tới giấc mơ con rắn của Kekulé.

Kekulé nằm mơ màng bên lò sưởi khi đang đọc sách. Ông mơ thấy một chuỗi carbon biến hình như con rắn, bò vòng quanh. Rồi đầu con rắn bất chợt cắn lấy đuôi nó và xoay vòng. Tôi cũng thấy Lugia đang ngoạm lấy đuôi nó mà xoay vòng, còn tôi đang lơ lửng trên mặt biển. Nó xoay vòng xoay vòng xoay vòng càng ngày càng nhanh càng mạnh càng xoắn xuýt. Trong mạng lưới những đường xoắn xuýt ấy tôi nhìn thấy những lai hóa orbital sp2 và những electron bất định xứ lơ lửng.

Những electron hòa thành một đám mây màu vàng. Có tia điện lẹt xẹt trong đó.

Tôi ngập ngừng lẩm bẩm, benzene, benzene. Rồi tôi tỉnh giấc.

by Zú Sánchez

Tôi vén màn cửa và nhìn ra cửa sổ. Trời đã trong và xanh lắm. Nắng đã vàng lắm. Biển cả ngoài kia. Tôi nhận ra Olivine đã không còn lạnh căm nữa. Có tiếng Lugia bảo tôi, nhìn ra hàng rào kia, có một con gà trống đang gáy. Tôi định hỏi gà nào cơ nhưng lời chưa kịp cất thì thanh âm đã vọng vào tai.

Bỗng đột ngột có tiếng súng nổ lớn trên đồi. Tiếng gà đột nhiên im bặt.

Trong tai tôi lại vang lên lời Kekulé tôi đọc trong một quyển sách, rằng, "Hãy để chính mình học lấy cách mơ, thưa các ngài, rồi từ đó, hy vọng chúng ta sẽ tìm ra chân lý. Nhưng cũng hãy để chính mình học lấy cách giữ kín những giấc mơ, khoan công bố nó vội, cho tới khi được kiểm chứng bởi trí tuệ đang thức tỉnh."


Tôi thét lên: Chuyện gì thế này? Rồi tôi nghe lời đáp, lần này là tiếng Espeon: Mùa xuân đã đến rồi đấy.

Tôi thấy những bông hoa dại ngoài sân cỏ đã nở thật. Lúc này thì tôi biết tôi vẫn còn đang trong giấc mơ.

Nhưng rõ ràng là hoa đã nở thật. Nắng ấm thế kia mà.

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012

Kim nhật hà nhật hề? Hôm nay ngày gì vậy?




Kim tịch hà tịch hề? Khiên chu trung lưu.
Kim nhật hà nhật hề? Đắc dữ vương tử đồng chu!
Mông tu bị hảo hề, bất hiềm cấu sỉ.
Tâm kỉ phiền nhi bất tuyệt hề, đắc tri vương tử.
Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi, tâm thuyết quân hề quân bất tri!


Chiều hôm nay là chiều gì vậy!
Em chèo thuyền nhỏ bơi giữa dòng
Ngày hôm nay là ngày gì vậy!
Em được cùng thuyền với vương tử chàng!
Vương tử thích em chăng?
Em không nghĩ gì khác.
Em ngây ngô khờ dại
Chẳng ngờ lại gặp được chàng!
Trên núi có cây, trên cây có cành!
Mà lòng em mến chàng, chàng lại chẳng hay.

(Việt Nhân Ca – Dịch lời: Ngọc Diện Hồ, nguồn: http://blog.daobachlien.com/2006/11/viet-nhan-ca/)

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương






Kẻ ở
Quang Dũng

Mai chị về em gửi gì không ?
Mai chị về nhớ má em hồng
Ðường đi không gió lòng sao lạnh
Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong

Quê chị về xa tít dặm xa
Rừng thu chiều xao xác canh gà
Hoa rơi khắp lối, sương muôn ngả
Ngựa lạc rừng hoang qua lướt qua

Ngựa chị dừng bên thác trong veo
Lòng chị buồn khi nắng qua đèo
Nơi đây lá giạt vương chân ngựa
Hươu chạy quay đầu theo ngó theo

Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang
Ngựa chị dừng bên thác trăng vàng
Sao rơi đáy nước vương chân ngựa
Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng.





Thứ Năm, 26 tháng 1, 2012

Quá khứ đã chết

Quá khứ có quan niệm bằng các di vật và lịch sử, bằng ký ức trong tâm hồn. Nhưng quá khứ không bất biến và tồn tại đơn giản như cái gì đã qua không thể thay đổi. Trái lại, quá khứ cũng ít nhất được hiểu dưới ba góc độ: quá khứ đã chết, quá khứ thay đổi và quá khứ tiếp tục. Quá khứ đã chết là những gì có thật từng tồn tại nhưng ta không biết về nó nữa, và ngay cả những hiện vật khảo cổ không còn hữu dụng trừ khi là tư liệu lịch sử. Có nhiều vấn đề ta hiểu về quá khứ theo cách của con người hiện nay và lòng sở dục không khách quan đã làm sai lệch quá khứ, cho nên quá khứ ấy sẽ thay đổi khi ta ngày càng hiểu đúng về nó hơn. Phần khác của quá khứ ấy vẫn tồn tại và được sử dụng, như tấm áo của người cha, người con vẫn mặc, tượng Phật cổ xưa vẫn trong ngôi chùa mới cho các tín đồ ngày nay, hội lễ dân ca vẫn được trình diễn theo tinh thần truyền thống và cả những tập tục cố hữu. 


(Thay lời cuối sách. Quá khứ đã chết, quá khứ thay đổi và quá khứ tiếp tục - Văn minh vật chất của người Việt - Phan Cẩm Thượng)




TRÍCH MẤY ĐOẠN HAY TRONG SÁCH ÔNG THƯỢNG HEHE.


Từ thời Lý Trần hắt về quá khứ còn rất ít mối liên hệ với chúng ta[...] Đó là một quá khứ đã chết không có cách gì phục sinh được. Ngay cả khi sự hiểu biết đã rất tường tận thì đó vẫn là một cuộc sống không lặp lại và không hiểu được. Điều này cũng giống như thời của các Pharaon và Kim Tự tháp với người Ai Cập hiện nay, họ cũng không phải là người của vương quốc Ai Cập cổ đại nữa. Cũng giống như người Hy Lạp hiện tại không hẳn là người Hy Lạp cổ đại xây Parthenon kéo dài cho đến bây giờ. Nền văn minh này đã chồng lên nền văn minh kia trên cùng một mảnh đất. Nhưng nếu nói người Trung Hoa bây giờ là con cháu của Khổng Tử và Tần Thủy Hoàng xưa thì không có gì sai. Như vậy giữa hiện vật và tâm hồn không phải lúc nào cũng có mối liên hệ. Tâm hồn chúng ta không có sợi dây nào nối với trống đồng, thì văn minh Đông Sơn chẳng có ấy ý nghĩa gì với ta. Những quá khứ đã thực sự chết, thực sự trở về đất, hoặc nó chỉ có ý nghĩa với thời của nó, mà không có ý định dành cho con người bây giờ. 


(Thay lời cuối sách. Quá khứ đã chết, quá khứ thay đổi và quá khứ tiếp tục - Văn minh vật chất của người Việt - Phan Cẩm Thượng)



Con thuyền - Mái đình, hay cả ngôi đình cũng là một con thuyền - chính là biểu tượng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước[...] Con thuyền vẫn đi theo họ, vẫn là biểu tượng của người ở làng, như nỗi hoài vọng về một quá khứ hoành tráng đã lui vào dĩ vãng.


(CHƯƠNG 5: NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH VI. Công nghệ kiến trúc - Văn minh vật chất của người Việt - Phan Cẩm Thượng)




Buổi tối chúng ta đi ngủ, buổi sáng chúng ta thức dậy và đi làm, một trăm năm sống trên trần gian nếu cứ thế cuộc đời con người thật nhàm chán không có gì đáng nói. Nếu so với tuổi của trời đất, thì trăm năm của đời người chỉ là cái chớp mắt. May thay và không may thay, cuộc đời của mỗi cá nhân thường không mấy khi suôn sẻ. Không mấy ai tự nhận mình là người hạnh phúc. Và chính sự không suôn sẻ trong đời người phá đi cái nhàm chán mà ai nấy cũng vậy thôi. Người Việt sống trên dải đất nắng lắm mưa nhiều, sông và rừng đều nhiều sản vật, so với dân xứ tuyết và dân xa mạc, quả là có nhiều may mắn. Thế nhưng dải đất này chiến tranh liên miên. Nơi qua lại của nhiều nền văn hóa. Nơi các nhà nước phong kiến rất nhược tiểu và luộm thuộm trong nền hành chính của mình. Nên người Việt cũng thật đa sự, đa tình, vừa thực tế vừa ảo tưởng trong suốt hành trình của mình. Ý thức dân tộc thì rất mạnh mẽ, nhưng ý thức cá nhân thì rất nhợt nhạt.


(Chương Một: Những mặt cắt lịch sử - Văn minh vật chất của người Việt - Phan Cẩm Thượng)


Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Ăn Tết với ông Bruce

Bánh chưng mua £7.50, bóc ra trông nhợt nhạt thế này.

Nhưng cho vào lò vi sóng quay một tí thì đẹp ra ngay.

Mình làm mẫu rồi chỉ ông Bruce cắt bánh.

Ông í cắt vô cùng điêu luyện.

Rồi bảo: nghề kiếm cơm của ông í mà. Ông í làm nghề chữa răng.

Cắt dưa leo.


Thịt luộc mãi mới chín.

Dưa leo và rau xà lách

Băm tỏi làm nước mắm, có củ kiệu luôn.

Bắt đầu cuốn.

Cái cuốn đầu tiên đây.

Bỏ vô dĩa.

Bữa ăn tân niên. Ông Bruce bỏ nước mắm vô 2 cái ly.

Bánh chưng thì đem chiên lên.

Nước mắm trong ly đấy.

Bánh chưng ăn ngon phết.