Mây và sóng

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say.

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Nghệ thuật Vị lai - Leonard Shlain

Khỏa thân đi xuống cầu thang, số 2  (Nu descendant un escalier n° 2) - Marcel Duchamp

(trích trong "Nghệ thuật và Vật lý - những cái nhìn tương đồng về không gian và thời gian và ánh sáng, chương  15 "Trường phái Vị lai / Thời gian", tác giả Leonard Shlain; Phạm Văn Thiều, Trần Mạnh Hà dịch, NXB Tri thức, 2010)  

[...]
Sau khi tuyên bố kết thúc mối bận tâm của nhân loại với mọi thứ đã qua, những nghệ sĩ Vị lai đặt ra cho mình cái nhiệm vụ nghệ thuật làm nản lòng người khác là không những chỉ phá hủy lịch sử tập thể, mà còn đập nát kí ức cá nhân. Marinetti lớn tiếng đầy vẻ cà khịa: "Phải khinh bị mọi hình thức bắt chước. Tất cả chủ đề trước đây đã dùng rồi phải vứt bỏ hết đi. Những gì là chân lí đối với họa sĩ của ngày hôm qua sẽ là sự giả dối đối với họa sĩ của ngày hôm nay." Ông xỉ vả các tác phẩm mĩ thuật cổ, sự tôn trong di sản, việc sao chép mù quáng ý tưởng từ các truyền thống của quá khứ. Phong trào của Marinetti trở nên nổi tiếng ở Italia đến nỗi trong một thời gian, trẻ con thôi không chơi trò cao bồi và thổ dân da đỏ nữa mà chuyển sang đóng vai người theo trường phái Vị lai.

Bản tuyên ngôn Vị lai mang nợ rất nhiều từ nghệ thuật Ấn tượng của Monet. Giống như Marinetti, Monet không dùng gì đến quá khứ. Ông cảm thấy rằng nếu cố tái tạo lại trong xưởng vẽ những hình ảnh mà mình đã thầm ghi lại trong đầu lúc ở ngoài trời, thì trí nhớ của ông có thể đánh lừa ông để vẽ ra một cái gì đó khác. Chính vì thế, Monet chuyển các "ấn tượng" của mình trực tiếp ngay lên nền vải, không có sự can thiệp mang tính biên tập của nghĩ ngợi lại sau đó. Bằng cach này, Monet chỉ tập trung vào hiện tại. Ông đã cố bắt giữ khoảnh khắc chớp lòe của cái bây giờ; và bây giờ chính là cái được bảo lưu trong tác phẩm của người họa sĩ Ấn tượng vĩ đại này.

Được tiếp thêm can đảm bởi Monet, các nghệ sĩ Vị lai còn hăng hơn cả ông một bậc, họ lao vọt từ hiện tại lên tới tương lai. Họ yêu cầu nghệ sĩ phải miêu tả cái chưa xảy ra, bằng cách tích hợp khái niệm về chuyển động lên trên nền vải tĩnh. Đối với những họa sĩ làm việc trong những giới hạn của một thời khắc đã đóng băng lại, vốn là đặc trưng của nghệ thuật phương Tây kể từ thời Giotto trở đi, thì việc phá vỡ sự bất động không khoan nhượng của lớp màu đã đông cứng trên nền vải khô là một thách thức bất khả thi. Nhưng vài năm sau khi bản tuyên ngôn ra đời, các họa sĩ Vị lai phát hiện ra rằng họ có thể kéo tương lai về hiện tại bằng cách thể hiện một chuỗi các khoảnh khắc riêng rẽ đã đông cứng lại trên cùng một nền vải. Đặt chồng lên nhau một chuỗi những khoảnh khắc riêng biệt của thời gian và bóp chặt chúng lại trong một tác phẩm, các họa sĩ Vị lai đã thành công trong việc đẩy nhanh tốc độ diễn ra của cả chuỗi thời gian. Ý tưởng này không phải là đặc sản của trường phái Vị lai. Các họa sĩ Vị lai đã công nhiên ăn cắp quan niệm này từ phương pháp dựng ảnh chuỗi mang tính đột phá của Eaweard Muybridge [sic] và Jules-Étienne Marey. Sáng tạo của các họa sĩ Vị lai là ở chỗ họ đã chuyển ý tưởng chụp ảnh theo thời gian thành việc vẽ ra bằng màu sắc, và làm như vâỵ họ đã đưa ra một cách thức mới để nhìn thời gian, hệt như những họa sĩ Lập thể đã chồng chất đa tầng các phối cảnh khác nhau vào trong một tác phẩm và làm như vậy, họ đã phát minh ra một cách thức mới để hình dung không gian.


[sic]: bản tiếng Việt in sai, tên ông này chính xác là Eadweard Muybridge.
_________________________


Một cuốn sách tuyệt vời về nghệ thuật. Tui mới đọc tới đầu chương 15, Vị lai thôi, đọc đoạn này từ nhiên muốn chia sẻ.

[sic] là thuật ngữ tiếng Latin, nghĩa là [như vậy], dùng để đặt sau những trích dẫn nguyên văn, đánh dấu những lỗi sai về chánh tả, ngữ pháp, dùng từ.

Xem ra, cái mớ ảnh cinemagraph này (kenh14 cũng có này, nếu ghiền có thể coi thêm ở đây hay blog của Jamie Beck luôn) cũng là một cách nhìn nữa về Futurism.

cinemagraph của Jamie Beck

Sẽ có thể có review về quyển này, sau khi đọc xong. Có thể thôi, chưa biết được, tất cả đều vị lai mà. Dù sao, có review hay không, đây cũng là một quyển sách nghệ thuật tuyệt vời nhất mình từng đọc.

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

Hanna

Dream, how i dream to feel...
(Hanna's theme - Vocal version)

Có vẻ như mùa xem phim của tôi đến sớm hơn dự kiến, bắt đầu từ lúc tôi vẫn còn đang chuẩn bị thi đại học. Khi không đi học thêm, tôi ở nhà hầu như chỉ làm một trong ba việc: đọc sách, xem phim và học bài.

Đọc sách là chuyện tôi làm thường nhật. Xem phim ở đây có nghĩa là ngôi dán mắt vào tivi hoặc laptop xem một bộ phim, không tính xem hoạt hình hay ba cái phim hài trên Disney.

Tôi đi xem Hanna tuần vừa rồi với 2 đứa bạn cũ, Đình Nguyên và Hà, gần một năm rồi không gặp.

_____________________


Hanna là một phim thú vị. Tôi đi xem Hanna là vì có Cate Blanchett và Eric Bana, cũng để xem cái bạn  Saoirse Ronan (nhân tiện, tôi không biết đọc tên bạn này thế nào cả, wiki phiên âm là [ˈsˠiːɾˠʃə] mà tôi thì không rành phiên âm IPA tiếng Irish, thấy nó còn bảo đọc là seer-shə) diễn ra sao, sau khi xem Atonement không mấy ấn tượng và The Lovely bones thì mới xem có 10 phút. Sau khi thấy fb anh Hoài ghi bạn này lạnh lùng như Natalie Portman hồi xưa thì tôi lại càng thôi thúc phải đi xem.

Hanna có âm nhạc hay, tôi ấn tượng nhất với phim này ở mảng âm nhạc. Chemical Brothers làm phần nhạc khiến tôi thực sự có cảm giác giải trí khi xem phim. Đoạn Hanna đào thoát khỏi căn cứ CIA, âm nhạc kết hợp với những góc quay nhanh, ánh sáng chớp tắt tạo nên một không khí nhanh, hồi hộp, nhưng cũng tạo cho tôi thấy một sự tự tin và một cảm giác chắc mẻm là thế nào em này cũng thoát được thành công. Đó là bản Escape Wavefold trong soundtrack.




Một bài khác cũng khiến tôi ấn tượng, đó là bản Container Park, với phần giai điệu đều đều, xuyên suốt cả bộ phim. Chắc chắn với tôi, bản nhạc làm nên ấn tượng cả một bộ phim Hanna sẽ là giai điệu của Container Park, mỗi lần nghe lại, tôi sẽ nhận ra, "Đây đích thị là nhạc Hanna!". Quên, nói đến nhạc ấn tượng, tôi cũng phải kể luôn bản nhạc theme music cuối phim nữa.

Còn bản nhạc tôi nhớ mãi, không thể nào quên được đó là The Devil is in The Details, giai điệu rất ư là catchy gắn liền với tên sát thủ Isaacs (Tom Hollander). Isaacs là vai diễn có thể nói gây thích thú nhất cho khán giả, tên sát thủ "lưỡng tính" này lúc thì mặc quần đùi bó sát tông xuyệc tông với áo thun trắng, lúc thì chơi nguyên bộ đồ thể thao trùm kín người vàng khè, miệng cứ cười cười, đi lại ngông nghênh, lúc nào cùng huýt sáo giai điệu The Devil is in The Details trong vũ trường nhảy thoát y của hắn. Tôi nghe đi nghe lại bài này với cùng một niềm vui, thuần khiết, huýt sáo nữa. Giai điệu vui tươi, đọc những comment trên youtube cũng thấy rất vui:


My mum is even singing it :)

Điều tôi khoái nhất hôm nay đó là cuối cùng sau gần một tiếng google tôi cũng tìm ra được tên bản nhạc cổ điển mà Knepfler bật cho Hanna nghe ở Ngôi nhà của Wilhelm Grimm, bản này không có trong đĩa Original Soundtrack. Giai điệu nghe rất quen thuộc, tôi nhận ra ngay lập tức là nhạc trong phim Mickey hay Donald gì đó của Disney, tưởng google một phát sẽ ra ngay nhưng bước vào thực hành mới thấy khó khăn. Tôi phải ngồi vắt óc ra nhớ xem đó chính xác là bộ phim gì, youtube để nghe thử, rồi tra cứu nhạc trong đó là bài gì, cuối cùng cũng tìm ra đó là bản ‪In the Hall of the Mountain King trong tổ khúc giao hưởng Peer Gynt của Grieg‬‏, bộ phim lồng nhạc bản này vào là Donald's Halloween Scare chiếu trong House of Villans. Coi như cũng là một chiến công google.

Đó là về phần nhạc. Về phần nội dung (chú ý, ai muốn xem phim thì đừng đọc phần này, spoiler bắt đầu), phải nói tôi xem phim này một phần nữa cũng để xem nó khác Léon, the Professional (bộ phim lần đầu tiên tạo nên tên tuổi Natalie Portman) ra sao (chắc chắn nhiều người khác đã từng xem Léon rồi cũng sẽ có suy nghĩ như tôi). Cả hai bộ phim đều kể hai câu chuyện về hai cô bé sát thủ, ở hoàn cảnh khác nhau, tính nết khác nhau, mục đích khác nhau. Léon của Luc Besson là một bộ phim về tình yêu, còn Hanna của Joe Wright, ngược lại, là một bộ phim về sự thiếu vắng tình yêu. Cô bé Mathilda trong Léon muốn trở thành sát thủ để trả thù cho đứa em trai (cả gia đình cô bé bị một băng xã hội đen giết, nhưng em chỉ thương mỗi đứa em trai thôi). Còn Hanna từ trước khi sinh ra đã được định sẵn số mệnh của mình sẽ là một chiến binh hạng nhất (thay đổi DNA, giảm xúc cảm, sự sợ hãi, tăng sức mạnh cơ bắp, ...). Nếu như Mathilda mới 13 tuổi mà hành sự y hệt người trưởng thành, lại còn có cả tình cảm với Léon thì Hanna 16 tuổi nhưng ngây ngô hoàn toàn không biết gì về cuộc đời ngoài những kiến thức cha dạy từ cuốn bách khoa, lại lạnh lùng như một cái máy, đến khi phát hiện ra Erik (Eric Bana) người nuôi nấng, bảo bọc, huấn luyện mình suốt 16 năm trời không phải cha ruột mình, lại che dấu mình một bí mật khủng khiếp, trong khi tôi chờ đợi một sự thông cảm, một cái ôm chẳng hạn, thì bộ phim lại cứ lạnh lùng trôi đi.

Nói chơi một chút, tôi cũng phát hiện ra một điều, trong khi Eric Bana huấn luyện Saoirse Ronan làm sát thủ, dạy đủ các ngón nghề, đồ chơi, nhưng thiếu một món sát thủ nào cũng xài, đó là bắn súng nhắm (sniper ấy), khác xa với khi Natalie Portman khi được Jean Reno đào tạo được dạy bắn súng nhắm kỹ càng. Trong phim, cũng chẳng bao giờ Hanna đụng tới cây súng nhắm, chủ yếu dùng tay không, ít khi đụng tới cả súng lục và dao. Có lẽ đây chỉ là một ý nhấn mạnh về bản năng sát thủ bẩm sinh trong DNA của Hanna mà thôi.

Tôi vẫn đang suy nghĩ về sự liên quan giữa truyện cổ của anh em Grimm đối với câu chuyện về Hanna. Anh em nhà Grimm làm gì trong bộ phim này? Hanna không phải hoàn toàn vô cảm, khi nghe kể chuyện về Laika, em cũng muốn cha mình thay đổi cái kết, đừng đọc cho em nghe cái kết là Laika bị mặc định là sẽ hy sinh trên quỹ đạo. Trách Hanna được chăng khi em cũng chỉ là một sát thủ ngây thơ, một chiến binh bẩm sinh, sinh ra đã bị mặc định là phải như thế. Ai từng đọc truyện cổ do hai anh em học giả Grimm sưu tầm chắc hẳn sẽ thấy phong vị khác hẳn với truyện cổ sáng tác của Andersen. Truyện cổ Grimm không hoàn toàn nhân văn như Cô bé bán diêm hay Chú lính chì dũng cảm của Andersen, nó u ám, bí hiểm, tuy đã được hai anh em Grimm "hiền hóa" để thích hợp hơn với trẻ em, nhưng nó vẫn toát lên cái vẻ gì đó tăm tối. Sao lại có chuyện cha mẹ mang con vào rừng bỏ mặc cho thú dữ ăn thịt như trong Hansel và Gretel, rồi cảnh Hansel và Gretel giết mụ phù thủy bằng cách nhốt mụ vào lò, chẳng phải độc ác quá sao. Hay là đọc Rumpelstilskin xong, truyện tên người lùn giúp cô gái quay được sợi rơm vàng để rồi trở thành hoàng hậu với điều kiện phải cho hắn đứa con đầu lòng, sau khi cô sinh đứa con đầu lòng, hắn tới đòi, cô lấy hết tài sản ra để đưa thay đứa con nhưng hắn không chịu, cuối cùng hai người thỏa thuận là trong 3 ngày, cô phải tìm ra tên của hắn thì hắn sẽ bỏ qua lời hứa năm xưa, thật vậy, đọc trong truyện đó, tôi không biết phải thương ai bây giờ, tên người lùn bị chơi xỏ hay là người mẹ thất hứa vì thương con...

Ôi, dám từ phim Hanna, tôi lại đâm ra khoái truyện cổ Grimm nữa rồi, thể nào cũng sẽ ngồi đọc lại.

Nói chung, Hanna được nhiều nhà phê bình, báo chí này nọ ở phương Tây ví như một món quà tặng cho anh em nhà Grimm, vì chưng Hanna thực sự là một câu chuyện cổ tích u ám thời hiện đại.

Tôi chợt nghĩ, tại sao đã làm chiến binh, làm sát thủ, sao không can thiệp sinh học để tạo ra một sát thủ con trai luôn, mắc mớ gì phải ra một cô gái, nam giới thì chắc chắn sức mạnh cơ bắp sẽ tốt hơn rồi. Rồi tôi tự trả lời mình, có thế mới làm được phim, chuyện một đứa con trai được nuôi dạy để rồi trở thành sát thủ, ai mà thèm xem. Cũng có khi nếu làm một bộ phim như vậy, phim đó sẽ không chỉ thiếu vắng tình yêu và cảm xúc mà phải nói là hoàn toàn vô cảm, tên sát thủ đó sẽ y như một cỗ máy giết người vậy. Achilles thể hiện trong Troy và cả Illad là một chiến thần, nhưng cũng là một con người, cũng chết, cũng yêu Brissey, một con robot dọn rác như WALL-E dù sao khi khoa học phát triển đến một mức nào đó cũng có thể yêu EVE; nhưng một cái máy giết người thì hoàn toàn khác.



Hanna là một phim không nhiều ý nghĩa, nhưng gợi nhiều suy nghĩ, và trên hết là một phim giải trí, với âm nhạc tuyệt vời. Tôi hy vọng sẽ được nghe lại nhạc của Hanna vào Oscar năm sau.


Đoạn kết:
Tôi chỉ bắn trượt tim bà thôi.
Bùm
HANNA

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011

Trì cỏ tươi, nhưng lòng tiểu nhân


Đụn lúa mạch (Cuối hè) - Claude Monet


Đọc thơ Nguyễn Trãi, Quốc Âm Thi Tập, tôi thích nhiều bài. Đọc Quốc Âm Thi Tập, đọc cái thứ tiếng Việt của 500 năm trước, tôi vỡ ra nhiều điều và thấy rất thú vị.

Tỉ như bài "Cuối xuân" này, tôi đã treo trên blog cả tuần nay:

Tính từ gặp tiết lương thần, 
Thiếu một hai mà no chín tuần. 
Kiếp thiếu niên đi thương đến tuổi, 
Ốc dương hoà lại ngõ dừng chân. 
Vườn hoa khóc, tiếc mặt Phi tử, 
Trì cỏ tươi, nhưng lòng tiểu nhân. 
Cầm đuốc chơi đêm này khách nói, 
Tiếng chuông chưa đóng ắt còn xuân.


Đọc sơ qua, đúng là dưới góc độ một người Việt Nam thế kỷ 21, chữ Hán chưa học, chữ Nôm không và cũng có lẽ sẽ không biết, những từ, những cụm "Ốc dương hòa" hay "đi thương",... khó mà hiểu được, nhưng là một người Việt có một gốc rễ văn hóa vững chắc, hẳn cũng phải cảm được chút gì đó từ bài thơ.

Lăn lóc trên mạng một hồi, tôi cũng tìm được vài cái chú giải.

-"tiết lương thần": lúc bắt đầu của mùa xuân.
-"tuần": tuần là mười ngày.
-"kiếp thiếu niên": có thể hiểu là thời tuổi trẻ, thế nhưng nếu để ý về mặt hài thanh của chữ Nôm, phiên từ tiếng Hán ra tiếng Việt là "cướp", hiểu như thế hợp lý hơn, nên cụm "đi thương" biên như trên kia là vô nghĩa, phải tách ra thành "Cướp (kiếp) thiếu niên đi, thương đến tuổi".
-"ốc": nhiều chỗ đều ghi "ốc" không có nghĩa, nhưng Trần Lê Văn biên trên Tạp chí Hán Nôm số 2/1989 thì "ốc" là từ Việt cổ, nghĩa là "gọi", như "Có gã thư sinh / Danh ốc Lưu Bình" nghĩa là "Tên gọi Lưu Bình".
-"ngõ" : ngõ hầu, nghĩa là "nhằm để".
Tóm lại, hai câu thực này mang nghĩa là: Ngày tháng cướp mất tuổi thiếu niên của ta đi, giờ đây tiếc thương tuổi tác của mình, bèn gọi cái khí xuân dương hòa ấm áp lại để (ngõ hầu) dừng chân mà hưởng thụ.
-"Phi tử": Dương Quý Phi, người có vẻ đẹp "tu hoa" (khiến cho hoa phải thẹn). Câu đầu tiên "Thanh bình điệu" của Lý Bạch là "Vân tưởng y thường hoa tưởng dung" - "Nhìn mây tưởng y phục, nhìn hoa nhớ khuôn mặt", ca ngợi vẻ đẹp của Dương Ngọc Hoàn.
-"trì cỏ": cỏ ao, tra ra thì thấy sách Luận ngữ thiên 12 "Nhan Uyên" biên "Cái đức của người quân-tử cũng như gió, cái đức của kẻ tiểu-nhân cũng như cỏ. Gió thổi trên cỏ thì cỏ phải lướt xuống mà theo."

Hai câu cuối là hai câu dễ hiểu, đọc cũng thấy gần gũi và hiện đại. Tôi thích nhất hai câu thực và hai câu kết này, cùng với câu luận thứ hai "Trì cỏ tươi nhưng lòng tiểu nhân".

Đụn cỏ khô ở Giverny - Claude Monet



Hay là những câu từ bài "Mạn thuật kỳ 13 (Nhà ta)"
 
Quê cũ nhà ta thiếu của nào, 
Rau trong nội, cá trong ao. 
Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch, 
Kề nước cầm đưa tiếng Cửu Cao. 
Khách đến vườn còn hoa lạc, 
Thơ nên cửa thấy nguyệt vào. 
Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ, 
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào.


-"cách song" : ngoài song cửa.
-"Cô Dịch": chỉ thần nhân trên núi Cô Dịch, trong Nam Hoa Kinh - Trang Tử - Nội thiên : Tiêu dao du
Kiên Ngô hỏi Liên Thúc:
-Tôi nghe lời nói của Tiếp Dư, lớn mà không đúng, đi mà không về... Tôi kinh khiếp lời nói của ông ta: cũng như sông Hà, sông Hán mông mênh vô cùng! Rất là diệu vợi! Không gần với thường tình người ta.
Liên Thúc hỏi:
-Ông ta nói về cái gì?
-Ông ta nói: "Trên núi Rưởu Cô Dịch, có thần nhân ở đó, Da thịt như băng tuyết, thơ ngây như gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, hút gió uống sương, cưỡi khí mây, ngự rồng bay, mà chơi ở ngoài bốn bể. Ðịnh thần lại, khiến cho mọi vật không đau ốm mà lúa lại được mùa..."


-"Cửu Cao" : Chín đầm nước sâu. Thi kinh 詩經 Tiểu nhã 小雅 thiên Hạc minh 鶴鳴: "Hạc minh vu cửu cao, Thanh văn vu thiên" 鶴鳴于九皋,聲聞于天 (Chim hạc kêu ở xa ngoài chín đầm, tiếng nghe khắp đồng nội). Cả câu này ý nói suối chảy như tiếng đàn, tiếng hạc. (chú thích của thivien.net)
-"áng mận đào" : hiểu đại khái là chốn quan trường, theo tích Địch Nhân Kiệt (tích này cũng bình thường thôi, hiểu vậy được rồi).

Đọc bài thơ này, dễ hiểu hơn "Cuối xuân" nhiều, lại mang một cái không khí yên bình, nhẹ nhàng, tôi như được xả stress lắm lắm. Những bài thơ của Nguyễn Trãi làm bằng quốc âm 500 năm về trước, bài nào cũng tràn ngập trí tuệ, so ra đáng đọc hơn nhiều thứ khác vô bổ hiện nay gấp bội.


__________________________

Nhân tiện, ngoài lề, tôi cứ luôn thắc mắc về sự giống nhau khá kì lạ của từ "câu lạc bộ" so với club về mặt chữ cái. Xét từng từ "câu", "lạc", "bộ" thì thấy nó chả mang nghĩa gì của một cái "tổ chức được lập ra nhằm tập hợp những người cùng sở thích sinh hoạt văn hóa, giải trí" gì cả. Tôi thắc mắc về mặt từ nguyên của từ này lắm, nhưng cứ quên tra mãi.
Hôm nay mới nhớ ra để tra. Từ club ban đầu được phiên qua tiếng Nhật, là kurabu, sau đó qua tiếng Hán, rồi sang tiếng Việt là "câu lạc bộ", một hành trình vui tươi đấy chứ nhỉ.

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2011

Afterdark

[Afterdark - chương 1 : 11.56 p.m]
Haruki Murakami

Rồi anh nói, "Tôi từng đọc một câu chuyện về ba anh em dạt lên một hòn đảo ở Hawaii. Một truyền thuyết ấy mà. Chuyện xưa rồi. Tôi đọc khi còn bé, nên có khi kể chả chính xác lắm đâu, nhưng nó kiểu kiểu thế này này. Ba anh em đi câu cá và gặp bão. Họ trôi lênh đênh trên biển một thời gian rồi dạt vào một bờ cát của một hòn đảo không người. Đó là một hòn đảo đẹp với hàng đống cây dừa mọc trên bãi biển cùng với hàng đống trái dừa mọc trên cây, còn có cả một ngọn núi rất cao ở giữa đảo. Cái đêm họ dạt lên, một vị thần xuất hiện trong giấc mơ và bảo, "Hãy men dọc theo bờ biển xa thêm một tí nữa, các ngươi sẽ gặp ba tảng đá to và tròn. Ta muốn từng người đẩy hòn đá của mình xa bao nhiêu tùy thích. Ngươi đẩy hòn đá tới đâu thì chính tại nơi đó ngươi sẽ sống. Ngươi càng đi xa thì thế giới ngươi nhìn thấy từ nhà mình sẽ càng rộng lớn. Việc các ngươi đẩy hòn đá của mình đi bao xa hoàn toàn phụ thuộc vào ngươi."

Chàng trai trẻ uống một cốc nước và ngưng nói một lát. Mari trông không hứng thú thật nhưng rõ ràng cô vẫn đang nghe.

"Tới đây thì hiểu chứ?" anh hỏi.

Mari gật đầu.

"Muốn nghe đoạn còn lại không? Nếu em không hứng thú thì tôi ngừng lại cũng được."

"Nếu truyện không dài quá."

"Không, không dài. Truyện đơn giản mà."

Anh uống một ngụm nước nữa rồi kể tiếp.

"Vậy là ba anh em tìm thấy ba hòn đá trên bãi biển như lời vị thần nói. Và họ cũng bắt đầu đẩy như vị thần bảo họ làm. Ba hòn đá đó đúng là rất to, nặng nữa, nên đẩy lên dốc tốn sức vô cùng. Người em út bỏ cuộc đầu tiên. Anh nói, "Hai anh ạ, nơi này đủ tốt cho em rồi, gần bãi biển, em bắt cá được. Có đủ mọi thứ để em sống. Em không quan tâm tới chuyện em nhìn thấy được bao nhiêu phần của thế giới từ chỗ này". Hai người anh đẩy tiếp, nhưng đến lưng chừng núi, người anh hai bỏ cuộc. Anh bảo, "Anh ạ, nơi này đủ tốt cho em rồi. Có nhiều hoa trái ở đây, đủ mọi thứ để em sống. Em không quan tâm tới chuyện em nhìn thấy được bao nhiêu phần của thế giới từ chỗ này". Còn lại người anh cả tiếp tục đi lên núi. Đường mòn bắt đầu hẹp và dốc dần, nhưng anh không bỏ cuộc. Anh này bền chí lắm, lại muốn được nhìn thấy thế giới nhiều nhất có thể nên dốc sức đẩy hòn đá lên đỉnh. Anh đẩy cả hàng tháng ròng, ăn uống rất ít, cho tới khi đẩy được hòn đá lên đỉnh cao nhất của ngọn núi. Tới đó, anh ngừng lại nhìn ngắm thế giới. Giờ đây anh có thể thấy được xa hơn bất kỳ người nào. Đây là nơi anh sẽ sống, nơi không chim bay không cỏ mọc. Nước, anh chỉ có thể liếm sương giá. Thức ăn, anh chỉ có thể ăn rêu. Nhưng vì anh đã có thể nhìn thấy cả thế giới nên anh không hối tiếc. Và thế nên, cho tới tận ngày nay, hòn đá to tròn của anh vẫn y vị trên đỉnh một ngọn núi ở một hòn đảo Hawaii. Chuyện như thế đó."

Yên lặng.

Mari hỏi, "Vậy rốt lại chuyện có ý nghĩa, bài học gì rút ra không?"

"Có lẽ có, hai điều. Một là, " anh nói, giơ ngón tay lên, "tất cả mọi người đều khác biệt. Ngay cả anh em ruột thịt. Một điều nữa là," anh nói, giơ thêm một ngón tay nữa, "là nếu người ta thực sự muốn hiểu biết thêm một điều gì đó, họ phải chấp nhận trả giá."

Mari nói lên ý kiến của cô, "Theo em, cuộc sống mà hai người em chọn có ý nghĩa nhiều nhất."

"Thế chứ gì nữa", anh thừa nhận, "chả ai muốn đi cả một chặng đường dài tới Hawaii để liếm sương và gặm rêu. Nhưng người anh cả tò mò muốn nhìn thấy thế giới, và anh ta cũng chẳng thể kìm nén được nỗi tò mò, mặc kệ cái giá phải trả như thế nào."

(Q.H dịch)

___________________

Truyện này làm tôi liên tưởng tới "Shutter Island" tôi xem hôm qua. Rõ ràng cuộc sống là do chúng ta lựa chọn, cơ hội là trước mặt để nắm bắt, chúng ta sẽ là người lựa chọn cho mình cách sống như thế nào. Những điều tôi nghĩ trong đầu là những suy nghĩ cao và xa hơn những thứ ngớ ngẩn tôi viết trong bài thi tốt nghiệp môn văn. Nếu tôi viết những thứ này vào phần bài làm ngớ ngẩn của cái đề bài ngớ ngẩn đó, tôi sẽ chả có điểm nào. Không hiểu vì cái lẽ ngớ ngẩn nào mà cái đề bài ngớ ngẩn đó lại được báo chí tụng ca như thế.

Tôi bắt đầu đọc Afterdark hôm nay.
Afterdark (Afuta Daku) - bản tiếng Anh do Jay Rubin chuyển ngữ - Vintage Book. Mình thích cái bìa này hơn cái bìa của mình.

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

Ghi chép về những thứ chán òm




Tối nay là lượt trận cuối cùng của mùa giải 2010-2011 của English Premier League. Một mùa giải trôi qua như mọi mùa, nhưng đối với tôi, nó vô cùng đáng nhớ và đặc biệt, một phần cũng bởi đây là năm học cuối cùng.

Không biết từ lúc nào tôi có một cái cảm giác về sự tương đồng về mùa bóng này của Arsenal đối với năm học của tôi, một kiểu giác quan thứ sáu thôi, không có bất kỳ một lý do rõ ràng nào, thuần túy cảm giác. Có lẽ cảm giác đó đến với tôi từ đầu năm học.

Khi mà tôi hy vọng vào một mùa bóng thành công của Arsenal, cũng là tôi đang tin tưởng vào một năm học tốt đẹp. Một năm học 12 tốt đẹp đối với tôi có nhiều nghĩa, và tôi cũng có đủ cơ sở để tin như vậy. Tôi cũng có đủ cơ sở để tin vào một năm thành công của Arsenal, khi mà cho tới tận tháng 2, người ta vẫn nghĩ Arsenal có thể giành tới 4 chiếc cúp.

Thế mà bây giờ, Arsenal đang lết bết giành nhau cái hạng 3 EPL với ManCity và phòng truyền thống cũng không có thêm một chiếc cúp nào. Còn tôi bây giờ thì đang ngồi ở nhà, chống cằm, ngáp ngắn ngáp dài nhìn về 2 kì thi phía trước.

Tôi đã tính đủ đường, trong những con đường của tôi, kỳ thi đại học siêu siêu chán và nhảm luôn nằm ở phương án cuối cùng, khi tất cả những kế hoạch trước đó đều đổ bể. Tôi hoàn toàn không mong đợi việc mình sẽ thi đại học lắm, ít nhất là mãi đến tận gần cuối tháng 3. Không phải tôi sợ, tôi chả sợ gì cả, tôi chỉ không thích. Tôi làm không tệ bài thi NTU của mình và đã luôn nghĩ mình sẽ có một vé sang Sing học Vật liệu. Thế nhưng tôi vẫn không đậu vì cái điều quái quỷ gì đó mà tôi cũng chẳng hề biết, chẳng ai nói tôi biết, y hệt như chẳng ai hiểu vì sao van Persie bị đuổi ở Nou Camp và tại sao lại có cái chuyện không tưởng mà Sczcesny và Koscielny làm ở Wembley vào những ngày tháng 2.

Nhưng tôi hiểu, mùa bóng đã khép lại, còn cuộc phiêu lưu của tôi thì vẫn còn tiếp diễn. Hai thứ đó không có gì giống nhau hết, tôi không thể đánh đồng làm một. Tôi vẫn còn những hy vọng của riêng mình và vẫn còn những con đường mới cứ mở ra liên tục.

Cuộc chơi vẫn chưa hết.

_______________________



Hôm qua tôi xem "500 days of Summer", một cái phim mà từ khi Star Movies giới thiệu là sắp chiếu, tôi cứ nhấp nha nhấp nhổm muốn xem.

Rõ ràng rành rành đó là một phim hài, dễ thương, với Joseph Gordon-Levitt (Tom) và Zooey Deschanel (Summer) (thiệt tình tôi muốn xem cũng vì khoái Joseph Gordon-Levitt trong Inception). Phim làm tôi cười được, cười nhẹ nhàng, vui vẻ, sảng khoái. Ít nhất là cho tới khi gần hết phim.

Thế nhưng, khi xem tới gần hết phim, khi Summer làm đám cưới, trong khi còn lại gần ba mươi ngày nữa mới đến cái mốc "500 days", tôi tự hỏi, người ta còn có thể kể cái gì nữa cho tôi trong câu chuyện này. Cái kết khiến tôi khá bất ngờ.

Tôi phải công nhận đây là một phim hay, không nhảm nhí, không cường điệu, không ba xạo, tuy thế, tôi không thích. Tôi không thích cái kết cục, không thích cái tình thế của Tom. Những thứ không thích đó không tránh được, vì nó thực quá.

Khi xem phim này, tôi thực sự không nghĩ tới ai cả, nó không gợi cho tôi về bất kỳ ai cả. Chỉ có con số đếm "500" làm tôi nhớ lại ngày trước tôi với bạn đếm số ngày của chúng ta. Tới một ngày, bạn phát chán, không thèm đếm nữa, nhưng tôi thì vẫn cứ đếm. Rồi cũng tới một ngày tôi cũng phát chán. Rồi cái ngày tôi quyết định bỏ hình ảnh của bạn ra khỏi đầu tôi, tôi cũng chả cần biết (và tới giờ cũng chả cần nhớ) hôm đó là ngày thứ hai trăm mấy. Chỉ có gợi thế thôi, chứ phim này thật sự không gợi cho tôi về ai cụ thể hết.

Tôi nhận ra trong cuộc đời có rất nhiều thứ chúng ta không thích. Đúng thế, không ai thích được hết tất cả mọi khía cạnh của cuộc đời. Không thích nhưng không tránh được, vì nó là bản chất rồi.

Tôi cũng nhận ra rằng, bị đặt một cách thụ động vào những điều không thích dù sao cũng dễ chịu hơn là phải chủ động làm điều mình không thích. Chủ động là đã có quyền được lựa chọn, hoặc làm hoặc không, nếu làm thì hoặc qua loa, hoặc cẩn thận, và phải chịu trách nhiệm về việc mình làm. Cái việc phải chịu trách nhiệm về việc mình làm mà mình không hề thích nó khiến tôi thấy phát ốm.

Nhưng tôi cũng thấy được nếu ai cũng làm toàn điều mình thích thì sẽ tới lượt cái xã hội này phát ốm. Phải có sự cân bằng trong việc làm những điều mình thích và (tự nguyện cũng như bắt buộc) làm những điều mình không thích chút nào. Nói ra thì cao cả nhưng nó thật sự là như vậy, chỉ có như vậy mới không làm tổn thương những người khác, tổn thương cái xã hội, cái nền văn mình và cái hành tinh này.


(ghi chép thế này không vụn lắm nhưng cứ thích để vào "Ghi chép vụn" - chả tổn thương ai cả)

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Bài hát của các tiên hay là những điều cô gái ấy đã nói

Ôi, các người đi đâu đó,
Mà trở về trễ thế này?
Dòng sông đang chảy,
Tất cả các vì sao đang rực sáng!
(Bài hát của các Tiên trên cây - Tolkien)


Tôi đọc hết The Hobbit (bản tiếng Việt "Anh chàng Hobbit" của Nhã Nam - Nguyên Tâm dịch) và xem lại The Fellowship of the Ring lần thứ hai. Lần đầu tiên tôi luyện cả bộ phim 3 phần của Chúa Nhẫn là vào hè năm lớp 10 lên 11, có nghĩa là cách đây gần hai năm rồi, theo lời gợi ý của chị Bảo Quyên, đĩa cũng do Bảo Quyên cho mượn. Lần đó tôi xem như thưởng lãm, như gió nhẹ thổi qua mặt, chỉ thấy hay thôi chả thấy gì.

Lần xem lại này, đối với tôi, mới là một trải nghiệm tuyệt vời. Không phải tới bây giờ, tôi mới phát hiện ra rằng thằng Thanh Long ngồi kế bên tôi hai năm nay có cùng với tôi nhiều sở thích như vậy: nó sinh sau tôi hai ngày, chơi cùng một loại game, xem cùng một loại phim, cùng mê một đội bóng và hơn nữa, nó lại là một thằng fan của Chúa Nhẫn. Tôi không thể tự gọi mình là fan của Chúa Nhẫn (ít nhất là cách đây một tháng), vì lần xem Chúa Nhẫn đầu tiên tôi hoàn toàn không thể nắm được nội dung truyện, cũng chả buồn tìm tòi, tôi chỉ thấy nó hay, một cái hay vô cùng lớt phớt, điều duy nhất đọng lại trong tâm trí tôi là phong cảnh đẹp tuyệt vời quay tại New Zealand và cái nhạc phim có vẻ hay hay.

Cơn sốt Chúa Nhẫn trở lại gần đây, khi tôi nhận ra nhạc phim Chúa Nhẫn không chỉ "có vẻ hay hay" mà là siêu hay, cực kỳ hay. Nhạc phim do Howard Shore cùng với Enya cộng tác, thực sự là những tác phẩm nghệ thuật để đời. Ý muốn đọc nguyên tác truyện của Tolkien thì đã manh nha từ lâu rồi, từ khi tôi còn nghe chị Bảo Quyên suốt ngày bảo phải đọc Lord of the Rings vì đó là một trong các tác phẩm Anh ngữ hay nhất mọi thời đại với thứ ngôn từ đẹp nhất của tiếng Anh được viết trong đó và vì  (như tôi tìm hiểu được) Tolkien là một nhà ngôn ngữ học đại tài, giáo sư Rawlinson and Bosworth về ngôn ngữ Anglo-Saxon của đại học Oxford, người sáng chế ra một họ ngôn ngữ Tiên (Elvish) cho các trước tác của mình.

Khi mà phải nhốt mình trong ngục tù của những điều tầm thường và nhàm chán, điều duy nhất tôi muốn làm là được thoát ra và bay đi chơi. Thế là ý định chờ lúc rảnh rỗi để đọc The Hobbit của tôi bị phá sản hoàn toàn, tôi quyết định phải đọc cuốn đó trong những ngày như thế này. The Hobbit không phải như Harry Potter 7, quyển sách cuốn hút tôi đọc từ sáng tới chiều trong những ngày thi học kỳ 2, mặc dù cũng là đọc lại lần hai. The Hobbit là một quyển sách hay kiểu khác, trong đó có những điều nhẹ nhàng, có những giấc mơ và cả những điều mạnh mẽ. Câu chuyện của Bilbo Baggins sống ở Đáy Túi - Gầm Đồi (tôi thích bản dịch này của Nguyên Tâm - một bản dịch hay, gọn và giọng văn phù hợp) như một khúc mở đầu (prelude) cho 3 tập Chúa Nhẫn tiếp theo (chưa đọc). Một quyển sách nhỏ, kể về một chuyến phiêu lưu gồm 14 người - 1 Hobbit và 13 người lùn (kéo dài hơn 1 năm trời, qua một đoạn đường dài) là một lời giới thiệu về những người Hobbit ở Shire, về những phẩm chất đáng quý của các Hobbit dòng họ Baggins, trước khi đến cuộc phiêu lưu lớn hơn (một chút) của Frodo Baggins trong 3 quyển sách sau. 

Xem The Hobbit xong, khi xem lại The Fellowship of the Ring, tôi nhận thấy mình hiểu thêm rất nhiều thứ, mà nếu không đọc The Hobbit trước, chắc chắn tôi sẽ không để ý và không hiểu được. Đó là cảnh đầu tiên Gandalf xuất hiện, lão đã hát bài The Road Goes Ever On của Bilbo sáng tác lúc anh chàng còn trẻ, khi sắp về tới nhà sau chuyến đi của mình. Rồi cảnh Gandalf và Bilbo ngồi hút thuốc và nhả khói thành vòng tròn, đó chính là lặp lại y chang cảnh đầu tiên hai người gặp nhau khi Gandalf đến Hobbitton tìm Bilbo trong The Hobbit. Rồi cảnh cái bản đồ nằm trên bàn của Bilbo ở ngôi nhà Đáy Túi (Bag End), đó chính là bản đồ các chú lùn mang tới khi thuê Bilbo đi phiêu lưu cùng họ, hay là quyển sách There And Back Again do Bilbo viết về cuộc phiêu lưu của mình mà Frodo đọc được khi ở Rivendell của Elrond, chính là quyển The Hobbit của Tolkien được viết lại ở ngôi thứ nhất.

Tôi rất thích những bài hát của các Tiên (tiếng Anh là Elf ấy), những người được Tolkien miêu tả là "cứ cười và hát ở trên cây những điều mà các bạn cho là vô nghĩa. Điều đó thì họ chẳng quan tâm; họ sẽ chỉ càng cười nhiều thêm nếu các bạn bảo họ như thế. Tất nhiên họ là các tiên rồi.". Xem The Fellowship of the Ring tôi mới được tận tai nghe tiếng hát của các Tiên là như thế nào, dĩ nhiên đó cũng chỉ là sáng tạo của Howard Shore, Enya và Peter Jackson thôi. "Tiếng hát của các Tiên đâu phải là một cái gì đó có thể bỏ qua vào tháng Sáu dưới các vì sao, nhất là khi các bạn thích những thứ như vậy". Giọng của Enya quả là một cái giọng đầy chất Elvish, nhiều khi nghe Enya hát May it be, tôi cứ nghĩ Enya hẳn phải là elf, chứ không phải là người. Nếu các bạn có xem The Fellowship of the Ring, hãy chú ý cảnh Aragorn và Arwen vừa nói tiếng Tiên (không biết là Quenya hay Sindarin) vừa hôn nhau ở Rivendell trên nền nhạc Aníron Enya hát hay chú ý bài hát tiếc thương Gandalf của các Tiên ở Lothlórien (không thấy mặt các tiên đâu, có lẽ họ đứng trên cây mà hát), đó chính là những gì tôi cảm nhận được về tiếng hát của các tiên.

Tôi sẽ xem tiếp The Two Towers và dĩ nhiên là The Return of The King, nhưng không phải bây giờ, những ngày nghỉ đang sắp hết, tiếp tục phải trở lại với những điều nhàm chán. Tôi sẽ có những điều khác để giết cơn nhàm chán của mình, nhưng đó không phải là Chúa Nhẫn, tôi sẽ để dành lại cho những dịp khác.

Cảm ơn Tolkien, ông đã chia sẻ thế giới của mình cho tất cả mọi người. 

You walk a lonely road
Oh, how far you are from home
Mornié utúlié
Believe and you will find your way
Mornié alantié 
A promise lives within you now


Chàng đi một mình trên con đường
Ôi, chàng đang xa nhà biết mấy.
Bóng tối đã đổ xuống
Vững tin và chàng sẽ tìm ra phương hướng
Bóng tối đã tiêu tan
Một lời hứa sống mãi trong trái tim chàng

(May it be - Enya)

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011

Đây là hương và đây là hoa

Đến đây, ta sẽ cho ngươi biết
Thế nào là hương và thế nào là hoa.

Ập vào trong thành phố
Tràn vào những ngôi nhà
Bừng lên như là lửa
Vang lên như khúc ca
Của những con thiên nga
Sắp chết.

Những gì mềm mại
Ta để lại cho ngươi
Những gì mát mẻ
Những gì đẹp đẽ
Ta cũng để lại cho ngươi
Với ta, chỉ cần mang đi hai thứ
Một thứ là hương và hai thứ là hoa.

Ta chi cho ngươi
Nhưng ngươi nào hiểu được
Dẫu cho ngươi là cá
Dẫu cho ngươi là chim
Ngươi cũng chẳng hiểu được
Ta để cho bàn tay
Hòa vào trong nước ấm
Ta để cho ngón tay
Nhúng ngập trong chất mật
Những gì ấm áp
Những gì ngọt ngào
Chỉ có ta là biết.

Các ngươi mải miết
Làm những điều khờ dại bên kia đường
Chẳng hề biết bên này
Có một vầng dương
Đang tỏa rạng .

Đến đây rồi các ngươi cũng chẳng thể thấy
Thế nào là hương và thế nào là hoa
Ta chỉ còn biết lẩm nhẩm
Giá các ngươi là hương
và giá các ngươi là hoa
Vì  những điều đó
Chỉ có ta và hương và hoa
là biết.


_____________________

Mình bị nhiễm ba cái tranh Orientalism lung linh lộng lẫy của Ingres và Gérôme. Rồi còn coi cả 1 cái phim vô cùng yên sỹ phi lý thuần nữa.

La Grande Odalisque - Jean August Dominique Ingres

Kèm bức tranh vô cùng nổi tiếng của Ingres nhé.